INSURANCE INFORMATION CENTER
INSURANCE INFORMATION CENTER
Trang Chủ | Cá nhân | Đăng kí | Đề tài mới | Thành viên |
Tìm kiếm
| Trợ giúp
Tên đăng nhập
   Mật khẩu
Lưu mật khẩu
 Diễn Đàn Chính
 GÓC NGHIÊN CỨU BẢO HỂM
 Bảo hiểm thương mại
 Đánh giá và dự báo TTBHVN
 Đề tài mới  Trả lời đề tài
 In đề tài
Tác giả Quay lại Đề Tài Tiếp tục  

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Đã gởi - 10/10/2005 :  19:15:57  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Gởi tới tienhung một tin bằng Yahoo Message  Trả lời trích đoạn
Hãy đánh gia và dự báo tình hình TTBHVN 1993-nay và dự báo cho thời gian sắp tới

Tất cả vì sự phát triển của ngành Bảo hiểm Việt Nam!

nguyenminhcuong
Thành Viên Mới

Guinea
2 bài gởi

Posted - 12/10/2005 :  14:18:11  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
ngay 8 thang 9 . Ngan hang Phat trien chau A ( ADB) cong bo ban cap nhat " trien vong phat trien chau A" nam 2005.Tai lieu du doan , toc do tang truong kinh te cua chau A se tiep tuc duoc duy tri o muc 6,6% trong 2 nam 2005 va 2006 nhung o trong tinh trang khong on dinh vi gia dau tang cao voi mot so cac rui ro dang xuat hien ro rang hon.
ADB dua ra du doan , ty le tang truong cua khu vuc Dong Nam A giam tu 5,4% xuong con 5% trong nam 2005 va tu 5,6% xuong con 5,4% trong nam 2006 .Su suy giam ve tang truong cua khu vuc do anh huong cua suy giam nen kinh te Philippines, Malaysia va Thailan.Tuy nhien , toc do tang truong chung cua khu vuc phan nao duoc bu dap boi nen kinh te Viet Nam van duy tri duoc toc do tang truong cao (7,6% nam 2005 va 7,6% nam 2006 _ khong thay doi so voi du doan truoc day) va moi truong dau tu duoc cai thien tai Indonesia.
va theo kinh nghiem , khi nen kinh te tang truong 1% thi doanh thu hoat dong bao hiem tang truong 4% nen em co the du doan vi tri cua Viet nam trong bang xep hang ve doanh thu bao hiem se van tiep tuc tien trien tot va se co nhung thay doi bat ngo, Con ve thu hang so voi cac nuoc trong khu vuc va tren the gioi thi hien tai em van chua co can cu de xac dinh.
Vua qua con bao Katrina da gay chan dong lon cho toan the gioi , chinh dieu do se tac dong manh den tam ly cua nguoi dan ve vai tro quan trong cua bao hiem doi voi ho....




nguyenminhcuong
nganhang 9 k28
daihoc kinhte

Lên đầu trang

huynhthienloc
Thành Viên Mới

3 bài gởi

Posted - 19/10/2005 :  14:16:31  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
Tổng quát tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 1993-nay như sau :
Năm 1993 : thị trường BHVN chỉ có độc nhất 1 công ty bảo hiểm là Bảo Việt
Năm 1994 : chi nhánh Bảo Việt tại Tp Hồ Chí Minh tách ra thành lập công ty Bảo hiểm Tp Hồ Chí Minh, gọi tắt là Bảo Minh. Đánh dấu sự chấm dứt độc quyền trong ngành bảo hiểm.
Từ năm 1995 tuy có sự xuất hiện của Bảo Minh và một số công ty khác nhưng Bảo Việt vẫn còn nắm giữ thị phần rất lớn 83,07%. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy đã có sự chia xẻ thị phần của Bảo Việt cho các công ty khác. Bảo Minh tuy mới ra đời nhưng thị phần năm 1995 đã chiếm 15,4%. PJICO, Bảo Long nắm giữ 1,53% còn lại
Giai đoạn 1995-nay : tình hình thị trường bảo hiểm VN chuyển biến tích cực, với sự ra đời của các loại hình công ty bảo hiểm, ngày càng đa dạng với nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc khách hàng, chất lượng cũng đã tăng đáng kể. Tình hình chung của thị trường bảo hiểm 3 năm gần đây được tổng kết trong các số liệu sau :

Thị phần Bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam năm 2001,2002,2003
Công ty
Bảo Việt 2001:45.975(%) 2002:40.39(%)2003:41.68(%)
BM_CMG 23.774 28.08 23.52
PJICO 5.759 5.65 9.27
PVIC 12.888 14.50 13.82
PTI 3.808 3.70 4.01
VIA 1.505 1.41 1.58
ALLIANZ 2.212 2.62 1.66
VIET_UC 0.533 0.56 0.43
Bảo Long 1.063 1.09 1.49
UIC 2.483 2.00 2.23
Nông nghiệp 0.05
Bảo Ngân (IAI) 0.06
SAMSUNGVINA 0.2

Thị phần bảo hiểm của các công ty Bảo hiểm nhân thọ
Công ty 2002(%) 2003(%) 2004(Hợp đồng đang có hiệu lực)(%)
AIA 5 5.92 4.21
Bảo Minh 2 2.34 1.81
Bảo Việt 46 38.09 34.09
Manulfe 12 8.13 6.36
Prudential 35 45.52 33.53
Bảo hiểm nhân thọ Bảo Việt triển khai năm 1997, 1999 manulfe xuất hiện,Prudential xuất hiện
Số đại lý mới năm 2002
Công ty Đại lý mới Tổng đại lý
AIA 6,569.00 4,600.00
Bảo Minh 5,372.00 4,565.00
Bảo Việt 7,789.00 17,860.00
Manulfe 7,938.00 6,347.00
Prudential 18,569.00 36,398.00
Tổng 46,187.00 69,850.00
Tốc độ phát triển đại lý năm 2002
Công ty 2001 2002 Tốc độ tăng trưởng(%)
AIA 6,158.00 4,680.00 -24
Bảo Minh 1,502.00 4,565.00 203.93
Bảo Việt 12,800.00 17,860.00 39.53
Manulfe 4,630.00 6,347.00 37.08
Prudential 17,210.00 36,398.00 111.49
Tổng 42,300.00 69,480.00 64.25

Với cái nhìn khách quan về tình hình BHVN, thông qua số liệu thống kê trên, cùng với đánh giá của tổ chức quốc tế Swissre về sự phát triển của BHVN,ta có thể thấy được sự phát triển khá vững chắc của BHVN, cùng với sự phát triển của nền kinh tế VN,ngày càng tăng với tốc độ tăng GDP ổn định hàng năm.Và trong thời gian tới, VN đang nỗ lực gia nhập các tổ chức thương mại toàn cầu nhu WTO. Ta có thể thấy được một sự phát triển đáng kể của toàn bộ nền kinh tế nói chung và sự phát triển của BHVN nói riêng, tuy nhiên có thể tận dụng được những lợi thế của những thuận lợi nói trên, ta cần một hệ thống quản lý quản lý hiện đại, để có thể tận dụng cơ hội phát triển,tránh đuợc những mặt tiêu cực đáng tiếc của việc hội nhập mà lý do là sự thiếu hểu biết về luật chơi cua các tổ chức toàn cầu.

Lên đầu trang

pvu
Thành Viên Mới

8 bài gởi

Posted - 22/10/2005 :  17:09:59  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

A> THỰC TRẠNG TRỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM :

1> QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN :

1.1> Qúa trình phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm :

Bảo hiển thương mại vẫn được coi là một ngành mới ở Việt NAM ,mặc dù xuất hiện ở nước ta khá lâu. Vào những năm 30 của thế kỷ trước , các đại lý bảo hiểm hoả hoạn và nhân thọ của các công ty bảo hiểm Pháp đã ký được những hợp đồng bảo hiểm đầu tiên ở nước ta , nhưng dưới thời pháp thuộc không có một công ty bảo hiểm nào được thành lập .
Ngày 15/01/1965 , Công ty bảo hiểm VIỆT nam được thành lập theo quyết định 179 CP ngày 17/12/1964 của thủ tướng chính phủ .Nhưng một thời gian dài 1965-1975 , trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống xâm lược, ở hai miền Nam-Bắc nên hoạt động bảo hiểm chủ yếu đối với tàu biển , hàng hoá xuất nhập khẩu và làm đại lý giám định cho các công ty bảo hiểm các nƯỚC XHCN.Miền Nam được giải phóng , chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam quyết định giả tán 52 công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm hoạt đọng dưới chế độ cũ , thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm miền Nam Việt Nam (BaViNa).Năm 1976, BAVINA được sáp nhập và trở thành một chi nhánh của BẢO VIỆT ở TP.HCM. Từ năm 1975 đến trước Đại hội Đảng VI năm 1986 ,thêm một số loại hình bảo hiểm được triển khai ở Việt NAM như bảo hiểm tai nạn hành khách , bảo hiểm hàng không và thí điểm bảo hiểm nông nghiệp . Tuy nhiên , doanh thu phí bảo hiểm chỉ ở mức vài trăm triệu động (tiền thời gian đó ) chủ yếu vẫn từ bảo hiểm tàu biển và hàng hoá xuất nhập khẩu. Ngay18/12/1993 Chính Phủ ban hành nghi định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm . Thị trường bảo hiểm Việt Nam thực sự thay đổi từ khi xuất hiện hai doanh nghiệp bảo hiểm mới : đó là việc tách chi nhánh BẢO Việt ở TP.HCM thành Công ty Bảo hiểm TP.HCM (BẢO MINH ) và sự ra đời của Công ty tái bảo hiểm Quốc gia (VINARE). Tiếp theo đó thị trườn ngày càng đa dạng hoá và trở neensooi động với sự ra đời của các công ty bảo hiểm cổ phần :Công ty Cổ phần Bảo hiểm PETROLIMEX (Pjico)và Công ty Cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long ).Với mục tiêu hội nhập quốc tế , mở cửa thị trường với các nhà đầu tư nước ngoài , Nhà nuwocsđã cấp phép thành lập những liên doanh đầu tiên trong lĩnh vực bảo hiểm như Công TY liên doanh Môi giới Bảo hiểm Aon-Inchinbrok (cuối 1994)và Công ty Liên doanh Bảo hiểm Quốc tế Việt NAM (VIA) năm 1996.Trong năm 1996 Bảo Việt đã đưa ra thị trường dịch vụ Bảo hiểm Nhân thọ đầu tiên ở Việt Nam.Tiếp theo là sự ra đời của các công ty bảo hiểm chuyên ngành:Công ty Bảo hiểm Dầu khi Việt Nam (PVIC) năm 1996, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)của ngành Bưu chính năm 1997 và trong năm này công ty liên doanh thứ ba là Công ty BẢO hiểm Liên hiệp Việt Nam (UIC) được thàng lập .Năm 1999 thị trường dường như bùng nổ với sự ra đời liên tiếp của 5 công ty bảo hiểm , trong đó có hai liên doanh là :Bảo Minh-CMG và Công ty liên doanh Bảo hiểm VIỆT ÚC , 3 công ty 100% vốn nước ngoài gồm Allianz-AGF (tháng 9/2005 đã rut khỏi VN ...), Prodential và Chinfon –Manulife . Năm 2000 công ty bảo hiểm AIA đi vào hoạt động và năm 2001 là sự xuất hiện của công ty bảo hiểm Groupama.Tính đến năm 2005 đã có 32 doanh nghiệp bảo hiểm được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam . Ngoài ra trên thị trường còn có khoảng trên 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài. Sự góp mặt của các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài và các doanh nghiệp bảo hiểm một bên là đối tác VN một bên là đối tác từ các nước có nền tài chính và dịch vụ phát triển , đã tạo cho thị trường bảo hiểm VNmột sắc thái mới ,diện mạo mới , năng động hơn ,cạnh tranh đã là động lực thúc đẩy sự năng động của mọi công ty.Và đây cũn là bối cảnh cần có sự ra đời của các Hiệp hội Bảo hiểm Việt nam (Hội nghề nghiệp), cầu nối giữa các doanh nghiệp Hội viên với nhau , giữa các doanh nghiệp hội viên với cơ quản lý Nhà nước về bảo hiểm , tiếng nói đại diện của các doanh nghiệp bảo hiểm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền .Chỉ trong vòng 11 năm, từ năm 1995 tới 2005,doanh thu phi bao hiểm tăng mạnh,với tốc độ cao!


DANH SÁCH CÁC DOANH NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
(tính đến ngày 30/11/2003)
(Nguoàn: Boä Taøi Chính: http://www.mof.gov)
TT -Tên công ty- Năm cấp giấy phép- Vốn điều lệ- Hình thức sở hữu- Lĩnh vựchoạt động
1. / Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam (BAOVIET)/ 1964 /586 tỷ đồng/ Nhà nước /Phi nhân thọ /Nhân thọ
2. / Công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE)/ 1994 /40 tỷ đồng Nhà nước/ Tái bảo hiểm
3. / Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (BAOMINH)/ 1994/ 40 tỷ đồng/ Nhà nước/ Phi nhân thọ
4. / Công ty liên doanh tư vấn dịch vụ bảo hiểm và tái bảo hiểm Bảo việt - Aon/ 1994/ 250.000 USD/ Liên doanh/ Môi giới bảo hiểm
5. / Công ty Cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (BAOLONG)/ 1995/ 70 tỷ đồng/ Cổ phần /Phi nhân thọ
6./ Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)/ 1995/ 55 tỷ đồng/ Cổ phần /Phi nhân thọ
7. / Công ty bảo hiểm dầu khí (PVI)/ 1996 /20 tỷ đồng/ Nhà nước/ Phi nhân thọ
8. / Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam (VIA)/ 1996/ 6 triệu USD/ Liên doanh/ Phi nhân thọ
9. / Công ty liên doanh bảo hiểm liên hiệp (UIC)/ 1997 /5 triệu USD/ Liên doanh/ Phi nhân thọ
10. / Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI)/ 1998/ 70 tỷ đồng/ Cổ phần/ Phi nhân thọ
11. / Công ty liên doanh bảo hiểm Việt - Úc (BIDV-QBE)/ 1999/ 4 triệu USD/ Liên doanh/ Phi nhân thọ
12./ Công ty TNHH bảo hiểm Allianz (Việt Nam)/ 1999/ 6,295 triệu USD 100% vốn đầu tư nước ngoài/ Phi nhân thọ
13. / Công ty TNHH Manulife (Việt Nam)/ 1999 /140 tỷ đồng/ 100% vốn đầu tư nước ngoài/ Nhân thọ
14. / Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG /1999/ 10 triệu USD/ Liên doanh/ Nhân thọ
15. / Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam/ 1999/ 75 triệu USD/ 100% vốn đầu tư nước ngoài/ Nhân thọ
16. / Công ty TNHH bảo hiểm quốc tế Mỹ (Việt Nam) (AIA)/ 2000/ 25 triệu USD/ 100% vốn đầu tư nước ngoài/ Nhân thọ
17. / Công ty bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam/ 2001/ 5 triệu USD/ 100% vốn đầu tư nước ngoài/ Phi nhân thọ
18./ Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Việt Quốc/ 2001 /6 tỷ đồng/ Cổ phần/ Môi giới bảo hiểm
19. / Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Samsung-Vina /2002/ 5 triệu USD/ Liên doanh /Phi nhân thọ
20. / Công ty TNHH bảo hiểm châu á - Ngân hàng công thương (IAI)/ 2002/ 6 triệu USD/ Liên doanh/ Phi nhân thọ
21. / Công ty môi giới bảo hiểm Grassavoye/ 2003/ 300.000 USD/ 100% vốn đầu tư nước ngoài /Môi giới bảo hiểm
22. / Công ty Cổ phần bảo hiểm Viễn Đông /2003/ 72 tỷ đồng/ Cổ phần Phi nhân thọ
23. / Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Á Đông/ 2003 /6 tỷ đồng/ Cổ phần/ Môi giới bảo hiểm
24. / Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt/ 2003 /6 tỷ đồng/ Cổ phần Môi giới bảo hiểm


SỰ PHAÙT TRIEÅN DOANH NGHIỆP BẢO HIEÅM THEO LÓNH VÖÏC KINH DOANH Ở VIỆT NAM TỪ 1993 – 2003
















1,2>Các sản phẩm bảo hiểm:

Năm 2003 ,hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đã đăng ký với Bộ tài chính để tăng thêm sản phẩm mới,Trong hơn 500 sản phẩm bảo hiểm hiện nay thì có gần 200 sản phẩm bảo hiểm con người , trên 250 sản phẩm bảo hiểm tài sản và gần 100 sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm.

