INSURANCE INFORMATION CENTER
INSURANCE INFORMATION CENTER
Trang Chủ | Cá nhân | Đăng kí | Đề tài mới | Thành viên |
Tìm kiếm
| Trợ giúp
Tên đăng nhập
   Mật khẩu
Lưu mật khẩu
 Diễn Đàn Chính
 GÓC NGHIÊN CỨU BẢO HỂM
 Bảo hiểm thương mại
 Đề tài 3: TTBHVN (dành cho SV NH)
 Đề tài mới  Đề tài bị khóa
 In đề tài
Tiếp Tục
Tác giả Quay lại Đề Tài Tiếp tục
Page: of 2

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Đã gởi - 27/09/2004 :  05:48:07  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Gởi tới tienhung một tin bằng Yahoo Message
Đề tài thảo luận dành cho sinh viên Lớp NH K27 đang học môn NL&TH BH, thời hạn đến 24 h ngày chủ nhật 10/10/2004, các bạn nhớ gởi bài có ghi rõ Họ tên thật và lớp)
[size=3]"Hãy đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam"[/size=3]

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 01/10/2004 :  17:13:57  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[font=Verdana]Thay oi de tai nay lon qua, tui em muon lam chung theo nhom duoc khong thay?[/font=Verdana]

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 02/10/2004 :  23:23:29  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
thay phai cai them font nua di, vi chung nay fonts ko dap ung duoc nhu cau. them vao do la post bai rat kho (no ko danh duoc tieng Viet bang kieu VNI)
Lên đầu trang

ayumi
Thành Viên Mới

Vietnam
3 bài gởi

Posted - 03/10/2004 :  16:56:00  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[size=3][/size=3][size=5][/size=5][font=Times New Roman][/font=Times New Roman][font=Verdana][/font=Verdana]


ayumi
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 03/10/2004 :  20:25:45  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam:

Như ta đã biết, thị trường bảo hiểm Việt Nam thực sự mở cửa vào năm 1994 mà cụ thể là sự kiện công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) được tách ra từ tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Cũng trong năm này công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam cũng được thành lập. Như vậy, cho tới năm 1994 thì thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 3 công ty bảo hiểm của nhà nước hoạt động trên các lĩnh vực nhân thọ, phi nhân thọ và tái bảo hiểm.
Tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 1994 đến nay có những đặc điểm sau:
Cho tới nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có tơi 23 công ty bảo hiểm trong đó có 2 công ty môi giới bảo hiểm đó là: công ty cổ phần môi giới Á Đông và công ty cổ phần môi giới Đại Việt với các lĩnh vực hoạt động đa dạng như: bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và hơn 76000 đại lý bảo hiểm.
Trong 10 năm, kể thừ năm 1994 ta đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của Bảo Minh. Ngay từ khi mới ra đời Bảo Minh đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về thị phần, cụ thể là sau một năm kể từ ngày tách riêng từ Bảo Việt, Bảo Minh đã chiếm được 15,4% thị phần (Bảo Việt chiếm 83,07% phần còn lại là của PJICO và Bảo Long). Cho tới năm 1999 Bảo Minh đã chiếm tơi 24,52% thị phần (Bảo Việt còn 56,86%) và năm 2002 Bảo Minh đã chiếm được 27,4% thị phần và Bảo Việt còn lại 39% thị phần. qua đây ta thấy, đồng thời với sự tăng trưởng của Bảo Minh là sự giảm sút về thị phần của Bảo Việt. Vậy nguyên nhân từ đâu?
Ta biết rằng Bảo Minh được tách ra từ Bảo Việt cho nên bản thân của Bảo Minh đã có sẵn một lượng vốn cần thiết và một nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Ngoài ra Bảo Minh còn được thừa kế những thành quả mà 54 công ty bảo hiểm ở Sài Gòn trước năm 1975 để lại. Thêm vào đó Bảo Minh có một vị trí vô cùng thuận lợi đó là: Bảo Minh có trụ sở đặt tại thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía nam cho nên Bảo Minh có điều kiện mở rộng thị trường ra các khu vực lân cận như: Đồng Nai, Vũng Tàu, Bình Dương…. Với những lý do trên, ta thấy Bảo Minh có những điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc phát triển thị trường và tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Như ta đã thấy, thị trường bảo hiểm Việt Nam trong 10 năm qua đã có những bước phát triển nhảy vọt cả về lượng và về chất.
Về lượng: từ 3 công ty bảo hiểm nhà nước (năm 1994) đã lên đến 25 công ty và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thuộc các hình thức sở hữu nhà nước, liên doanh,cổ phần, 100% vốn nước ngoài.
Về chất: thông qua các lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm ta thấy chất lượng cũng như sản phẩm dịch vụ của các công ty bảo hiểm ngày càng cao, đáp ứng hầu hết nhu cầu của khách hàng.
Nói tóm lại, qua 10 năm phát triển ta thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đang từng bước chuyển biến từ độc quyền nhà nước sang tự do hoá doanh nghiệp bảo hiểm. cu thể la trong 10 năm qua lượng các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài cũng như chi nhánh bảo hiểm của nước ngoài được thành lập ở Việt Nam ngày càng nhiều. ngoài ra ta cũng thấy có sự tham gia của các tổ chức tài chính đặc biệt là ngân hàng vào lĩnh vực bảo hiểm. Điều này làm cho loại hình doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng đa dạng và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Đây chính là động lực để cho thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển và tạo được nền tảng vững chắc cho hội nhập cũng như quá trình toàn cầu hoá.