Bảo hiểm nhân thọ :

Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được khách hàng ưu thích nhất vẫn là bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp. Tuy nhiên dưói áp lực gay gắt các công ty bảo hiểm nhân thọ luôn tự cố gắng làm mới mình.Các sản phẩm luôn tạo tạo sự khác biệt để lôi kéo sự chú ý của khách hàng dù rằng bản chất vẫn là bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .Ngoài các công ty bảo hiểm nhân thọ được liệt kê ở trên,sản phẩm bảo hiểm nhân thọ còn được cung cấp bởi các ngân hàng thương mại.

Bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

Với hơn 300 sản phẩm trên thị trường,BHPNT có thể nói là phát triển tốt.Tuy nhiên, trong nhiều kĩnh vực các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn đứng ngoài cuộc như :bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp như theo lời của chủ Tịch hiệp hội bảo hiểm Việt Nam:”Tôi cũng có thể nói một cách đau đơn là trong công cuộc dập dịch vừa qua lớn như thế thì các công ty bảo hiểm lại đứng ngoài. Từ điều này đã nói lên các doanh nghiệp bảo hiểm chưa biết phát triển sản phẩm “
Tiếp theo với nghị định bắt buộc chủ xe cơ giới mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự với người thứ ba,chính phủ sẽ sớm ban hành nghị định bắt buộc mua bảo hiểm cháy nỗ , Đây là một điều kiện hết sức thuận lợi cho các doanh nghiệp có cung ứng các loại sản phẩm này .
Nhận thức sự rủi ro của người gởi tiền vào ngân hàng , ngân hàng nhà nước, đã yêu cầu các ngân hàng thương mại phải mua bảo hiểm tiền gởi .Cấp tín dụng cũng gặp phải rủi ro rất lớn . Đó là rủi ro thanh toán , rủi ro lãi suất , rủi ro tỷ giá . Ngân hàng Nhà nước thành lập công ty Bảo hiểm chuyên ngành chuyên bảo hiểm rủi ro tín dụng trên cơ sở sáp nhập Bảo hiểm tiền gởi và các công ty mua bán nợ của các Ngân hàng Thương Mại hiện nay .

1.3>Đóng góp của bảo hiểm vào nền kinh tế :

Năm 2003, các doanh ngiệp bảo hiểm đã đóng góp vào Ngân sách Nhà nước gần 500 tỷ đồng, đầu tư trở lại nền kinh tế quốc dân trên 15.000 tỷ đồng. Ngoài ra , các doanh nghiệp bảo hiểm cho đén nay đã thu hút được trên 7.000 cán bộ công nhân viên vào làm việc,114 ngàn đại lý bảo hiểm trong đó có 20 ngàn đại lý BHPNT và 94 ngàn BHNT chuyên nghieejcùng một số lượng lớn đại lý bán chuyên nghiệp. Đây là đóng góp hữu hiệu của ngàng bảo hiểm trong bối cảnh số lượng người chưa có việc làm ở nước ta đang có xu hướng tăng lên.VƠí sự phát triển đó ,nghề tư vấn bảo hiểm có tên trong danh mục nghề nghiệp ở nước ta.
Mỗi năm bình quân các doanh nghiệp bảo hiểm đã chi 1.200 tỷ đồng để bồi thường các tổ chức,các nhân tham gia bảo hiểm không may gặp thiên tai, tai nạn bất ngờ gây thiệt hại.Nhiều tổ chức, đơn vị nếu không nhận tiền boòi thường bảo hiểm sẽ lâm vào tình trạng phá sản , thua lỗ hoặc suất .Nhiều vụ bồi thường lớn giá trị hàng chục tỷ đồng như việc bồi thường cho ngư dân các tỉnh phía nam bị thiệt hại trong cơn bảo LINDA 52 tỷ đồng ;vụ bồi thường tổn thất máy bay của Hãng hàng không Quốc gia Việt NAM tại Campuchia.;vụ bồi thường tổn thất của các hãng thănm dò và khai thác dầu khí , tổn thất đắm tàu LụcNam 1triệu Đô la, cháy kho xăng B12.Mỗi năm có hàng triệu người tham gia bảo hiểm tan nạn con người không may bị nạn đã nhận tiền bảo hiểm từ các doanh nghiệp bảo hiểm.
Kết quả bảo hiểm phi nhân thọ không chỉ dừng ở số lượng người, tài sản và trách nhiệm được bảo hiểm mà chính sự ổn định về sản xuất kinh doanh mà hoạt động này mang lại cho đời sống kinh tế -xã hội.Trong rất nhiều trường hợp,hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã trở thành lá chắn về kinh tế cho các tổ chức đơn vị, giúp ngân sách nhà nước không bị động, không phải chi hoặc giảm chi những khoảng bất ngờ như các trường hợp lũ lụt trên diện rộng .

2> TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM TRONG NĂM 2004.

2.1>BẢO HIỂM NHÂN THỌ :

Trong 6 tháng đầu năm 2004, đã có những nhân tố không mấy thuận lợi cho sự phát triển của ngành bảo hiểm nhân thọ như giá cả biến động ,lãi suất ngân hàng ,giá vàng và ngoại tệ biến đông…( mời các bạn đọc bài “lợi thế của ngân hàng trong kinh doanh bảo hiểm” đã dăng trên diễn đàn!!!!!).Tuy nhiên doanh thu phí bảo hiểm của các doanh nghiệp BHNT đạt 3.624.510,52 triệu đồng ,tăng 23,89% so với cùng kỳ năm 2003 .Tuy nhiên , so với tốc độ tăng trưởng của các năm trước thì tốc độ tăng trướng của năm nay là chậm và thị trưởng bảo hiểm nhân thọ đang có dấu hiệu của sự lão hoá .
Về số lượng hợp đồng BH có hiệu lực cuối kỳ đạt 6.065.008 howpwj đồng tăng 25,15 so với cùng kì năm 2003.
Về số lượng hợp đồng khai thác mới ,giảm 11,25% so với cùng kỳ năm 2003.Trên thị trường chỉ có 3 doanh nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng dương là BẢO MINH-CMG 33,67%;BẢO VIỆT nhân thọ 7,95% ; AIA 4.08% ;các doanh nghiệp còn lại có sự sụt giảm về số hợp đồng khai thác mới .Phí bảo hiểm thực thu của các hợp đồng khai thác mới của toàn thị trường chỉ bằng 96,46% so với cùng kì năm 2003 và bảo Minh –CMG đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất với 46%, tiếp đến là BẢO VIỆT NHÂN THỌ 24% và AIA là 8%,các doanh nghiệp còn lại thì bị sút giảm doanh thu của các hợp đồng khai thác mới .
Xét về thi phần , nói chung vị trí của các doanh nghiệp bảo hiểm không có sự sáo trộn lớn nào Bảo Việt nhân thọ vẫn dẫn đàu thi trường là 43,6% ,kế đến là Prodential chiếm 40,76%,kế tiếp la Manulife , AIA và Bảo MiNH -CMG
Doanh thu

2.2> BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ:

Trong 6 tháng đầu năm 2004,doanh thu phí BHPNT đạt 2.104.269,14 triệu đồng ,tăng14,73% so với cùng kì năm 2003(1.834.028,77 triệu đồng -số liêụ này của PTI).Ngoại trừ và BẢO Minh có sự giảm sút về doanh thu ,các DN BHPNT đều có tốc độ tăng trưởng khá.PJICO vẫn dẫn đầu về thị trường về tốc độ tăng trưởng (115,32%),tiếp đén là Bảo Long (67,67%),Allianz(61,12%). . .
Về thi phần, BẢO vIỆT vẫn duy trì vị trí dẫn đâu thị trường với thị phần 44,35%. PJICO và INSURANCE có sự tăng trưởng cao với thị phần lần lượt là 14,34% và 14,91%.Bảo Minh và VIA sụt giảm về doanh thu ,tốc độ tăng trưởng và thị phần.
Xét theo nghiệp vụ bảo hiểm , ngoại trừ nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt , tất cả các nghiệp vụ BHPNT khác điều có tốc độ tăng trưởng khá ví dụ như Bảo hiểm trách nhiệm tăng 49,39%; BH gián đoạn kinh doanh tăng 28%; BH dầu khí tăng 27,95%;BH cháy nổ tăng 25,27% ;BH mọi rủi ro tăng 22,19%...Đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, mặt dù đã áp dụng các chế độ bắt buộc bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới nhưng tốc độ tăng trưởng không cao chỉ đạt 8,51%.Các doanh nghiệp bảo hiểm có kinh doanh bảo hiểm TNDS xe cơ giới cần chấn chỉnh lại công tác khai thác và giải quyết bồi thường hiện tại đẻ cải thiện tình hình .
Về bồi thương bảo hiểm ,tỷ lệ bồi thường chung của toàn thị trường vẫn duy trì ở mức thấp 29,21%.Về tỷ lệ bồi thường của từng doanh nghiệp, thì GROUPAMA và Bảo Việt Việt Nam (44,23%)là hai doanh nghiệp có tỷ lệ bồi thường cao nhất,tiếp đến là BẢO Long (30,08%)và PJICO(29,6%)còn lại các doanh nghiệp khác có tỷ lệ bồi thường đều thấp .

B> NHỮNG ĐIỄM BẤT CẬP TRÊN THỊ TRƯỜNG BAOR HIÊMR VIỆT NAM:

1> MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP :

Cạnh tranh với các công ty nước ngoài :

Thuế suất thu nhập dành cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khoản 10-25%, trong khi đó doanh nghiệp trong nước là 25%-32%.Thời gian gần đây (cuối năm 2004-đầu năm 2005) đã áp dụng cho toàn thành phần kinh tế với mức thuế chung là 28%. RÕ ràng ưu đãi trong quá khứ này đã làm giảm khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước , đồng thời gốp phần mở rộng thị phần và chiếm lĩnh thị trường bảo hiểm của các công ty nước ngoài . CÁC qui định về chi phí tài chính , chi phí về quảng cáo của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thoáng hơn so với doanh nghiệp trong nước . Đây là điều có lợi cho công ty nước ngoài nhưng theo chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty bảo hiểm VIỆT NAM ,chi phí BHNT năm 2001là 127 tỷ trong tổng doanh thu là 1500 tỷ , trong khi các công ty bảo hiẻm nước ngoài có doanh thu chỉ bằng 1 phần 3 doanh thu BẢO VIỆT nhưng lại chi phí quá 127 tỷ .

Cạnh tranh với các công ty bảo hiểm trong nước :

Tình hình cạnh tranh giữa các công ty, môi giới bảo hiểm diễn biến có chiều hướng phức tạp bởi vi hệ thống luật về hệ thống luật về bảo hiểm chuwa hoàn chỉnh chưa kiểm soát được . Đối với bảo hiểm cháy , BH xây dựng lắp đặt ,cạnh tranh mang tính phi kỷ thuật diễn ra dưới hình thức giăm tỷ lệ phí , tăng hoa hồng , giảm mức khấu trừ ,mở rộng điều kiện điều khoản, đậc biệt là các dịch vụ khai thác từ doanh nghiệp vừa và nhỏ.

2> CÁC CÔNG CỤ TÁI ĐẦU TƯ VÀO NỀN KINH TẾ CÒN THIẾU.

Trong tình hình kinh tế VIỆT NAM hiện nay , với thị trường tài chính còn mới mẽ , thị trường chứng khoán có những bước đi đầu tiên thì veecj đầu tư của ngành bảo hiểm nói chung rất khó khăn, không mang lại hiệu quả cao. Hầu heets các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư bằng cách gởi tiền vào ngân hàng để lấy lãi nên hiệu quả chưa cao.Bảo việt là công ty bảo hiểm đầu tiên ở VIỆT NAM thực hiện đầu tư cho chính mình và thực hiện các chức năng khác của một công ty chứng khoán .
SỐ vốn thực có của toàn thị trường bảo hiểm hiện nay chưa tới 1600 tỷ (năm 2004 là 1515 tỷ), không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao năng lực nhận bảo hiểm phù hợp với mức độ phát triển trung bình của thế giới .

C> XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM .

Trong thời gian tới, cách thức quản lý của Nhà nước sẽ thay đổi theo xu hướng Nhà nước không can thiệp hành chính vào hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm được nhà nước giao vốn . Năm 2004 vừ qua đã chính thức xoá bỏ cơ chế độc quyền bảo hiểm.
Trong thời gian tới , Với dự kiến gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào cuối 2005, chắc chắn cánh của thị trường bảo hiểm sẽ mỡ rộng và nếu các doanh nghiệp Việt Nam không chuẩn bị kĩ sẽ mất đi cạnh tranh trên sân nhà .DO đó các công ty BH cần phát triển vốn điều lệ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh một khi mở của tự do thị trường tài chính tiền tệ .
Dự báo xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt nam với các các laoij hình bảo hiểm với chất lượng cao ,thu hút vốn đầu tư phát triền.Dự đoán số lượng các doanh nghiệp BH tiếp tục phát triển theem thích hợp với thời gian và điệu kiện của tình hình thị trường :doanh thu phí bảo hiểm sẽ tăng từ 1,45%/GDP vào năm 2003 ,2%/GDP(9 tháng đầu năm 2005-ước tính )và 2,65%/GDP năm 2006 và 2,8%-3%/ GDP vào 2010.Trong đó BHNT vẫn chiếm tỷ trọnh lớn và doanh thu phí BHNT và PNHT vẫn tăng với tốc độ cao khoảng 10%/năm .
Các Công ty BH đã , đang và sẽ tiếp tục hợp tác với các ngân hàng để bán BH .Các chương trình hợp tác này sẽ đưa dến nhiều tiện ích như sử dụng thẻ đẻ nộp phí bảo hiểm Qua NH ,hay qua máy ATM hay trích từ các tài khoản ngân hàng …Đồng thời khách hàng cũng có thể được chi trả quyền lợi bảo hiểm trực tiếp vào tài khoản của mình .
Thực ra Ngân hàng muốn liên kết với bảo hiểm không phải vì NH muốn hưởng hoa hồng từ các DV đó nhưng cái mà NH muốn ở đây là Phí BH được lưu cất ở NH (chiếm dụng vốn)và phát triển các DV của NH.Trong tương lai các công ty bảo hiểm lớn sẽ đẻ ra các ngân hàng với những pháp nhân riêng biệt …
SV:Phạm Văn Ưng
Lớp :NH7-K28





Lên đầu trang

nguyenngocthuy
Thành Viên Mới

Vietnam
1 bài gởi

Posted - 26/10/2005 :  00:54:32  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
Đánh giá và dự báo tình hình Thị trường Bảo hiểm Việt Nam
Bảo hiểm là một lĩnh vực không còn xa lạ đối với người Việt Nam, tuy đã hình thành từ lâu, và nở rộ lên trong những năm gần đây nhưng nó vẫn được coi là ngành mới. Bảo hiểm được biết đến nhiều nhưng người dân Việt Nam vẫn chưa có thói quen tham gia các hoạt động bảo hiểm. Nhìn chung thị trường Bảo Hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc.
Qua hơn 10 năm, từ khi NĐ 100 CP ra đời xoá bỏ rào cản độc quyền trong nền kinh tế, thị trường Bảo hiểm Việt Nam cũng dần tiến tới sự tự do hoá các dịch vụ Bảo hiểm. Tính đến tháng 7/2005, thị trường kinh doanh Bảo hiểm đã có 30 doanh nghiệp đã được cấp phép hoạt động, (trong đó có 3 doanh nghiệp chưa chính thức đi vào hoạt động), bao gồm: 3 doanh nghiệp Nhà nước, 10 công ty cổ phần và 16 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (6 doanh nghiệp liên doanh và 11 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài), hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ (8 doanh nghiệp), bảo hiểm phi nhân thọ (15 doanh nghiệp), tái bảo hiểm (1 doanh nghiệp) và môi giới bảo hiểm (6 doanh nghiệp). Ngoài ra, còn có sự góp mặt của hơn 30 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài.
Theo Bộ Tài chính, tổng doanh thu của thị trường trong nửa đầu năm nay mới đạt 7.600 tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2001, khi thị trường luôn đạt mức tăng trưởng 40%/năm. Thị trường bảo hiểm nhân thọ chỉ đạt mức tăng trưởng 13%, thấp hơn 2 lĩnh vực còn lại là phi nhân thọ và đầu tư tài chính.Trong những năm gần đây sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có phần suy giảm đồng thời là sự gia tăng phát triển mạnh củ thị trường bảo hiểm nhân thọ. Sự phát triển như vậy không có gì đáng ngạc nhiện, điều đó chứng minh thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển tiệm cận theo xu hướng chung của thế giới. Với những số liệu của Bộ Tài chính, cùng với tình hình kinh tế xã hội hiện nay, sự tăng trưởng của ngành Bảo hiểm hiện nay chưa đạt yêu cầu. Chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng của ngành Bảo hiểm năm 2005 là 20.2%, nhưng trong 6 tháng đầu năm nay doanh thu phí bảo hiểm chỉ bằng 43.7% kế hoạch năm. Tuy sự phát triển không như mong đợi nhưng vẫn không có chiều hướng đi xuống.
Về lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọ, trong 6 tháng đầu năm doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ uớc đạt 3.919 tỷ đồng, tăng hơn 4.9% so với cùng kì năm 2004. Hiện nay, dẫn đầu thị trường về doanh thu và thị phần là Prudential, chỉ vừa thay thế vị trí của Bảo Việt đã giữ suốt 5 năm liền vào tháng 6 vừa qua.
Về hợp đồng khai thác mới toàn thị trường đạt 313.530 hợp đồng bảo hiểm (giảm 22% so với cùng kì năm ngoái tương ứng là 402.245 hợp đồng), nâng tổng số hợp đồng có hiệu lực trên toàn thị trường lên 3.573.942 hợp đồng. Trong đó Bảo Việt đứng đầu về số lượng hợp đồng khai thác mới (125.893 hợp đồng tương ứng với giá trị 142.84 tỷ đồng) song Prudential với lượng hợp đồng là 113.964 có giá trị tương đương là 318 tỷ đồng.
Bên cạnh đó thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng 12% so với cùng kì năm 2004, tốc độ tăng trưởng chậm lại, các doanh nghiệp trong nước vẫn chiếm thị phần chủ yếu 94.3% trong tổng doanh thu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5.7%. Trong 6 tháng vừa qua các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã giải quyết bồi thường hàng trăm ngàn vụ, với tổng số tiền ước đạt trên 900 tỷ đồng. Trong đó có các vụ tổn thất lớn như: vụ chìm tàu Zhe Hai ước thiệt hại về hàng hoá 2.3 triệu USD, vụ đắm tàu Sea Bee ước thiệt hại tới 2 triệu USD, vụ đâm va giữa tàu Mimosa tàu Trinity uớc thiệt hại lên đến 3.5 triệu USD, vụ cháy nhà máy giấy FAMIRO ước thiệt hại gần 24 tỷ đồng,…
Tình hình kinh tế xã hội có những chuyển biến bất lợi như: chỉ số giá cả ngày càng tăng giá vàng và USD có sự biến động tăng, lạm phát trong thời gian gần đây có những tác động rõ rệt dẫn đến cuộc chạy đua tăng lãi suất của các ngân hàng (1 trong những kênh huy động vốn mạnh trong thị trường tài chính) ảnh hưởng đến sự sụt giảm của các hợp đồng bảo hiểm, do tâm lý của người dân lúc này không còn quan tâm nghĩ nhiều đến việc tham gia bảo hiểm khi họ cảm thấy sự bất lợi khi đồng tiền mất giá.
Song bên cạnh đó có những nhân tố tác động tích cực như: sự góp mặt của các doanh nghiệp bảo hiểm của Mỹ làm tăng sự cạnh tranh, hứa hẹn nhiều sản phẩm mới của ngành Bảo hiểm ra đời. Các doanh nghiệp khác cũng đang cố gắng đưa ra các sản phẩm mới hấp dẫn đồng thời tăng mạnh số lượng đại lý, không ngừng đào tạo tuyển dụng các đại lý,đa dạng hoá các kênh phân phối như ngân hàng, bưu điện, internet, điện thoại.
Tuy tình hình phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam không như kì vọng của kế hoạch do bị cản trở bởi các yếu tố khách quan của nền kinh tế xã hội, nhưng ngành Bảo hiểm vẫn đã và đang phát triển, Việt Nam vẫn là thị trường đầy tiềm năng còn rất nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng đang chờ tiếp cận khai thác.
Nguyễn Ngọc Thủy – Lớp NH7 – K28


ngocthuy
Lên đầu trang

vo_thi_thanh_tam_nh7
Thành Viên Mới

4 bài gởi

Posted - 28/10/2005 :  21:34:57  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn

Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế của 6 tháng đầu năm được đánh giá là không thuận lợi. Doanh thu phí bảo hiểm đạt 7428 tỉ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2004 nhưng chỉ bằng 43,7% kế hoạch năm.
Trong 6 tháng đầu năm 2005, sự tăng trưởng của bảo hiểm nhân thọ đã có phần chậm lại. Điều này kéo theo sự tăng chậm về doanh thu của toàn ngành do sự xuất hiện nhiều sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Sự chững lại của thị trường Bảo Hiểm hiện nay được lý giải bởi lý do là thị trường đã qua thời điểm phát triển nóng và đi vào ổn định.

* Bảo hiểm nhân thọ:đã có sự đổi ngôi
- Chỉ mới cách đây 3 tháng, Bảo hiểm nhân thọ vẫn tuyên bố đang ở vị trí dẫn đầu thị trường cả về doanh thu và thị phần. Tuy nhiên tháng 6/2005, vị trí này đã thuộc về Prudential. Prudential đã vươn lên đứng đầu chiếm 39,9% thị phần. Trong khi đó :
Bảo Việt chiếm 38,4%
Manulife 10,8%
AIA 7,7%
Bảo Minh_CMG 3,2%
- Viêc đầu tư mua Bảo hiểm nhân thọ thu hút 1 lượng vốn rất lớn trong dân cư. Trong đó phí bảo hiểm nhân thọ năm :
2000 mới là 1289 tỉ đồng
2001 2778
2002 4615
2003 6500
2004 8500
Ước tính phí bảo hiểm năm 2005 khoảng 10000 tỉ đồng và sẽ đạt 12000 tỉ đồng vào năm 2006.
- Cũng theo Bộ Tài Chính, số lượng hợp đồng khai thác mới trong tháng 6 đầu năm giảm 22% so với cùng kỳ năm 2004. Kết quả đạt được là 313530 hợp đồng mới trong khi năm 2004 là 402245 hợp đồng.

* Bảo hiểm phi nhân thọ:doanh nghiệp trong nước làm chủ
- Theo Bộ Tài Chính, thị phần của cách doanh nghiệp Bảo hiểm phi nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài giảm từ 7% vào cuối năm ngoái xuống 5,7% vào thời điểm này. Hiện nay có 2 công ty 100% vốn nước ngoài là Alianz (Đức), Groupama (Pháp) và cả 2 chỉ chiếm chưa đến 2% thị phần. Còn riêng Bảo Việt, Bảo Minh và công ty dầu khí nắm tới 3/4 thị phần. Tất nhiên, tình hình chắc chắn sẽ có thay đổi đáng kể khi có thêm "đại gia" nước ngoài nhảy vào lĩnh vực này. Như AIG, 1 trong những tập đoàn tài chính bảo hiểm lớn của Mỹ, dự kiến sẽ "nhập cuộc" vào cuối năm nay (dự kiến vốn đầu tư năm đầu tại thị trường Việt Nam là 10 triệu USD).
- Bên cạnh đó, tốc độ tăng về doanh thu thực sự đã chậm lại. Các doanh nghiệp trong nước vẫn chiếm chủ yếu với 94,3% trong tồng doanh thu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5,7%. Thị phần doanh thu phí Bảo hiểm tập trung vào các doanh nghiệp lớn có thâm niên hoạt động trên thị trường như: Bảo Việt (38,2%), Bảo Minh (21,7%), PVI (13,9%). Các nghiệp vụ Bảo hiểm chiếm tỉ trọng lớn về doanh thu và đạt tốc độ tăng trưởng cao là Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người.

Tóm lại
Trong những năm gần đây, dịch vụ bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và được đánh giá là còn nhiều tiềm năng để phát triển. Nhưng các chuyên gia vẫn nhận định thị trường bảo hiểm có thể sẽ "hạ nhiệt" vào thời gian tới.
Trong những tháng còn lại của năm 2005, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành bảo hiểm là rất nặng nề. Để đạt được mục tiêu là 17000 tỉ đồng doanh thu phí bảo hiểm năm 2005 và trong bối cảnh thị trường kinh tế còn nhiều phức tạp, đòi hỏi những nổ lực vượt bậc từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm và cơ quan chức năng, đồng thời cũng phải tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và nước ngoài.

Võ Thị Thanh Tâm
Lớp Ngân hàng 7_K28

Lên đầu trang

vo_thi_thanh_tam_nh7
Thành Viên Mới

4 bài gởi

Posted - 28/10/2005 :  21:36:17  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
[font=Arial]
Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế của 6 tháng đầu năm được đánh giá là không thuận lợi. Doanh thu phí bảo hiểm đạt 7428 tỉ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2004 nhưng chỉ bằng 43,7% kế hoạch năm.
Trong 6 tháng đầu năm 2005, sự tăng trưởng của bảo hiểm nhân thọ đã có phần chậm lại. Điều này kéo theo sự tăng chậm về doanh thu của toàn ngành do sự xuất hiện nhiều sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Sự chững lại của thị trường Bảo Hiểm hiện nay được lý giải bởi lý do là thị trường đã qua thời điểm phát triển nóng và đi vào ổn định.

* Bảo hiểm nhân thọ: đã có sự đổi ngôi
- Chỉ mới cách đây 3 tháng, Bảo hiểm nhân thọ vẫn tuyên bố đang ở vị trí dẫn đầu thị trường cả về doanh thu và thị phần. Tuy nhiên tháng 6/2005, vị trí này đã thuộc về Prudential. Prudential đã vươn lên đứng đầu chiếm 39,9% thị phần. Trong khi đó :
Bảo Việt chiếm 38,4%
Manulife 10,8%
AIA 7,7%
Bảo Minh_CMG 3,2%
- Viêc đầu tư mua Bảo hiểm nhân thọ thu hút 1 lượng vốn rất lớn trong dân cư. Trong đó phí bảo hiểm nhân thọ năm :
2000 mới là 1289 tỉ đồng
2001 2778
2002 4615
2003 6500
2004 8500
Ước tính phí bảo hiểm năm 2005 khoảng 10000 tỉ đồng và sẽ đạt 12000 tỉ đồng vào năm 2006.
- Cũng theo Bộ Tài Chính, số lượng hợp đồng khai thác mới trong tháng 6 đầu năm giảm 22% so với cùng kỳ năm 2004. Kết quả đạt được là 313530 hợp đồng mới trong khi năm 2004 là 402245 hợp đồng.

* Bảo hiểm phi nhân thọ: doanh nghiệp trong nước làm chủ
- Theo Bộ Tài Chính, thị phần của cách doanh nghiệp Bảo hiểm phi nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài giảm từ 7% vào cuối năm ngoái xuống 5,7% vào thời điểm này. Hiện nay có 2 công ty 100% vốn nước ngoài là Alianz (Đức), Groupama (Pháp) và cả 2 chỉ chiếm chưa đến 2% thị phần. Còn riêng Bảo Việt, Bảo Minh và công ty dầu khí nắm tới 3/4 thị phần. Tất nhiên, tình hình chắc chắn sẽ có thay đổi đáng kể khi có thêm "đại gia" nước ngoài nhảy vào lĩnh vực này. Như AIG, 1 trong những tập đoàn tài chính bảo hiểm lớn của Mỹ, dự kiến sẽ "nhập cuộc" vào cuối năm nay (dự kiến vốn đầu tư năm đầu tại thị trường Việt Nam là 10 triệu USD).
- Bên cạnh đó, tốc độ tăng về doanh thu thực sự đã chậm lại. Các doanh nghiệp trong nước vẫn chiếm chủ yếu với 94,3% trong tồng doanh thu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5,7%. Thị phần doanh thu phí Bảo hiểm tập trung vào các doanh nghiệp lớn có thâm niên hoạt động trên thị trường như: Bảo Việt (38,2%), Bảo Minh (21,7%), PVI (13,9%). Các nghiệp vụ Bảo hiểm chiếm tỉ trọng lớn về doanh thu và đạt tốc độ tăng trưởng cao là Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người.

Tóm lại:
Trong những năm gần đây, dịch vụ bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và được đánh giá là còn nhiều tiềm năng để phát triển. Nhưng các chuyên gia vẫn nhận định thị trường bảo hiểm có thể sẽ "hạ nhiệt" vào thời gian tới.
Trong những tháng còn lại của năm 2005, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành bảo hiểm là rất nặng nề. Để đạt được mục tiêu là 17000 tỉ đồng doanh thu phí bảo hiểm năm 2005 và trong bối cảnh thị trường kinh tế còn nhiều phức tạp, đòi hỏi những nổ lực vượt bậc từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm và cơ quan chức năng, đồng thời cũng phải tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và nước ngoài.

Võ Thị Thanh Tâm
Lớp Ngân hàng 7_K28
[/font=Arial]

Lên đầu trang

levuloc
Thành Viên Mới

Vietnam
3 bài gởi

Posted - 30/10/2005 :  16:02:37  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
[font=Arial][/font=Arial]
Đánh giá về tình hình bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn 1991 – 2004, ta có thể rút ra được 1 số nhận xét sau
a) Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thờI gian qua có sự tăng trường mạnh.
Tổng mức phí bảo hiểm tăng lên rất nhanh, từ 207 tỷ đồng vào năm 1991 đã tăng lên đến 12511 tỷ đồng vào năm 2004, tỷ lệ tăng trưởng trung bình là 40,18%, mức tỷ lệ cao nhất là 61,84% (năm 2001). Điều này có thể đươc giảI thích là do tác dụng của quá trình đổI mớI, mở cửa của đất nước ta đã khiến nền kinh tế phát triển vớI tốc độ cao, dẫn đến thu nhập của ngườI dân được cảI thiện. Mặt khác thị truờng bảo hiểm Việt Nam mớI mở ra, tiềm năng rất to lớn, nhu cầu về bảo hiểm của ngùơi dân rất lớn. Điều này đã làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển rất mạnh và nhanh chóng trong thờI gian qua.
Ngoài ra khi xem xét cơ cấu ngành bảo hiểm Việt Nam, ta còn có thể rút ra một nhận xét: Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có tiềm năng rất lớn và phát triển rất mạnh mẽ. Trong giai đoạn đầu, thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ gồm bảo hiểm phi nhân thọ (từ năm 1991 ->1996); bắt đầu từ năm 1997, bảo hiểm nhân thọ xuất hiện và phát triển mạnh mẽ; đến năm 2001 thỉ bảo hiểm nhân thọ đã vượt lên chiếm tỷ trọng lớn trong toàn ngành bảo hiểm Việt Nam; đến năm 2004 tỷ lệ giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ là 1,7:1. Tỷ lệ này ở các nước trên thế giớI là xấp xỉ nhau. Qua đó ta cũng có thể thấy một điều là cơ cấu của thị trường bảo hiểm Việt Nam chưa tiệm cận đuợc vớI quá trình phát triển của thị trường bảo hiểm các nước trên thế giới.
b) Giai đoạn từ năm 1991 -> 2004 diễn ra quá trình tự do hóa dịch vụ bảo hiểm một cách thận trọng:

Năm 93 94 95 96 97 98 99 00 01 02 03 04
Số công ty 1 4 6 8 9 10 15 16 18 20 24 30

Trong giai đoạn đầu, chỉ có một doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là Bảo Việt, đến năm 1994 xuất hiện thêm 3 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhưng Bảo Việt vẫn chiếm hầu hết thị phần, nắm giữ thế độc quyền. Từ năm 1995 -> 2000, Bảo Việt vẫn giữ thế độc quyền vớI thị phần >50%, nhưng thị trường bảo hiểm đã xuất hiện những công ty bảo hiểm chuyên ngành chiếm lĩnh dần thị trường. Giai đoạn tiếp theo (2001->2004), cùng vớI quá trình mở cửa và hộI nhập của kinh tế đất nước, thị trường đã xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (đến năm 2004, số doanh nghiệp là 30), Bảo Việt đã mất thế độc quyền của nó.
c) Cùng vớI sự phát triển của mình , thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn những vấn đề tồn tạI chưa giảI quyết được như sau:
+ Tuy thị trường bảo hiểm Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng và mạnh mẽ trong thờI gian qua, nhưng so vớI sự phát triển của thị trường thế giớI thì vẫn chiếm một vị trí khá khiêm tốn (cả trong khu vực và trên thế giớI). Điều này cũng hợp lý vì thị trường bảo hiểm VN còn rất non trẻ, dịch vụ chưa phát triển đầy đủ và ngừơi dân vẫn chưa quan tâm lắm đến thị trường bảo hiểm, chưa thấy rõ được tầm quan trọng và lợI ích của dịch vụ bảo hiểm. Nếu những điều này được cảI thiện thì chúng ta có thể tin rằng thị trường bảo hiểm VN sẽ có những bước phát triển vượt bậc, đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia
+ Nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa hộI nhập được vớI kinh tế thế giớI, thị truờng bảo hiểm VN cũng chưa tiếp cận đuợc vớI sự phát triển của thị trường bảo hiểm TG. Việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giớI như WTO,BTA, … còn gặp trở ngạI, khó khăn . Điều này là do cả 2 yếu tố chủ quan và khách quan. Sự phát triển của thị trường bảo hiểm chịu ảnh hưởng rất lớn bởI sự phát triển của nền kinh tế quốc gia nên dù muốn hay không thì những điều trên cũng ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm VN.
Tóm lạI ta có thể nói rằng thị trường bảo hiểm VN là thị trường còn rất non trẻ, tiềm năng rất to lớn nhưng chưa được phát huy hết. Điều này là do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Các yếu tố này đang được giảI quyết và ta có thể tin rằng khi những tồn tạI đó được giảI quyết triệt để thì thị trường bảo hiểm VN sẽ phát triển rất mạnh và hộI nhập được vớI sự phát triển của thị trường bảo hiểm TG.

Lê Vũ Lộc
Lớp NH8-K28



Edited by - levuloc on 30/10/2005 16:06:46
Lên đầu trang

thuylinh
Thành Viên Mới

1 bài gởi

Posted - 30/10/2005 :  21:07:56  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Mặc dù bảo hiểm thương mại du nhập vào Việt Nam từ rất sớm theo cân thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhưng do chiến tranh và đất nước ta bị chia cắt nên sự phát triển của bảo hiểm ở 2 miền nói riêng và dất nước nói chung cũng có những bước thăng trầm theo tiến trình lịch sử của đất nước.
Năm 1975, đất nước thống nhất. Nhà nước quốc hữu hóa cá công ty bảo hểim ở Việt Nam để thành lập công ty bảo hiểm BAVINA. Từ đây cho đế năm 1993 thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển trong thế độc quyền. Năm 1993, nghị định 100CP của chính phủ được ban hành đã xoá bỏ thế độc quyền của Bảo Việt, hình thành một thị trường bảo hiểm đúng nghĩa. Tiếp theo đó là luật kinh doanh bảo hiểm (ban hành năm 2000 có hiệu lực từ 1/4/2001) và chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010 (ban hành năm 2003) đã góp phần thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Sự phát triển mạnh mẽ đó được thể hiện ở những biểu hiện cụ thể sau:
Thứ nhất, trong hơn 10 năm sau khi xóa bỏ độc quyền nhà nước, số doanh nghiệp bảo hiểm không ngừng tăng lên rõ rệt và ngày càng đa dạng về loại hình doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường.
SỐ CÔNG TY BẢO HIỂM HOẠT ĐỘNG TẠI VIỆT NAM (1993 – 2005)
N ăm 1993 1995 1997 1999 2001 2003 2005
số công ty 1 6 9 15 18 24 30

Theo bảng số liệu trên thì có thể nhận xét rằng có sự tăng trưởng đều về số lượng các doanh nghệip bảo hiểm từ năm 1993 đến nay. KHông chỉ tăng về số lượng, các doanh nghệip còn ngày càng tăng lên về qui mô hoạt động, nhất là trong lĩnh vực nhân thọ. Chỉ trong vòng 1 năm từ 2000 đến 2001, 5 công ty bảo hiểm trong lĩng vực nhân thọ (Bảo Việt, Prudential, Manulife, Bảo Minh-CMG, AIA) đã có số đại lý tăng rất nhanh, năm 2001 gấp 1.7 lần đến 3.5 lần so với 2000.
Các loại hình doanh nghiệp tham gia vào thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng ngày càng đa dạng hơn. Nam 1993 chỉ có 1 công ty bảo hiểm thuộc sở hữu nhà nước là tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Năm 1994 bắt đầu có sự tham gia của công ty liên doanh trên thị trường bảo hiểm, năm 1995 xuất hiện thêm các côgn ty cổ phần bảo hiểm. Đến năm 1999 đánh dấu sự xuất hiện của công ty bảo hiểm có 100% vốn nước ngoài. Như vậy, có thể thấy rằng chúng ta đã có những bước đi khá thận trọng để tiến đến tự do hoá dịch vụ bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Tóm lại, từ năm 1993 đến nay, số lượng doanh nghệip bảo hiểm không ngừng tăng lên và qui mô hoạt động cũng ngày càng tăng đáng kể. Nguyên nhân của sự tăng nhanh này có thể nhận thấy rõ ràng là nhờ chính sách mở cửa thị trường bảo hiểm và thu hút các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, kể cả những nhà đầu tư nước ngoài.
biểu hiện thứ hai đó chính là sự tăng trửong mạnh về doanh thu của toàn thị trường bảo hiểm từ năm 1993 đến nay.





Theo biểu đồ trên, doanh thu thị trừơng bảo hiểm tăng nhanh và đều từ năm 1992 đến 1999. đặc biệt từ năm 2000 trở đi, tổng phí bảo hiểm của cả thị trường tăng rất nhanh, nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP của nền kinh tế. Cụ thể hơn, doanh thu của lĩng vực phi nhân thọ - lĩnh vực bảo hiểm vốn đã có một lịch sử phát triển lâu đời hơn - lại không tăng đột biến nhưng tăng đều và ổn định. Bảo hiểm nhân thọ - tuy ra đời sau và mãi đến năm 1997 mới được thể hiện trên biểu đồ - đã có những bước dài, phát triển mạnh và tăng rất nhanh về doanh thu. Đến năm 2001 doanh thu nhân thọ đã vựơt qua doanh thu phi nhân thọ. Có thể đề cập đến một số nguyên nhân của thực trạng trên.
Nền kinh tế nước ta trong những năm vừa qua tăng trửong khá tốt và ổn định. Nền kinh tế tăng trưởng đã kéo theo sự tăng trưởng của ngành bảo hiểm nói chung. Bảo hiểm phi nhân thọ phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế. Một nước phát triển thì ắt hẳn sẽ có bảo hiểm phi nhân thọ phát triển cao. Đối với nước ta tuy nền kinh tế phát triển chưa cao nhưng sự tăng trửong đều và ổn định của nền kinh tế cũng đã góp phần dẫn đến sự tăng trửơng đều về doanh thu của bảo hiểm phi nhân thọ trong thời gian vừa qua.
Về sự tăng trửơng mạnh của bảo hiểm nhân thọ trong 5 năm vừa qua có thể nhìn từ 2 khía cạnh sau. Một là, nền kinh tế tăng trưởng làm cho đời sống của người dân đươc cải thiện, tích lũy tăng; đổng thời cuộc sống hiện đại của nền kinh tế phát triển làm nảy sinh nhiều rủi ro hơn do đó người dân có nhu cầu mua bảo hiểm nhiều hơn để bảo đảm cho các rủi ro đó. Hai là, nhìn từ khía cạnh vĩ mô, do chế độ bảo hiểm xã hội của nứơc ta còn tồn tại nhiều yếu kém và bất cập, nhìn chung là chưa đảm bảo đựơc mặt bằng rủi ro chung cho toàn xã hội; vì vậy, bảo hiểm thương mại nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng phát triển mạnh có thể xem như là kết quả của sự yếu kém đó.
Như vậy, với 2 biểu hiện nêu trên thì kết luận ngành bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng mạnh về lượng và chất trong 10 năm vừa qua là hoàn toàn có cơ sở. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là: vào năm 2006 và những năm sắp tới, liệu thụ trường bào hiểm Việt Nam có còn tăng trửơng mạnh như hiện nay khi cả thế giới và khu vực trong đó có Việt Nam đang phải đương đầu với nhiều vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội rất phức tạp và khó khăn.
Hiện nay, trên thế giới giá dầu tăng cao và chiến tranh leo thang ở nhềiu nước đã khiến cho tăng trưởng kinh tế của thế giới sụt giảm. Khu vực Đông Nam Á 5.4% xuống 5% vào năm 2005 và đến năm 2006 ở mức 5.4% (theo dự báo của ngân hàng phát triển Châu Á – ADB công bố ngày 8/9/2005). Cũng theo dự báo này, kinh tế Việt Nam vẫn sẽ duy trì được tốc độ tăng trưởng cao là 7.6% cho năm 2005 và 2006.
Theo thống kê thì cứ 1% tăng trưởng GDP sẽ kéo theo 4% tăng trưởng trong lĩnh vực bảo hiểm. Như vậy, nếu dựa vào dự báo trên của ADB thì có thể dự báo rằng thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn sẽ duy trì đựơc mức tăng trửơng cao như các năm trước.
Tuy nhiên có những nhận định kém lạc quan hơn về thị trường bảo hiểm Việt Nam từ phía các chuyên gia tài chính Việt Nam. Theo các chuyên gia này thì thị trường bảo hiểm trong thời gian sắp tới gặp những khó khăn sau: thứ nhất là chỉ số giá tiêu dùng tăng cao (chỉ 9 tháng đầu năm, đồng Việt Nam đã trượt giá 6.8%) khiến cho phần tích lũy của ngừoi dân bị giảm sút, do đó, họ sẽ cân nhắc nhiều hơn khi bỏ ra một phần tiền để mua bảo hiểm. Thứ hai, các NHTM liên tục tăng lãi suất tiền gửi càng đẩy các doanh nghiệp bảo hiểm vào thế khó khăn hơn. chính vì những lý do trên cùng một số diễn biến bất lợi trên thị trường trong nước và thế giới nên họ đưa ra kết luận rằng thị trừơng bảo hiểm Việt Nam năm 2005 khó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng dự kiến là 20.2%. Tuy nhiên, họ cũng nhấn mạnh rằng tình hình này có thể sẽ thay đổi đáng kể khi cuối năm nay tập đoàn AIG - một trong những tập đoàn tài chính bảo hiểm lớn của Mỹ sẽ chính thức hoạt động tại Việt Nam.
Dựa vào hai nguồn dự báo trên chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng vào sự tăng trửơng mạnh của thị trường bảo hiểm Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam mói chung trước thềm năm 2006.


Lên đầu trang

truongson
Thành Viên Mới

Vietnam
1 bài gởi

Posted - 31/10/2005 :  18:37:52  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
Bai Danh gia va du bao cua:
Nguyen Vu Truong Son
NH9 K28

Đánh giá về thị trường Bảo hiểm Việt Nam:
Thị trường Bảo hiểm Việt Nam ngày càng sôi động với tốc độ tăng trưởng khá cao
Năm 2004 tổng số tiền bảo hiểm chỉ chiếm 2.02%GDP
Sau 10 năm mở thị trường, đến nay đã có 28 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở thị trường Việt Nam, gồm 5 doanh nghiệp nhà nước, 7 công ty cổ phần, 6 doanh nghiệp liên doanh và 10 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hầu hết nguồn vốn được hình thành ban đầu do nhà nước cấp. Bảo Việt vẩm chiếm vị trí hàng đầu, chuyên doanh Bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, đầu tư, chứng khoán với hàng trăm sản phẩm khác nhau.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm thị phần bảo hiểm phi nhân thọ chưa cao; chỉ có công ty Prudential là có những bước đi thành công trong chiếm lĩnh thị phần bảo hiểm nhân thọ (hiện đang chiếm thị phần bằng với Bảo Việt).
Bảo hiểm phi nhân thọ có nhiều tiềm năng hứa hẹn. Mỗi năm ngân sách nhà nước đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1,5 tỷ USD, nguồn viện trợ ODA, đầu tư trong nước với các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị ở các địa phương đang trải thảm mời gọi các nhà đầu tư tạo tiềm năng cho bảo hiểm kỹ thuật, xây dựng - lắp đặt … Dư nợ tín dụng trên 300.000 tỷ, nhập khẩu trên 20 tỷ USD; đội tàu trên 2,5 triệu GRT, tài sản của ngành hàng không, điện lực, bưu chính viễn thông, dầu khí, xăng dầu … nếu tham gia bảo hiểm đầy đủ sẽ đem lại doanh thu không nhỏ cho các doanh nghiệp bảo hiểm.
Bảo hiểm nhân thọ: Việt Nam có tới trên 4 triệu người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hơn 10 triệu người hưởng lương từ các doanh nghiệp có nguồn thu nhập ổn định và ngày một khá hơn có thể tích luỹ tiết kiệm được. Gần đây lương cơ bản của một người đã được tăng. Đây là nguồn tiềm năng khai thác bảo hiểm nhân thọ với những hợp đồng dài hạn.
Tình hình kinh tế xã hội:
Năm 2005 là năm cuối cùng trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, tính tới 9 tháng đầu năm có những đặc điểm như sau:
Theo dự báo của ADB thì năm 2005 kinh tế việt nam có thể tăng trưởng khoảng 7.6%. Tỷ lệ lạm phát 5.7%.
Trong năm 2005 Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với dịch cúm gà và giá xăng dầu leo thang làm cho lạm phát vào cuối năm có thể cao hơn mức 6.5% mà chính phủ đề ra
Cũng trong năm 2005, Thủ tướng Phan Văn Khải có chuyến thăm lịch sử tới Hoa Kỳ. Chuyến thăm này mở ra một bước ngoặt mới cho quan hệ giữa hai nước với lộ trình mở cửa của thị trường bảo hiểm chắc chắn sẽ căn cứ theo lộ trình của Hiệp định thương mại Việt Mỹ. Như vậy, việc mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam là việc làm tất yếu để tuân thủ hiệp định đã cam kết.
Những dự báo:
Dự báo chung cho thị trường bảo hiểm
Thị trường bảo hiểm mấy năm gần đây đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân từ 29-30%. Từ chỗ chỉ chiếm 0,37% GDP năm 1995, đến năm 2004 tổng doanh thu của ngành bảo hiểm đã chiếm 2.02% GDP.Năm 2005 với mức tăng trưởng kinh tế khoảng 8% thì năm 2005 tổng phí bảo hiểm sẽ đạt khoảng 17.000 tỷ đồng chiếm 2.5% GDP.Theo một số nhà kinh tế thì: Khi quy mô thị trường bằng 1,5% GDP thì tốc độ tăng trưởng về doanh thu đạt 10-15%. Sau khi quy mô thị trường vượt 2%, tốc độ này sẽ đạt 5-10%. Do đó dự báo về tăng trưởng bảo hiểm trong những năm tới sẽ không mạnh hơn trong nhưng năm đã qua vào khoảng xấp xỉ 10%.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ:
Sau những năm tăng trưởng không ngừng, năm 2004 bảo hiểm nhân thọ có phần chững lại và có dấu hiệu suy giảm về tốc độ tăng trưởng. Xu hướng này sẽ tiếp tục diễn ra trong điều kiện các chỉ số lạm phát và giá cả gia tăng.
Cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt trên các mặt như tuyển dụng đại lý, thu hút cán bộ, khách hàng, sản phẩm, kênh phân phối, quảng cáo và địa bàn hoạt động. Thêm vào đócác công ty này phải đối phó với các ngân hàng và dịch vụ tiết kiệm bưu điện tăng lãi suất cộng thêm các biện pháp cạnh tranh và khuyến mại trực tiếp với bảo hiểm nhân thọ làm ảnh hưởng đến quyết định mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ dài hạn và cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty bảo hiểm nhân thọ với nhau cũng là một trong những sức ép lớn. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ của một bộ phận đại lý như khuyến mại giảm phí, xúi giục khách hàng huỷ hợp đồng của công ty này để ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với công ty khác...
Tuy nhiên với sự đầu tư lớn của chính phủ vào nền kinh tế xã hội, việc thực thi BTA và việc sẽ gia nhập WTO vào những năm tiếp theo. Do đó sau khoảng 1-2 năm bảo hiểm nhân thọ chững lại nó sẽ phát triển nhanh và ngày càng có nhiều tập đoàn lớn sẽ khai thác loại hình bảo hiểm này. Điều này hứa hẹn một thị trường bảo hiểm nhân thọ sôi động với nhiều loại sản phẩm và sự chiếm ưu thế của các liên doanh hoặc các công ty 100% vốn nước ngoài.
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ:
Tốc độ tăng trưởng bảo hiểm phi nhân thọ trong năm 2004 có dấu hiệu chững lại với sự độc tôn của các doanh nghiệp nhà nước. Trong những năm gần đây thiên tai liên tục diễn ra nhưng số tiền bồi thường vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trên tổng doanh thu ngành bảo hiểm. Trong những năm tới Việt Nam sẽ gia nhập WTO và sự độc tôn này sẽ giảm hẳn. Tuy nhiên vấn đề khác đặt ra là: khi nhà nước phải kiểm sóat được lạm phát và đầu tư mạnh vào nền kinh tế thì bảo hiểm phi sẽ phát triển. Trong một năm trở lại đây tình hình lạm phát tăng tuy không cao nhưng cũng làm cho cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng trở nên khá nóng và ảnh hưởng không tốt tới những doanh nhhiệp trong việc đầu tư mở rộng sản xuất vì lải suất cho vay cao nên sẽ tăng chi phí sản xuất. No cũng phần nào làm cho bảo hiểm phi có chựng lại.
Một khi chính phủ thực hiện tốt những điều nói trên thì dự báo thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong tương lai sẽ tiếp tục phát triển, nhưng chúng ta khó có thể kỳ vọng vào một sự phát trển vượt bậc như trong bảo hiểm nhâ thọ






Nguyen Vu Truong Son
Class 9, Banking Dept, UEH
Lên đầu trang

foreverkhoa
Thành Viên Mới

2 bài gởi

Posted - 31/10/2005 :  22:04:56  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send foreverkhoa a Yahoo! Message  Trả lời trích đoạn
Sau hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài kết hợp với việc phát triển nội lực, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã phát triển vượt bậc cả về chất và lượng, đánh dấu một bước chuyển căn bản từ một thị trường độc quyền nhà nước sang một thị trường khá hoàn chỉnh với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bảo hiểm.

Với hơn 600 sản phẩm đã và đang cung cấp trên thị trường, các doanh nghiệp bảo hiểm đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đa dạng và phong phú của khách hàng dưới tác động cạnh tranh.

Tính đến nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có tốc độ phát triển mạnh, nhanh và ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới với tốc độ bình quân về doanh thu phí bảo hiểm (1993-2004) đạt 30%. Trong hơn một thấp kỷ qua, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm vẫn chiếm từ 0,37% (năm 1993) tăng lên 1,86% (năm 2004) trên GDP và đạt 900 triệu USD. Mục tiêu đến 2010, Việt Nam phấn đấu đạt tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP là 4%.

Sau 10 năm, từ chỗ chỉ có doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước duy nhất là Bảo Việt, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phi nhân thọ, đến nay thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện có 27 doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm: nhân thọ, phi nhân thọ, kinh doanh tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, trong đó 2 công ty nhà nước, 10 công ty cổ phần và 15 công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra còn có sự hiện diện của 30 văn phòng đại diện đang xếp hàng chờ cấp phép hoạt động tại Việt Nam, chưa kể một số tổ chức tài chính trong nước như Vietcombank đang ấp ủ đề án nhắm đến kinh doanh bảo hiểm. Điều này cho thấy mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài về tiềm năng to lớn của thị trường bảo hiểm Việt Nam.Một số công ty bảo hiểm đang có dự định thành lập ngân hàng thương mại. Ngược lại, một số ngân hàng thương mại cũng đang rục rịch lên kế hoạch thành lập các công ty bảo hiểm trực thuộc.

Một số công ty bảo hiểm như Prudential, Bảo Việt… muốn xây dựng hệ thống ngân hàng bán lẻ của họ trên cơ sở khách hàng mà họ đã có. Nhưng cái đó cần phải được Ngân hàng Trung ương đồng ý. Họ đang trong quá trình xin phép nhưng thấy quy định về vấn đề này rất chặt
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm với ngân hàng đang được thể hiện rõ trên thị trường thế giới. Hiện nay đã có nhiều tập đoàn bảo hiểm có ngân hàng thương mại và ngược lại, nhiều ngân hàng thương mại thành lập công ty bảo hiểm. Đây là xu hướng thể hiện sự hỗ trợ nhau cùng kinh doanh và phát triển.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra rất nhanh, hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm được Chính phủ Việt Nam xác định là con đường tất yếu.

Để đạt được mục tiêu này cần hoàn thiện khung pháp lý đáp ứng nhu cầu hội nhập, xây dựng cơ chế kiểm tra giám sát chặt chẽ để hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh và duy trì phát triển ổn định của thị trường, thực hiện các cam kết quốc tế là mở rộng hợp tác quốc tế trong khu vực trong kinh doanh bảo hiểm.

Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang chuyển sang một giai đọan mới, giai đoạn chuyển từ lượng sang chất. Doanh nghiệp Việt Nam tuy tiềm lực tài chính không hùng hậu bằng các tập đoàn quốc tế, song hoàn toàn tin tưởng vào khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.

Việt Nam đang đẩy mạnh các cuộc đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với mục tiêu trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức này vào cuối năm 2005. Hội nhập sẽ đem đến nhiều cơ hội và thách thức cho các cơ quan quản lý bảo hiểm, các doanh nghiệp cũng như người tham gia bảo hiểm. Do đó phải có những đánh giá khách quan và toàn diện về những tác động nhiều mặt của hội nhập, trên cơ sở đó mỗi chủ thể tham gia thị trường phải tích cực hơn nữa chuẩn bị cho hội nhập một cách tự tin và tìm cho mình một lới đi riêng, một chiến lược hành động riêng nhằm đứng vững và phát triển trong cạnh tranh hội nhập.

Các doanh nghiệp nước ngoài thì cho rằng mở cửa thị trường sẽ có cái lợi vì doanh nghiệp trong nước được học tập được kinh nghiệp quản lý, hoạt động, triển khai các dịch vụ mới, đặc biệt khách hàng được chăm sóc tốt do thị trường thêm sức cạnh tranh. Tuy nhiên đổi lại, nếu ngành bảo hiểm trong nước không vững vàng, khai thác các lợi thế sẵn có thì sẽ rất dễ mất thị phần.



Lê Văn Khoa Lớp NH7-K28
Lên đầu trang

pvu
Thành Viên Mới

8 bài gởi

Posted - 05/11/2005 :  12:54:16  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM - 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2005.

I> TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI:

- Nền kinh tế xã hội Việt Nam tiếp tục phat triển theo hướng ổn định , đời sống nhân dân được nâng cao,nhiều chính sách của ĐẢNG và Nhà nước tập trung cho việc phát triển nền kinh tế đất nước và làm trong sạch đời sống kinh tế xã hội.

- Dự kiến 6 tháng đầu năm cả nước đạt mức tăng trưởng tổng sản phẩm GDP từ 7,5-7.7%, trong đó tốc độ tăng trưởng công nghiệp 9,6%.Riêng thành phố Hoà Chí Minh, tổng sản phẩm GDP tăng trưởng 10,5%, đạt mức cao nhất trong vòng 4 năm qua.


- Kim ngạch hàng hoá XNK 6 tháng đạt 14,44 tỷ USD (hàng xuất )và 18 tỷ USD(hàng nhập), trong đó yeeus tố xăng dầu thế giới tăng cao cũng ảnh hưởng rất lớn chỉ số kim ngạch NK của VN.

- một số khó khăn chúng ta vẫn phải đối mặt hiện nay là chỉ số giá cả tiếp tục tăng cao , thu hút đầu tư nước ngoài và tốc độ phát triển công nghiệp tại TP HCM đạt ở mức thấp hơn tốc độ bình quân cả nước.Việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội không đạt chỉ tiêu đề ra.

II> TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ :

- Theo đánh giá chung của các chuyên gia kinh tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong và ngoài nuớc thì dự báo mức tăng trưởng của ngành bảo hiểm trong năm 2005 vẫn ở mức khoảng 30%/năm. Đây là một sức ép tâm lý rất lớn đối với những cán bộ quản lý từ thấp dến cao trong doanh nghiệp bảo hiểm, nhất là các doanh nghiệp hàng đầu như BẢO VIỆT, BẢO MINH.

- Năm 2005 là năm đầu tiên Bảo Minh hoạt động trên thị trường với tư cách là một Tổng công ty cổ phần với nhiều ưu thế nỗi trội về thương hiệu, uy tín và không khí làm việc mới thông thoánh hơn, chuyên nghiệp và chính qui hơn.Toàn tổng Công ty được sắp xếp, phân hạng theo tổ chức mới với tinh thần phấn khởi, nhiệt tình của toàn thể CBCNV. Hàng loạt công ty thành viên mới được thành lập và được cũng cố,phát triển cả về lực lượng và chất.


- Công ty bảo hiểm tư nhân AAA tham gia thị trường từ quí 2/2005 tạo nên một cuộc cạnh tranh mới, không phải bằng trình độ chuyên môn kỉ thuật cao, chuyên nghiệp mà bằng việc tham gia tăng chi phí về môi giới bán hàng và một số thông tin thiếu chính xác hoặc không rõ ràng đẻ khách hàng hiểu sai lệch như AAA là một Công ty vốn Nhà nước, hoăch được tách ra từ Bảo Minh,. . . ảnh hưởng không mhỏ đến kinh doanh trực tiếp của Bảo Minh nói chung và Bảo Minh Chợ Lớn nói riêng.

- PJICO sau cơn khủng hoảng do một số lãnh đạo cao cấp tham nhũng, cũng đã cố gắng phục hồi uy tín bằng việc tiếp tục nâng cao chi phí hơn cho môi giới bán hàng và khoàn thu nhập cho nhân viên để tiếp tục giữ và phát triển thị phần, giảm sự thuyên chuyển nhân viên sau sự cố sang các doanh nghiệp bảo hiểm khác.


- BẢO VIỆT trên thị trương TP HCM cũng có nhiều đổi mới trong công tác quản lý như mở rộng quyền vá nâng cao mức khoán chi phí cho các đơn vị kinh doanh cơ sở.Bảo việt trung ương có chánh sách cạnh tranh giảm chi phí rất mạnh và kí được một số hợp đồng hợp tác kinh doanh ở cấp vĩ mô với Cục Đăng Kiểm VN,Vietcombank Trung ương,… tạo điều kiện cho các công ty thành viên ở các địa phương tham gia thị trường cạnh tranh tích cực hơn những năm trước.

III> TỔNG CÔNG TY BẢO CỔ PHẦN BẢO MINH VÀ BẢO MINH CHỢ LỚN:

- 6 tháng đầu năm 2005 tiếp tục ổn định cơ cấu tổ chức, phân hạng các Công ty thành viên, sắp xếp lại hệ thống thang bảng lương theo mô hình mới sau cổ phần hoá.Toàn bộ một loạt các hướng dẫn, qui định nghiệp vụ cũng được ra đời cho phù hợp với tình hình chung, nhiều Công ty thành viên mới được thành lập, song song với nững chính sách, chế độ quản lý mới ban hành để thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới.

- Bảo Minh Chợ Lớn với Bảo Minh Bến Thành, được tổng Công ty đề nghị Bộ Tài chính cho thành lập mới trên địa bàn thành phố HCM từ Bảo Minh SÀi Gòn, hoạt động kinh doanh thống nhất cả 3 Công ty trên cơ sở mở rộng thị phần, phủ kín địa bàn và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng của tổng công ty cổ phần Bảo Minh.


- Với cơ sở ban đầu là 67 CBCNV trong 7 phòng kinh doanh trực tiếp và các phồng quản lý, đươcj chuyển từ Bảo Minh Sài Gòn, bắt dầu hoạt động sau ngày 01/5/2005.Sau 2 tháng tích cực sử ký hàng loạt công tác tài chính, chuẩn bị cơ sở vật chất nhưng vẫn phải đảm bảo công ciệc kinh doanh bình thường cho các đơn vị khác, Bảo Minh CHợ Lớn đã thực hiện ổn định và hoạt động kinh doanh có chiều hương tiến triển tốt .
(mục tư liệu này lấy từ Công ty Bảo Minh )

NHỮNG KHÓ KHĂN,KHIẾM KHUYẾT CÒN TỒN TẠI:

- Ảnh hưởng từ việc thành lập mới Công ty nên doanh thu 6 tháng đầu năm không hàon thành, tư tưởng cán bộ, ít nhiều có dao động trước việc di, ở, một số cán bộ muốn thay đổi đơn vị khi Công ty chuyển đén văn phòng mới.

- Do sức ép kế hoạch và cạnh tranh, đôi lúc trong kinh doanh việc khai thác chưa thục hiện đúng các qui trình,qui định của Tổng Công ty gây ra mối lo kắng và rủi ro cao.


- Thương hiệu Công ty còn qúa mới mẻ, địa bàn đặt trụ sở chính không phải là trung tâm kinh tế, thương mại của thành phố, không gần các văn phòng công ty liên doanh, dịch vụ, cảng biển…Thông thương tâm lý khách hàng không muốn đi xa và trái tuyến công tác, kể cả khách hàng truyền thống.

- Tình hình cạnh trang ngày càng gay gắt do các công ty hầu như đều có thông tin và chiến luợc KD của nhau thông qua khách hàng và đội ngũ môi giới bán hàng (chẳng hạn như tôi và bạn tôi không phải trong ngành bảo hiểm mà cũng không mấy khó khăn trong việc thu thập thông tin và tài liệu của những công ty bảo hiểm !!!!). Đặc biệt sự ra đời Công ty AAA ảnh hưỏng không nhỏ đến khách hàng của Bảo Minh .


- Công ty còn thiếu cán bộ chuyên môn có kinh nghiệm về lãnh vực bảo hiểm tài sản và phòng bảo hiểm TS cũng chỉ mới thành lập và đi vào hoạt động từ 01/7/2005.

- Các định mức chi ĐPHCTT và chi K của công ty thấp, ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của các dơn vị khác.


- Đội ngũ cán bộ ,nhân viên khai thác phần đông còn yếu và thiếu do mới tuyển dụng sau khi được thành lập.Các phòng khai thác còn quá ít chưa phủ kín được địa bàn và chưa phát huy hết năng lực hiện có của mỗi cá nhân cũng như tập thể.Nhưng đây là điểm cần lưu ý cho những SV chuyên ngành bảo hiểm,theo tôi nếu những ai được tuyển dụng vào những vị trí này sẽ rất có nhiều cơ hội thăng tiến (nếu người đó năng lực và một chút “mẹo vặt”…!!!!). Đừng bỏ lở cơ hội nhé!

SV:PHẠM VĂN ƯNG- PHẠM THỊ TỐ OANH
LỚP NH7.K28-ĐHKT TPHCM


Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 07/11/2005 :  12:19:39  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Trả lời trích đoạn
Nguyễn anh thư
Lớp NH9 K28
MSSV 102280052
BÀI LÀM TỔNG HỢP
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO VỀ TÌNH HÌNH
BẢO HIỂM VIỆT NAM

A.ĐÁNH GIÁ CHUNG
Tổng quan về thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 1993 cho đến nay:
Một vài số liệu quan trọng:
Lịch sử phát triển thị trường:
Trước năm 1993
 Thị trường độc quyền của một DNNN (Bảo Việt)
 Chỉ có phi nhân thọ
 20 sản phẩm bảo hiểm truyền thống với phạm vi bảo hiểm còn hạn chế
 Quy mô thị trường nhỏ (<0.4%GDP)
Từ 1993 đến nay
 Công ty cổ phần: 1995
 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 1996
 Nhân thọ: 1995

Các mốc thời gian quan trọng:
 1993: nghị định 100CP của chính phủ được ban hành, xoá bỏ độc quyền nhà nước về bảo hiểm.
 1/4/2001: luật kinh doanh bảo hiểm (được quốc hội thông qua vào tháng 12/2000) chính thức có hiệu lực.
 2003: chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm việt nam đến 2010 được ban hành, trong đó chiến lược chính là “phát triển thị trường bảo hiểm tự do cạnh tranh” (tự do hoá thị trường bảo hiểm).

Các định chế thị trường:

1993 1996 1999 2002 2004 2005
Bảo hiểm gốc 1 6 13 17 19 23
Phi nhân thọ 1 6 10 13 14 15
Nhân thọ 1* 4* 5* 5 8
Tái bảo hiểm 1 1 1 1 1
Môi giới 1 1 1 2 6 6
Đại lý (nghìn người) 1 10 30 115 135 -
* kinh doanh đồng thời bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

Phí bảo hiểm 2003-2004

Phi nhân thọ Nhân thọ Toàn thị trường
2003 2004 2003 2004 2003 2004
Phí bảo hiểm
Tốc độ tăng trưởng (%) 45.4 24.88 50.01 16.54 48.35 19.55
Thị phần (%) 36.78 38.42 62.32 61.58 100 100
Tỷ lệ so với GDP (%) 0.54 0.67 1.18 1.07 1.72 1.74
Phân chia thị phần
Khối nhà nước (%) 79.23 73.71 41.42 39.95 55.33 52.92
Khối cổ phần (%) 14.47 19.30 0 0 5.32 7.42
Khối đầu tư nước ngoài (%) 6.30 6.99 58.58 60.05 39.35 39.67




Tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm so với tăng trưởng kinh tế:









Doanh thu phí bảo hiểm qua các năm

















Từ những số liệu trên, cho thấy:
I. Thị trường bảo hiểm Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh.

Từ quy mô thị trường nhỏ hẹp chỉ chiếm dưới 0.4%GDP, cung cấp chỉ 20 sản phẩm truyển thống, phạm vi còn hạn chế, chỉ có phi nhân thọ từ trước 1993, hiện nay thị trường bảo hiểm Việt Nam đã dần lớn mạnh với 30 doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam và nước ngoài đang được cấp phép hoạt động tại Việt Nam tính đến 1/07/2005, cung cấp hơn 650 sản phẩm đa dạng mang tính tiết kiệm cao, nhiều loại thời hạn. Trong số 30 doanh nghiệp này có 3 doanh nghiệp nhà nước, 10 công ty cổ phần, 16 doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Ngoài ra, còn có sự góp mặt của hơn 30 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài. Từ năm 1995 đến 2004, số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm đã tăng từ 790 tỷ VND đến 23000 tỷ VND và trở thành kênh huy động vốn lớn nhất nền kinh tế. Mặt khác, do vốn đầu tư từ bảo hiểm là đầu tư từ nội lực của nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư này thậät sự là nguồn vốn đầu tư bền vững.
Thực tế cũng cho thấy, trong 10 năm mở cửa thị trường bảo hiểm, ngành bảo hiểm nhờ có sự cạnh tranh mạnh mẽ đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân gần 30% năm. Tính riêng trong 6 tháng đầu 2005, tổng doanh thu ngành bảo hiểm ước đạt 8000 tỉ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Dự kiến, doanh thu toàn ngành bảo hiểm trong cả năm ước đạt 17000 tỉ đồng, tương đương 2.5%GDP. Đây được xem là một bước tiến lớn so với 10 năm trước đây, khi mà doanh thu toàn ngành bảo hi?m đạt chưa đến 0.4%GDP. Mặc dù tỉ lệ này còn rất khiêm tốn so với các nước trong khu vực, triển vọng và tiềm năng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam là không thể phủ nhận. Cơ cấu của thị trường bảo hiểm cũng đang từng bước phát triển tiệm cận với cơ cấu của bảo hiểm thế giới, thị phần bảo hiểm nhân thọ tăng mạnh hơn bảo hiểm phi nhân thọ,nhất là từ mốc 1999 trở về sau, bảo hiểm nhân thọ đã thực sự bùng nổ trong thị trường bảo hiểm trong nước.
Các thành tựu đạt được:
o Phi nhân thọ:
Tăng trưởng 35% trong giai đoạn 2002-2004
Mức đóng góp về GDP tăng từ 0.5% năm 2002 lên 0.7% năm 2004
o Nhân thọ:
Tăng trưởng 300% trong giai đoạn 2002-2004
Mức đóng góp vào GDP tăng từ 0.8% năm 2002 lên 1.1% năm 2004

Nguyên nhân làm cho bảo hiểm Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây:
Nguyên nhân đầu tiên là do nền kinh tế Việt Nam trong các năm liên tục giữ được tốc độ phát triển tốt. Xuất khẩu đạt được mức tăng trưởng kỷ lục từ trước tới nay. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2004 ước đạt mức 26.003 triệu USD. Chỉ trong tháng 1/2004, kim ngạch xuất khẩu đã đạt vượt mức kim ngạch xuất khẩu cả năm 1991. Việc sử dụng hợp lý nguồn lao động đã làm tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm, đến 2004 chỉ đạt 5.6% so với 6.9% năm 1998 ở khu vực thành thị. GDP bình quân đầu người nếu ước tính theo tỷ giá sức mua tương đương, nếu chỉ đạt 1.236 USD vào năm 1995, 2300 USD năm 2002 thì đến 2004 đã đạt khoảng 2580 USD. Cuộc sống không ngừng được nâng cao, thu nhập được cải thịên, người dân đã bắt đầu có thói quen mua bảo hiểm.
Một yếu tố khác cũng góp phần không nhỏ vào sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm Việt Nam những năm gần đây là xu thế tăng phí trên thị trường bảo hiểm thế giới. Cùng với nhiều tai nạn hàng hải, hàng không cũng như các vụ cháy lớn xảy ra trên thế giới trong các năm qua, đặc biệt là hàng loạt các tai nạn hàng không xảy ra trong khoảng tháng 8 đầu tháng 9/2005, sức ép từ các nhà tái bảo hiểm đã tác động làm cho phí bảo hiểm thị trường thế giới tăng cao.
Bên cạnh đó, chất lượng phục vụ và loại hình dịch vụ bảo hiểm được đa dạng hoá với sự “góp mặt” của các công ty và tập đoàn bảo hiểm lớn trên thế giới đã thực sự thu hút sự tham gia của các tầng lớp dân cư, kinh tế tham gia vào bảo hiểm. Vụ trưởng vụ tài chính, ông Lê Quang Bình, đã nói: “không thể bảo hộ mãi để bắt người dân trong nước phải dùng các sản phẩm đơn điệu và có chất lượng kém”. Hội nhập về bảo hiểm trong trường hợp này đã chứng tỏ khía cạnh tích cực của nó trong việc kích thích đa dạng hóa, chất lượng hóa các sản phẩm bảo hiểm của các công ty bảo hiểm trong nước.
Ngoài ra, còn phải kể đến các doanh nghiệp Việt Nam đã dần ý thức được việc nâng tầm thương hiệu của mình thông qua bảo hiểm. Một ví dụ cụ thể là việc các doanh nghiệp này quảng cáo mạnh mẽ việc đã mua bảo hiểm với giá trị lớn cho khách hàng như một sự đảm bảo cho chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình. Vina taxi (bảo hiểm 10000USD cho khách hàng), ổn áp Robot (ổn áp đầu tiên bảo hiểm 1 tỉ đồng cho khách hàng) hay công viên văn hoá-công viên nước Đầm Sen, công viên duy nhất có mua bảo hiểm cho khách tham quan … là những doanh nghiệp đầu tiên đã nhận ra “thế mạnh tiềm ẩn” này của bảo hiểm. Ngoài ra, sau vụ cháy ITC ở thành phố HCM, các toà nhà cao tầng, các resort nghi mát cũng đã tiến hành việc bảo hiễm cho các khách hàng của mình.

II. Là một quá trình tự do hoá dịch vụ bảo hiểm thận trọng.
Trước 1993, thị trường bảo hiểm Việt Nam là thị trường độc quyền của một doanh ngiệp nhà nước-Bảo Việt đã hoạt động từ 1964. 18/12/1993 cùng với việc ban hành nghị định 100CP của chính phủ, độc quyền nhà nước về bảo hiểm được xoá bỏ. Có thể nói nghị định này đã tạo ra một bước ngoặt trong việc tạo ra môi trường pháp lý cho sự phát triển một thị trường bảo hiểm cạnh tranh, đa dạng hoá sở hữu các doanh nghiệp tại Việt Nam
1994, thêm 2 doanh nghiệp bảo hiểm nữa được thành lập là Vinare (tái bảo hiểm) và công ty bảo hiểm thành phố HCM Bảo Minh (thật chất là Bảo Việt HCM cũ).
1995, các công ty cổ phần bảo hiểm ra đời đầu tiên là PJICO-công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex, công ty cổ phần bảo hiểm nhà rồng Bảo Long có cổ đông điều hành là Bảo Việt.
1996,bắt đầu có sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như cty liên doanh bảo hiểm thế giới VN (VIA) –liên doanh giữa bảo hiểm Tokyo và Bảo Việt, cty môi giới bảo hiểm Inchibrok-liên doanh Aon Vn và Bảo Việt. Đây cũng là năm Bộ Tài Chính cho phép Bảo Việt bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đầu tiên
1999, các cty nước ngoài về bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở Việt Nam như Chinfon-manulife, Bảo Minh_CMG (úc), Prudential (Anh) chính thức đi vào hoạt động.
1/4/2001, luật kinh doanh bảo hiểm đã được quốc hội thông qua tháng 12/2000 có hiệu lực.
Từ 1999-2003, ngoài cá công ty bảo hiểm cổ phần, liên doanh và cty 100% vốn nước ngoài, đã có khoảng 30 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài gián tiếp tham gia vào thị trường qua các hình thức hỗ trợ môi giới, tái bảo hiểm. Các cải tiến trong Luật kinh doanh bảo hiểm và các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện Luật kinh doanh bảo hiểm làm cho thủ tục trở nên đơn giản, thuận tiện và có thời hạn trong trả lời các đề nghị. Ngoài ra, việc Chính Phủ Việt Nam chuyển từ đa đầu mối quản lý (Bộ Thương Mại, Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, Bộ Tài Chính) sang chỉ một đầu mối quản lý (Bộ Tài Chính) cũng được các nhà đầu tư bảo hiểm đánh giá cao. Năm 2003, chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến 2010 được ban hành qua đó, từ nay đến 2010 sẽ tiến hành tự do hoá thị trường bảo hiểm.
Từ 2004, quá trình cổ phần hóa các cty bảo hiểm nhà nước diễn ra mạnh mẽ. Bảo Việt đã chuyển sang hình thức tập đoàn với 2 cty là BH Việt Nam, kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và Bảo Việt nhân thọ. Vinare và Bảo Minh c?a đã tiến hành cổ phần hoá vào 2004. nhà nước tuy vẫn chiếm giữ một lượng cổ phần quan trọng trong các công ty này nhưng sẽ không “ôm đồm”quá nhiều phần ở thị trường này, từng bước khuyến khích tự do hoá hoạt động của thị trường bảo hiểm.
Tính đến thời điểm hiện nay, xét về lĩnh vực bảo hiểm, Việt Nam có 8 cty bảo hiểm nhân thọ, 15 cty bảo hiểm phi nhân thọ, 1 cty tái bảo hiểm và 6 cty môi giới bảo hiểm. Xét trên khía cạnh hình thức sở hữu, trong lĩnh vực bảo hiểm số cty nhà nước là 3, cty liên doanh là 6, 10 cty cổ phần và 11 cty 100% vốn nước ngoài.
Qua những số liệu trên, cho thấy quá trình phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam là 1 quá trình tự do hoá thận trọng, mặc dù đã tự do hoá phần nào và mở cửa cho các cty bảo hiểm quốc tế nhưng vẫn chưa đến độ “hội nhập”. Các cơ chế chính sách của Việt Nam về lĩnh vực bảo hiểm còn chưa bao quát được hết các khía cạnh của bảo hiểm trước hội nhập. Nhiều vấn đề bảo hiểm chưa được chuẩn hoá cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Nhân sự chưa được đào tạo đủ để có thể đưa bảo hiểm nước nhà hội nhập được với thế giới. Để thực sự hội nhập, chuẩn hoá quốc tế 4 vấn đề nhân sự, công nghệ, sản phẩm và trình độ quan lý là những nhiệm vụ không thể không thực hiện.


Những mặt còn tồn tại:
1.Năng lực có hạn về tài chính, nhân sự bảo hiểm, công nghệ, trình độ cũng như kinh nghiệm.

2.Vị trí vẫn còn khiêm tốn trong khu vực: (định vị thị trường bảo hiểm Việt Nam trên thế giới và trong khu vực)
Xét trong khu vực, theo số liệu 2004, tổng phí bảo hiểm đạt 12400 tỉ đồng, tăng trưởng 19.35% so với mức tăng trưởng GDP là 7.7%.tỉ lệ phí bảo hiểm trên thu nhập đầu người là 17.4%. Dự kiến, trong năm 2005 doanh thu toàn ngành bảo hiểm trong cả năm ước đạt 17000 tỉ đồng, tương đương 2.5%GDP. Bảng dưới đây cho thấy doanh thu của BHNT so với GDP(%) vào năm 2001, năm 2002, tỉ lệ này là 1.3% GDP (nguồn “Thời báo kinh tế Việt Nam 2002-2003”).




















Qua đó, có thể thấy khoảng cách khá lớn của bảo hiểm Việt Nam và bảo hiểm khu vực. Hơn thế nữa, công nghệ của bảo hiểm các nước trong khu vực đang theo đà phát triển nhanh, nhiều nước đã triển khai được kênh phân phối sản phẩm qua ngân hàng và thu được nhiều kết quả khả quan như Hàn Quốc, Nhật Bản…Ngoài Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản đạt được vị trí cao trên thế giới (Hàn Quốc thứ 7, Nhật Bản thứ 2 trong top 10 quốc gia trên thị trường bảo hiểm thế giới năm 2002; Trung Quốc thứ 8 theo phí bảo hiểm nhân thọ 2002 và vị thứ 11 thế giới xét trên tổng phí bảo hiểm 2002, nguồn: swissre, sigma số 8/2003), Đài Loan (thứ 14), Hồng Kông (25), Singapore (thứ 31), Malaysia (thứ 33), Thái Lan (thứ 34), Indonesia (thứ 39), Philippines (thứ 45)- các nướ Đông Nam Á trên đều có vị trí trên Việt nam trong bảng xếp hạng của thế giới. Vị trí còn khiêm tốn trong khu vực là một tồn tại thật sự của bảo hiểm Việt Nam.
Xét trên thế giới, swissre tháng 2/2005, đã xếp Việt Nam ở vị trí 55 về doanh thu bảo hiểm, chiếm 0.03% thị phần bảo hiểm thế giới. Phí bảo hiểm bình quân đầu người là 6.8$/người. Vị trí cũng như mức phí bảo hiểm này còn thấp nếu so sánh với trong khu vực và trên thế giới mặc dù đã có những cải thiện so với vị trí trước đây là vị trí 58 trên thế giới với tổng phí bảo hiểm 505 triệu USD, chiếm 0.02% thị phần bảo hiểm thế giới vào năm 2002 (swissre, sigma số 08 – 12/2003)

3.Chưa hội nhập thật sự được:
Do một số tồn tại trong cơ chế, chính sách bảo hiểm, trong kinh nghiệm cũng như trong công nghệ, một số loại hình nghiệp vụ bảo hiểm của Việt Nam vẫn chưa hội nhập thực sự với thị trường thế giới, thể hiện rõ ở các loại hình nghiệp vụ như bảo hiểm hàng hoá, cháy, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu (P&I), kỹ thuật…
Thực tế, vai trò bảo hiểm Việt Nam đã dần được khẳng định. Vị thế bảo hiểm được nâng cao, người dân đã có thói quen mua bảo hiểm. Tuy nhiên, hội nhập vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, nhất là đối với những doanh nghiệp bảo hiểm trong nước vốn có ít kinh nghiệm đối với những nghiệp vụ còn mới và chưa phổ biến ở Việt Nam. Hội nhập thương mại và đầu tư cũng đồng nghĩa với sự hội nhập của dịch vụ và bảo hiểm. Phá bỏ các rào cản để các doanh nghiệp có thể tự do cạnh tranh thực chất là một con dao hai lưỡi. Một mặt, nó giúp cho các công ty bảo hiểm Việt Nam thực sự hội nhập với bảo hiểm thế giới, tự phát huy, tiếp thu được các thế mạnh và các kinh nghiệm mới. Mặt khác, nó cũng đòi hỏi các công ty bảo hiểm trong nước phải thực sự lớn mạnh và đủ bản lãnh để thử sức mình trên một sân chơi lớn không thiếu các đại gia-các tập đoàn bảo hiểm với lịch sử hình thành lâu đời và kinh nghiệm dày dạn về bảo hiểm.


Những thách thức sẽ phải đối mặt:
1.Chỉ số giá tiêu dùng tiếp tục tăng cao, lãi suất ngân hàng hấp dẫn thực sự là những thách thức cho mục tiêu tăng trưởng của các doanh nghiệp và những nhà quản lý bảo hiểm.

2.Cơ chế, chính sách bảo hiểm, công cụ quản lý chưa hoàn thiện.
Ngoài những khó khăn do cơ chế, chính sách bảo hiểm chưa hoàn thiện thì nguy cơ rủi ro ngay trong các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, do phương pháp cạnh tranh cũng như kinh nghiệm quản lý còn non kém cũng là một thách thức lớn. Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một tổ chức nào đánh giá chất lượng hoạt động của bảo hiểm, cụ thể là các công ty đánh giá xếp loại, xếp hạng doanh nghiệp bảo hiểm như các tổ chức A.M.Best, chỉ số S&P500…việc khả năng tài chính của các công ty bảo hiểm Việt Nam còn chưa tương xứng với giá trị hợp đồng đã nhận do đó vẫn còn xảy ra. Thêm vào đó, việc cạnh tranh không lành mạnh như hạ phí dưới mức an toàn quy định, tăng hoa hồng phí quá mức quy định của Bộ Tài Chính…càng làm cho rủi ro của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam tăng cao. Một trong những thách thức khác của bảo hiểm la hiện tượng trục lợi bảo hiểm. Việc quản lý chưa thực sự hiệu quả đã tạo nên kẽ hở cho các nhân viên bảo hiểm cũng như cho người tham gia bảo hiểm với ý đồ trục lợi. Như vậy, tìm ra một phương pháp quản lý phù hợp, thực sự hiệu quả trong tình hình bảo hiểm Việt Nam hiện nay, đầu tư đúng mức đối với khâu giám định, quản lý rủi ro trong khai thác bảo hiểm, lành mạnh hoá việc đánh giá rủi ro giám định, bồi thường bảo hiểm cũng là một thách thức lớn đối với bảo hiểm Việt Nam hiện nay.

3.Sự có mặt của các tập đoàn bảo hiểm lớn vào thị trường Việt Nam.
Sự có mặt của các đại gia trong ngành bảo hiểm thế giới xâm nhập vào Việt Nam cũng là một thách thức mà các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang phải đối đầu. Thua kém về uy tín, trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm cũng như công nghệ, chỉ duy nhất với ưu thế nắm rõ “sân nhà”, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam khó có thể cạnh tranh với nhóm các công ty bảo hiểm này về chất lượng dịch vụ cũng như sự đa dạng, phong phú các loại hình bảo hiểm.
Thực tế, từ khi có sự xâm nhập của các công ty bảo hiểm này vào Vịêt Nam, thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước ngày càng giảm mạnh. Chẳng hạn, vào trước 1999, Bảo Việt hầu như đã thống lĩnh thị trường bảo hiểm trong nước nhưng thị phần của Bảo Việt đã nhanh chóng bị thu hẹp khi xuất hiện các daonh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài, đặc biệt là Prudential việt Nam. Đến giữa 2004, Prudential Việt Nam đã có thị phần ngang bằng với Bảo Việt và cho đến giữa 2005, Prudential đã “bành trướng” thị phần của mình, trở thành doanh nghiệp có thị phần bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Việt Nam (khoảng 42%). Sắp tới, thêm các công ty bảo hiểm Hoa kỳ (ACE INA International Holdings, New York Life International) và Pháp (Prévoir) được thành lập với 100% vốn nước ngoài thực sự sẽ là thách thức mới cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Bảo hiểm Vịêt Nam đã thực sự sẵn sàng cho hội nhập hay chưa là câu hỏi đang được đặt ra và thảo luận.


B.DỰ BÁO VỀ TÌNH HÌNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

1. Thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ còn tăng trưởng mạnh mẽ nữa hay không?
Việt Nam đã qua thời kỳ tăng trưởng ban đầu của thị trường bảo hiểm. Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu đi vào ổn định do đó việc đạt được tốc độ tăng trưởng như hiện nay của ngành bảo hiểm là khả năng khó xảy ra. Những diễn biến bất lợi trên thị trường trong nước cũng như toàn cầu làm Việt Nam khó có thể đạt mục tiêu tăng trưởng 20.2% vào cuối năm nay. Mặc dù tiềm năng của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn dồi dào với tỉ lệ dân số trẻ (dưới 30 tuổi) chiếm tới 60%, dân số đông và tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao, mới chỉ có 6% dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ việc duy trì tỉ lệ phát triển mạnh mẽ như trong những năm gần đây là điều rất khó đạt được, nhất là khi thị trường bảo hiểm Việt nam đã qua thời điểm phát triển nóng và đi vào ổn định. Ngoài ra, do sự xuất hiện của nhiều sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, nhân thọ đã có sự phát triển chậm lại kéo theo sự chững lại về tăng trưởng doanh thu của toàn ngành. Oâng Lê Song Lai, vụ phó vụ bảo hiểm giải thích sự chững lại này như sau: “khi quy mô thị trường bằng 1.5%GDP thì tốc độ tăng trưởng về doanh thu đạt 10-15%. Sau khi quy mô thị trường vượt 2%, tốc độ này sẽ đạt 5-10%. Năm 2004, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã đạt 1.8%, do đó tốc độ tăng turưởng chậm lại là đương nhiên”.

2. Vấn đề hội nhập của thị trường bảo hiểm Việt Nam
Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang từng bước phát triển theo hướng tự do hoá, các cty bảo hiểm, cty liên doanh đã có mặt ở Việt Nam. Bên cạnh đó, việt Nam cũng đã tham gia vào nhiều tổ chức khu vực như ASEAN, APEC, ASEM; ký kết các hiệp định song phương với Mỹ, Nhật, Aán độ và Trung quốc. Việt Nam cũng đang gấp rút hoàn thành những vòng đàm phán cuối cùng để gia nhập WTO. Hội nhập vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm. Hội nhập thương mại và đầu tư cũng có nghĩa kéo theo hội nhập dịch vụ và bảo hiểm, đồng nghĩa với việc phá bỏ các rào cản để các doanh nghiệp bảo hiểm được tự do cạnh tranh. Đây cũng là một thách thức to lớn đối với bảo hiểm Việt Nam. Để tồn tại được trong sân chơi mới này, có thể dự báo được sự phát triển đa dạng về các loại nghiệp vụ bảo hiểm, chất lương dịch vụ bảo hiểm cũng sẽ được nâng cao như là một thương hiệu cho bảo hiểm Việt Nam.

3. Phát triển kênh phân phối “bán bảo hiểm qua ngân hàng” – xu thế tất yếu trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ giai đoạn hội nhập quốc tế:
Trong những năm gần đây, các nhà bảo hiểm Châu Á đang nỗ lực phát triển kênh bán bảo hiểm qua ngân hàng. Trong xu thế chung đó của khu vực, Việt Nam không phải là một ngoại lệ, nhất là trong xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế như hiện nay. Đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt của các cty bảo hiểm ngoài nước đòi hỏi các công ty bảo hiểm Việt Nam phải có những thay đội trong cung ứng dịch vụ. Bán bảo hiểm qua ngân hàng (Bancassurance) chắc chắn sẽ là một trong những kênh phân phối hiệu quả để thúc đẩy bán hàng, tăng doanh thu phí bảo hiểm nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng Chính phủ Việt Nam đặt ra cho các công ty bảo hiểm trong nước (tốc độ tăng trưởng bình quân lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ khoảng 28%/năm cho đến năm 2010).
Ngoài các kênh truyền thống (đại lý, môi giới, đại diện thương mại) và các kênh trực tiếp (điện thoại, e-mail, thư tín…). Bán bảo hiểm qua ngân hàng cung cấp cho nhà bảo hiểm, ngân hàng và khách hàng nhiều tiện ích, được thể hiện qua bảng sau:


NHÀ BẢO HIỂM NGÂN HÀNG KHÁCH HÀNG
Tiếp cận nguồn dữ liệu khách hàng mới Hưởng hoa hồng, tăng doanh thu Thêm một kênh để tiếp cận sản phẩm
Giảm chi phí phân phối Đa dạng hóa sản phẩm cung cấp Thanh toán phí đơn giản
Có thêm khách hàng mới Có thêm khách hàng mới Mua sản phẩm giá thấp hơn
Đa dạng hóa kênh phân phối Tăng uy tín Được cung cấp thông tin và được cung cấp thêm một số dịch vụ
Tăng hiệu quả kinh doanh (do giảm chi phí thu phí...) Tăng hiệu quả kinh doanh Mua tại 1 nơi (kết hợp ngân hàng và dịch vụ bảo hiểm)

Nhận thức được những ưu điểm trên của kênh bán bảo hiểm qua ngân hàng, các nước Châu Á như Nhật Bản hoặc Hàn quốc đã tiến hành lênh phân phối mới này và đạt được nhiều kết quả khả quan (Hàn Quốc sau 2 tháng đẩy mạnh phát triển kênh “Bán bảo hiểm qua ngân hàng”, số đơn bảo hiểm nhân thọ được bán ra đã tăng gấp 3 lần so mức bình quân những tháng trước đó)
“Bán bảo hiểm qua ngân hàng” bên cạnh phát triển hệ thống đại lý sẽ thúc đẩy phát triển và tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ để các nhà bảo hiểm Việt Nam đạt mục tiêu Chính phủ đặt ra cho lĩnh vực nhân thọ. Tổ chức tốt kênh “Bán bảo hiểm qua ngân hàng” các nhà bảo hiểm Việt Nam cần thực hiện những việc sau:
- Thứ nhất, liên kết với các ngân hàng để cung cấp dịch vụ bảo hiểm đến các nhóm đối tượng khách hàng khác nhau.
- Thứ hai, nghiên cứu triển khai các sản phẩm đầu tư, sản phẩm liên kết để cùng với ngân hàng cung cấp sản phẩm “bảo hiểm - ngân hàng” trọn gói cho khách hàng.
-Thứ ba, kết hợp với ngân hàng để nâng cao chất lượng dịch vụ hậu mãi và mở rộng chương trình hậu mãi cho khách hàng: Vay tiền ở ngân hàng thông qua hợp đồng bảo hiểm, ưu đãi trong sử dụng thẻ ATM...
£ƒ€¥$




Lên đầu trang

piratenoir
Thành Viên Mới

1 bài gởi

Posted - 14/11/2005 :  15:17:17  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send piratenoir a Yahoo! Message  Trả lời trích đoạn
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM



Nguyễn Khánh Vương
Lớp: NH9 - K28
MSSV: 102280063
STT: 53
Email: PirateNoir@Gmail.com


Vai trò của hoạt động kinh doanh bảo hiểm đối với nền kinh tế của một quốc gia chính được ví như là con đường băng để nền kinh tế có thể cất và hạ cánh. Nói như vậy thì cũng đã đưa ra được một cái nhìn khá hình tượng và dể hiểu đối với vai trò của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nếu như ngành bảo hiểm phát triển tốt và mạnh thì cũng có nghĩa là con đường băng sẽ dài và rộng, tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho nền kinh tế có thể cất cánh dễ dàng mà cũng có thể hạ cánh an toàn trong trường hợp bất trắc. Và ngược lại, nếu con đường băng này mà ngắn và rộng thì không chỉ việc đưa con tàu kinh tế của đất nước sẽ gặp khó khăn mà một khi đã cất cánh được rồi thì e rằng cũng khó mà hạ được cánh an toàn trong trường hợp trục trặc.
Nền kinh tế Việt Nam từ sau khi thực hiện quá trình Đổi mới đã ghi nhận những bước phát triển vượt bậc và ngoạn mục. Sự phát triển này của nền kinh tế có sự liên kết mật thiết với sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Hai mặt này vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau. Cũng trên quan điềm trên đây, bài viết này xin được đi vào đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua và dự báo tình hình của nó trong thời gian tới đây bằng việc gắn kết việc phân tích, dự báo nền kinh tế Việt Nam.

I. ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM THỜI GIAN VỪA QUA (TỪ 1993 ĐẾN NAY):
a) Thị trường bảo hiểm Việt Nam - những bước tiến dài so với quá khứ
Hoạt động bảo hiểm xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu trước 1945 theo dấu chân của các nhà buôn đường biển nước ngoài vào Việt Nam. Sau khi đất nước giành được độc lập thì hoạt động bảo hiểm cũng không có dấu hiệu khởi sắc. Trong khoảng thời gian từ năm 1964 đến 1993 thì Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) là diễn viên duy nhất trên thị trường bảo hiểm với những sản phẩm dịch vụ nghèo nàn, hoạt động giống cơ quan quản lý Nhà nước hơn là đơn vị kinh doanh. Mãi đến năm 1993, với sự việc ban hành nghị định 100/NĐ-CP (18/12/1993) với những quy định của chính phủ về kinh doanh bảo hiểm thị trường bảo hiểm Việt Nam như được thổi vào luồng gió mới: Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có một bước phát triển nhảy vọt cả về lượng và chất.
Theo những thông tin mới nhất mà người viết bài này nhận được thì trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện có 30 công ty bảo hiểm đang hoạt động, trong số đó có thể nêu ra một vài tên tuổi lớn như Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), công ty bảo hiểm TP.HCM (Bảo Minh), hay một số đại diện tiêu biểu từ nước ngoài như Prudential (Anh), AIA (Mỹ)... Để thấy được quy mô và sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam, xin được đưa ra đây vào con số để minh họa:

Năm............................Doanh thu phí BH trên toàn thị trường
===========================================
1995........................... 1000
1996........................... 1263
1997........................... 1405
1998........................... 1869
1999........................... 1606
2000........................... 1766
2001........................... 2158
2002........................... 3070
2003........................... 3887
2004........................... 4801
============================================
ĐVT: tỷ đồng.
(Nguồn: từ bài giảng của thầy Nguyễn Tiến Hùng!)

Có thể nhận thấy doanh thu của thị trường bảo hiểm tăng trưởng rất mạnh trong hơn một thập kỷ qua. Điều này có thể giải thích bời những thay đồi về cơ chế quản lý thị trường bảo hiểm của Chính phủ Việt Nam ta theo hướng nới lỏng, xóa bỏ độc quyền Nhà nước, tự do hóa thị trường bảo hiểm, mà theo sau đó là sự ra đời của hàng loạt các công ty bảo hiểm của Nhà nước, đặc biệt là các công ty cổ phần, liên doanh trong một khoảng thời gian rất ngắn. Ngoài ra việc tự ý thức được lợi ích khi tham gia bảo hiểm của các cá nhân và tổ chức kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển này. Một nguyên nhân đặc biệt quan trọng không thể khong nhắc đến chính là sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ nền kinh tế, nhiều ngành nghề mới ra đời hơn, nhu cầu bảo hiểm theo đó mà tăng lên chính là cơ hội cho các nhà kinh doanh bảo hiểm.
So với thị trường bảo hiểm thế giới, tốc độ tăng trưởng nhanh của thị trường bảo hiểm Việt Nam là rất lớn (23%/năm trong khoảng thời gian từ 1993-2002). Điều là xuất phát từ nguyên nhân lịch sử của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Thực ra mà nói hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam chỉ mang tính thị trường từ năm 1993 (trước đó chỉ có mỗi công ty Bảo Việt), chính vì vậy mà thị trường này gần như là chưa được khai phá trước đó. Một tốc độ tăng trưởng cao là điều dễ hiểu trong trường hợp này.
Song song với sự tăng trưởng mạnh về doanh thu phí bảo hiểm thì đóng góp của ngành bảo hiểm trở lại nền kinh tế quốc dân cũng tăng lên liên tục. Bảng số liệu dưới đây là một minh chứng:
Năm Số vốn ĐT trở lại nền KT
===================================
1996______________918
1997______________1231
1998______________1754
1999______________2476
2000______________3897
2001______________5950
2002______________9748
2003______________14602
2004______________23000
===================================
ĐVT: tỷ đồng
Nguồn: bài giảng thầy Nguyễn Tiến Hùng!

Qua đó có thể thấy được vai trò quan trọng của hoạt động bảo hiểm trong việc huy động vốn trong nền kinh tế. Từ chỗ không được đầu tư vốn nhàn rỗi, đến nay các doanh nghiệp bảo hiểm đã đầu tư trở lại nền kinh tế với tốc độ tăng bình quân 180% mỗi năm. Số liệu thống kê cho thấy trong năm 2002, ngành bảo hiểm đã tạo công ăn việc làm cho 76.000 lao động và nộp NSNN tới 300 tỷ đồng.
Những gì đưa ra ở trên là cái nhìn toàn cảnh của thị trừơng bảo hiểm Việt Nam. Để có được cái nhìn chi tiết hơn thì cần phải quan sát thị trường trên từng bộ phận của nó và cả trên khía cạnh doanh nghiệp.
* Đối với thị trường bảo hiểm phi nhân thọ: có sự thay đổi lớn về thị phần từ năm 1995 đến 2004; ngày càng có nhiều công ty tham gia thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, chính điều này làm cho thị phần của Bảo Việt bị giảm (tuy nhiên về số tuyệt đối thì doanh thu công ty này vẫn tăng khá cao). Việc có nhiều công ty tham gia thị trường làm cho thị trường ngày càng được khai thác triệt để. Với một thị trường mà lịch sử còn non trẻ như Việt Nam thì tiềm nămg vẫn còn rất lớn.
* Đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ: ngoài các công ty gạo cội trong làng bảo hiểm Việt Nam thì sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm nước ngoài như Prudential, AIA, ChinfonManulife... ngày càng làm tính cạnh tranh trên thị trường này ngày càng cao, quyết liệt hơn. Thị trường ghi nhận sự tăng trưởng mạnh của Prudential Việt Nam khi công ty này lần đầu tiên chính thức vượt qua Bảo Việt để trở thành người dẫn đầu trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
b) Thị trường bảo hiểm Việt Nam - Còn là chấm nhỏ trên bản đồ bảo hiểm thế giới
Những gì trên đây là vị trí của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong hiện tại, được nhìn nhận trong tương quan so với chính nó trong quá khứ. Nếu chỉ dừng lại ở đó e rằng sẽ là khiếm khuyết vì chỉ đưa ra được một cái nhìn phiến diện. Vậy thì "chúng ta đang ở đâu trên bản đồ thế giới?" (xét trong phạm vi lĩnh vực bảo hiểm). "Chúng ta chỉ là anh chàng tí hon David trên thị trường bảo hiểm thế giới!" là câu trả lời.
Quả vậy, theo thống kê của tạp chí Gigma (số tháng 8 - 12 năm 2003), tổng doanh thu phí bảo hiểm của thị trường Việt Nam là 505 triệu USD và chỉ chiếm 0.02% thị phần thị trường bảo hiểm thế giới. Thứ hạng của Việt Nam trên thị trường toàn cầu là 58 (vào năm 2004), còn thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Singapore (31), Malaysia (33), Thailand (34)... Tuy nhiên điều đáng mừng là vị trí của thị trường bảo hiểm Việt Nam trên bản đồ thế giới được cải thiện đáng kể qua các năm. Nhờ vào chính sách của Chính phủ Việt Nam mà mức độ hội nhập của bảo hiểm trong nước vào thị trường bảo hiểm thế giới cũng tăng lên tuy nhiên khong thực sự mạnh mẽ. Điều này được lý giải bởi sự thận trọng từ phía Việt Nam trong quá trình hội nhập, không muốn hội nhập làm các công ty trong nước bị lép vế.
c) Thị trường bảo hiểm Việt Nam - Vẫn còn đó những điểm yếu
Ngoài những tín hiệu đáng mừng nói trên thì thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn đọng lại một số tồn tại lớn như sau:
[- Phạm vi và quy mô của thị trường còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng và khả năng của nền kinh tế xã hội (tổng doanh thu chỉ mới chiếm 1,32%GDP)
- Mức độ đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế xã hội đối với từng loại bảo hiểm còn hạn chế, một số lĩnh vực có nhu cầu bảo hiểm cao nhưng chưa được triển khai hoặc chỉ mới đạt tỷ lệ khai thác thấp (bảo hiểm hưu trí cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước, bảo hiểm thất nghiệp, y tế tự nguyện, rủi ro mùa màng, trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, tư vấn…).
- Môi trường cạnh tranh còn chưa lành mạnh (hạ phí, tăng hoa hồng, lôi kéo đại lý …)
chưa bình đẳng giữa các tổ chức bảo hiểm, giữa các thành phần kinh tế (về thuế, cơ chế tài chính).
- Năng lực nhận tái và phần giữ lại chưa cao, hiệu quả thấp.
- Hoạt động và môi trường đầu tư còn hạn chế, chưa đa dạng chủ yếu mua trái phiếu
(32%), gửi tín dụng (51%).
- Cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế, thiếu thông tin minh
bạch, sự tư vấn, môi giới chưa phổ biến, khách hàng thiếu những quyết định đúng.
- Một số lĩnh vực tiềm năng chưa được khai thác; như:
+ Lĩnh vực có nhu cầu cao và chính sách nhà nước khuyến khích là bảo hiểm nông nghiệp chỉ mới đạt 0,08% diện tích cây trồng và 0,1% vật nuôi.
+ Bảo hiểm đánh bắt thủy sản 5 – 8%, nuôi trồng thủy sản 1%.
+ Bảo hiểm tai nạn con người, học sinh, sinh viên chỉ đạt khoảng 12 – 15%.
+ Bảo hiểm hành khách chỉ đạt 39%;
+ Bảo hiểm kỹ thuật đạt 6 – 7% nguồn đầu tư trong nước và hơn 70% đối với khu vực đầu tư nước ngoài.
+ Bảo hiểm hàng xuất khẩu đạt 3 – 5% và hàng nhập khẩu hơn 20% tổng kim ngạch nhập khẩu.
+ Bảo hiểm xe cơ giới chỉ 30 – 40% xe ôtô và 10% xe máy (năm 2003 này NĐ 15/CP phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp không mua bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới nhưng cũng chỉ
tăng 30 – 40% lượng xe ).
- Bảo hiểm nhân thọ tuy đã phát triển nhanh tăng trưởng mạnh hơn dự kiến của nhà xây
dựng chiến lược nhưng cũng chỉ đạt 3% dân số.]
©

II. DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI (ĐẾN 2010)
Để làm căn cứ cho việc dự báo sự phát triển của bảo hiểm Việt Nam, việc làm trước hết là phải tìm xem những nhân tố nào sẽ có tác động đến sự phát triển này. Trên cơ sở nhận diện được các yếu tố tác động, việc còn lại là tìm hiểu thực trạng của các yếu tố đó và đưa ra con số dự báo thích đáng nhất.
a. Những nhân tố ảnh hưởng
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân nói chung;
- Các chính sách vĩ mô của Nhà nước trong định hướng phát triển các ngành dịch vụ,trong đó có dịch vụ tài chính – tiền tệ;
- Hệ thống các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
- Khả năng hội nhập với thế giới;
- Nhu cầu được bảo hiểm của các tổ chức và cá nhân

b. Dự báo sự phát triển
Theo kết quả của các nghiên cứu trong lĩnh vực bảo hiểm, nếu nền kinh tế tăng trưởng 1% thì thị trường bảo hiểm sẽ tăng trưởng khoảng 4%. Nhìn lại nền kinh tế Việt Nam, tốc độ tăng trưởng trong những năm khá cao (đứng thứ hai trong khu vực châu Á) và ổn định, khoảng 7% mỗi năm. Tốc độ này chắc chắn sẽ được duy trì trong những năm tới đây, thậm chí còn cao hơn nữa. Như vậy cũng đã có thể thấy được tiềm năng phát triển mạnh của bảo hiểm trong những năm tiếp theo.
Về chính sách vĩ mô của Chính phủ:hiện nay phát triển các ngành dịch vụ, trong đó có dịch vụ tài chính – tiền tệ là một trong những mục tiêu khá quan trọng của Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc các ngành thuộc lĩnh vực tài chính - ngân hàng - bảo hiểm sẽ nhận được sự quan tâm và được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Các chính sách mới ra đời cũng sẽ có nhiều ưu ái hơn, thông thoáng hơn. Đặc biệt với TP.HCM, chúng ta cũng đã có chủ trương phát triển TP này trở thành một trung tâm về dịch vụ tài chính - ngân hàng cho cả nước. Chắc chắn trong tương lai đây sẽ là mảnh đất cho các công ty bảo hiểm dụng võ.
- Luật kinh doanh bảo hiểm và hệ thống các văn bản pháp quy đa dạng đang từng bước được hoàn thiện theo chuẩn mực chung, tạo lập môi trường pháp lý bình đẳng, tạo động lực và hành lang ổn định để thị trường phát triển lành mạnh.
- Lộ trình hội nhập quốc tế về kinh tế, thương mại, đầu tư và tài chính diễn ra nhanh,
mạnh cả về diện rộng lẫn chiều sâu gắn liền với hệ thống các chuẩn mực quốc tế hóa, lĩnh vực tài chính sẽ diễn ra cạnh tranh gay gắt trong môi trường mới của xu hướng toàn cầu. Không nằm ngoài xu thế đó, trong ngành bảo hiểm sẽ có ngày càng nhiều các tên tuổi lớn xuất hiện ở Việt Nam làm cho thị trường bảo hiểm sẽ trở nên sôi động hơn, cũng có nghĩa là sẽ mạnh hơn.
- Các doanh nghiệp bảo hiểm đang đứng trước thách thức của nền kinh tế xã hội đang đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, ngày càng có nhiều hoạt động kinh tế mới xuất hiện, nhu cầu bảo hiểm phi nhân thọ sẽ tăng lên nhanh chóng. Về điểm này cũng cần nhấn mạnh đến sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu - một trong những loại hình hoạt động kinh tế mà nhu cầu bảo hiểm rất cao- trong những năm tới. Hoạt động này sẽ tạo ra lượng cầu rất lớn đối với ngành bảo hiểm. Ngoài ra, đời sống của dân cư ngày càng được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên qua các năm (tính theo phương pháp PPP, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam qua các năm lần lượt là: 1995 - 1.236USD, 2000 - 2300USD; 2004 - 2580USD). Một khi thu nhập tăng lên thì nhu cầu của người dân đối với bảo hiểm nhân thọ cũng sẽ tăng lên tương ứng. Chính vì vậy mà nhiều loại hình bảo hiểm nhân thọ mới sẽ ra đời để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
[Dự đoán số lượng doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục tăng thêm thích hợp với thời gian và điều kiện của tình hình thị trường; doanh thu phí bảo hiểm sẽ tăng lên 4% - 5%/ GDP vào năm 2010. Mức tăng trưởng bình quân chung khoảng 23% – 25%/năm trong đó phi nhân thọ 16% – 18%/năm. Bảo hiểm nhân thọ tiếp tục tăng trưởng nhanh từ 35 – 40%/năm và sẽ ổn định dần vào các năm sau ở mức bình quân 20% – 25%/năm. ] ©



======================
Chú ý: [...] © những phần này là theo ý kiến của ông Đặng Ngọc Thanh - Giám đốc Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam.
======================
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 26/03/2006 :  10:55:33  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message  Trả lời trích đoạn
kimcuong-Đã gởi - 16/10/2005 : 14:58:46

Hiện nay nhìn chung bộ mặt tổng quan về tình hình bảo hiểm có nhiều khởi sắc nhưng về BHNT thi đang có sự sụt giảm về tốc độ tăng trưởng, cụ thể so với cùng kỳ năm trước 2004, tốc độ tăng trưởng chỉ có 77,9%.Nguyên nhân là do sự cạnh tranh không lành mạnh, cụ thể một số đại lý kích động khách hàng kiện tụng, chuyển sang mua Bảo Hiểm của mình. Hơn thế nữa là có những suy nghĩ tiêu cục đối với Công Ty Bảo Hiểm nước ngoài.

ĐẶNG KIM CƯƠNG


Tất cả vì sự phát triển của ngành Bảo hiểm Việt Nam!

NGUYỄN TIẾN HÙNG
hungbh@gmail.com
thuctapbaohiem@gmail.com
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 26/03/2006 :  10:57:48  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message  Trả lời trích đoạn
caesarvn1984
Posted - 20/10/2005 : 20:16:58

thông tin mà bạn nói về tình hình bảo hiểm Việt Nam thì tui không có ý kiến, tui chỉ không đồng tình về ý kiến sau thui. Kiện tụng có thể là do công ty đó làm ăn bê bối, hay là do cách đền bù của họ không thuyết phục được người dân.
Còn việc có kích động thì ngay bản thân tui cũng không thích, vì không minh bạch cho lắm và nó chỉ có ảnh hưởng xấu đến nền bảo hiểm VN.Nhưng tui lại thấy đó là một tính hiêu tốt, vì các công ty bảo hiểm đã chú ý hơn đến người mua bảo hiểm, thế thì chỉ có người mua bảo hiểm lời hơn, khi đó thì mới đúng tinh thần cảu bảo hiểm phải không?



Tất cả vì sự phát triển của ngành Bảo hiểm Việt Nam!

NGUYỄN TIẾN HÙNG
hungbh@gmail.com
thuctapbaohiem@gmail.com
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 26/03/2006 :  11:01:57  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message  Trả lời trích đoạn
TangMyPhucNH7
Đã gởi - 01/11/2005 : 00:19:38

ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

1. Đánh giá:

- Ở Việt Nam, tình hình có sự khác biệt so với các nước đang phát triển trên thế giới,
đặc biệt trong một vài năm gần đây song song với những việc cải cách hướng tới hoàn thiện bảo hiểm xã hội từ 1995. Bảo hiểm thương mại VN cũng có nhiều cải cách quan trọng và đạt nhiều thành tựu trong việc đảm bảo cho các rủi ro xã hội
Thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển nhanh với tốc độ cao và tạo ra sự tăng trưởng “bùng nổ”, năm 2002, theo số liệu của Hiệp hội bảo hiểm VN, doanh thu của bảo hiểm nhân thọ VN đạt 4645 tỷ VND, chiếm tỷ trọng 60,27% trong tổng doanh thu bảo hiểm gốc toàn thị trường.
Lĩnh vực phi nhân thọ cũng phát triển không kém. Năm 2002, doanh thu bảo hiểm gốc thu được từ những loại hình này đạt 484 tỷ VND, chiếm 15,8% trong tổng phí bảo hiểm gốc phi nhân thọ.
Kết quả khả quan trên có thể thấy do 1 số nguyên nhân sau:
+ Một là, thành công của chính sách đổi mới dẫn đến kinh tế tăng trưởng vói tốc độ cao và ổn định trong hơn một thập niên gần đây, thu nhập tăng, tạo cơ sở kinh tế quan trọng cho việc hình thành và sử dụng các quỹ bảo hiểm.
+ Hai là, sự mở cửa kịp thời của thị trường bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ tạo điều kiện chuyển giao công nghệ bảo hiểm đảm bảo cho rủi ro xuất khẩu. Đặc biệt các doanh nghiệp bảo hiểm đã có những nghiên cứu khá tốt để có thể triển khai những dịch vụ bảo hiểm khá phù hợp với bối cảnh knh tế - xã hội trong giai đoạn chuyển đổi của VN đặc biệt phù hợp với tình trạng thu nhập người lao động còn thấp.
- Quá trình tự do hoá dịch vụ bảo hiểm tuy chậm nhưng có lộ trình, có bước đi. Tình hình trên cũng cho thấy việc quản lý các đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro xã hội có biểu hiện bước đầu của sự “phi tập trung hoá”, “thành phần doanh nghiệp” (có sự tham gia của tư nhân) đã có vai trò đáng kể. Một số mô hình “bảo hiểm cộng đồng” cũng đang được nghiên cứu, thử nghiệm. Như vậy nước ta đã dần dần xoá độc quyền nhà nước, đẻ ra nhiều công ty bảo hiểm nhà nước, công ty bảo hiểm cổ phần, mở cửa ra nước ngoài theo hình thức liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài.
Tuy nhiên ta chỉ mới tự do hoá và mở cửa, chưa hội nhập, đó là vấn đề còn tồn tại, vị trí của bảo hiểm thương mại VN còn quá khiêm tốn, trong khi đó yêu cầu cạnh tranh, phát triển và hội nhập đang đặt ra nhiều cách thức rất gay gắt.

2. Dự báo
Theo kinh nghiệm, cứ 1% tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo được 4% tăng trưởng vể bảo hiểm
Mặc dù trong những năm gần đây, dịch vụ bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và dược đánh giá là còn nhiều tiềm năng để phát triển, nhưng các chuyên gia vẫn khẳng định: thị trường bảo hiểm có thể sẽ “ hạ nhiệt” trong thời gian tới.
Theo một số chuyên gia tài chính, chỉ số giá tiêu dùng tiếp tục tăng cao khiến cho phần tích luỹ của người dân cũng bị giảm sút, vì vậy họ phải cân nhắc nhiều hơn trước khi bỏ ra một phần tiền để mua bảo hiểm. Trong khi đó các ngân hàng thương mại, vốn là các đối thủ cạnh tranh của các công ty bảo hiểm, lại liên tục tăng lãi suất tiền gởi tiết kiệm khiến cho các công ty bảo hiểm như đang ngồi trên đống lửa.
Báo cáo mới đây của Bộ Tài Chính cũng cho thấy: năm nay, lĩnh vực bảo hiểm VN rất khó rất khó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng dự kiến là 20,2% do những diễn biến bất lợi trên thị trường trong nước và thế giới.
Do giá cả tăng cao hơn và lãi suất tiền gởi ngân hàng khá hấp dẫn nên tỷ lệ huỷ hợp đồng của khách hàng tại các công ty bảo hiểm ước ở mức trên 8%. Mặc dù đây chưa phải là mức đáng lo ngại và chưa cao hơn các nước khác trong khu vực, nhưng giới chuyên môn cho rằng: sắp tới các công ty bảo hiểm sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn.



Tất cả vì sự phát triển của ngành Bảo hiểm Việt Nam!

NGUYỄN TIẾN HÙNG
hungbh@gmail.com
thuctapbaohiem@gmail.com
Lên đầu trang
  Quay lại Đề Tài Tiếp tục  
 Đề tài mới  Trả lời đề tài
 In đề tài
INSURANCE INFORMATION CENTER 2004- SIC Copyright Go To Top Of Page
Thời gian thực hiện 0.6 giây.