Dự báo thi trường bảo hiểm Việt Nam:

Như ta đã biết, thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua đã phát triển nhanh, tuy nhiên, sự phát triển đó chưa phù hợp với tiềm năng hiện có của Việt Nam. Căn cứ vào sự phát triển trên ta co một số nhận định sau:
Tương lai thị trường bảo hiểm nước ta sẽ phát triển mạnh hơn nữa do xu hương hội nhập quốc tế. Điều này có nghĩa là trong tương lai cùng với sự hội nhập kinh tế của đất nước, thị trường bảo hiểm ở nươc ta cung sẽ co cơ hội phát triển thông qua sự mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.
Việc mở cửa trong tương lai sẽ mang đến những cơ hội và thách thức mới cho các doanh nghiệp bảo hiểm, theo cùng với nó sẽ là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Điều này dẫn tới chất lượng của dịch vụ bảo hiểm ngày càng cao và số lượng dịch vụ ngày càng nhiều.
Nói tóm lại là trong tương lai gần thị trường bảo hiểm ở nước ta sẽ phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng.


Người trình bày:
Hoàng Văn Chiến
Lớp 1 NH1-K27




Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 04/10/2004 :  01:03:03  Xem thông tin cá nhân
[font=Arial][/font=Arial]
Thay ui,nhung gi can noi thi ban Chien da noi mat tieu rui, nhung dieu ban do noi hoan toan dung, hoan toan chinh xac (vi giong y chang nhung gi thay da day chung em tren lop). Neu bi gio co noi tiep thi cung chi lap di lap lai nhung dieu nay ma thui, em muon hoi thay la em co the xoay manh ve 1 khia canh nao do cua thi truong bao hiem Viet Nam duoc ko thay?
Mong thay som tra loi de em viet bai post len dien dan chu.
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 04/10/2004 :  14:17:43  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 Bảo hiểm đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng dưới hình thức những đại lý BH của nước ngoài. Hầu hết những luật lệ, quy định về BH là của Pháp. Mãi đến 17/12/1964, tổng công ty BH Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt ra đời và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/1965. Bảo Việt ra đời đánh dấu bước khởi đầu chặng đường phát triển của Bảo hiểm Việt Nam. Sau giải phóng, các công ty Bảo hiểm được quốc hữu hoá, Bảo hiểm được sử dụng như một công cụ điều hành nền kinh tế của Chính phủ. Giai đoạn từ năm 1975 đến 1993 là giai đoạn độc quyền Nhà nước, Bảo Việt chiếm lĩnh thị trường Bảo hiểm Việt Nam.
Năm 1994, chi nhánh Bảo Việt tại Tp Hồ Chí Minh tách ra thành lập công ty Bảo hiểm Tp Hồ Chí Minh, gọi tắt là Bảo Minh, tiếp sau đó là hàng loạt các công ty Bảo hiểm khác ra đời dưới những hình thức khác nhau đã phá vỡ thế độc quyền của Bảo Việt hay nói cách khác: thế độc quyền của Nhà nước đã bị lung lay. Sự ra đời của Bảo Minh và hàng loạt các công ty khác đã mở ra giai đoạn mới cho Bảo hiểm Việt Nam: giai đoạn tự do hoá dịch vụ Bảo hiểm.
Trước năm 1994 Bảo Việt độc chiếm toàn bộ thị trường BH Việt Nam. Từ năm 1995 tuy có sự xuất hiện của Bảo Minh và một số công ty khác nhưng Bảo Việt vẫn còn nắm giữ thị phần rất lớn 83,07%. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy đã có sự chia xẻ thị phần của Bảo Việt cho các công ty khác. Bảo Minh tuy mới ra đời nhưng thị phần năm 1995 đã chiếm 15,4%. PJICO, Bảo Long nắm giữ 1,53% còn lại.
Qua các năm tiếp theo, với sự xuất hiện hàng loạt các công ty BH, thị phần của Bảo Việt không ngừng giảm sút. Từ chỗ nắm giữ 100% thị phần như trước đây thì đến năm 2000 Bảo Việt chỉ còn 50,9% thị phần. Kể từ đây “đòn cân thị phần” đã trở nên ngang ngửa giữa một bên là Bảo Việt ,một bên là các công ty còn lại. Các công ty như Bảo Minh, PJICO, Bảo Long, PTI…tuy mới thành lập nhưng đã có thị phần khá lớn và ổn định.
Thị phần bị chia xẻ từ Bảo Việt cho các công ty khác là minh chứng cụ thể cho xu hướng tự do hoá dịch vụ BH. Ngoài ra, nếu như trước đây chỉ có loạI hình BH Nhà nước độc quyền thì qua thờI gian đã xuất hiện thêm nhiều loại hình doanh nghiệp BH khác như cổ phần, liên doanh hay 100% vốn nước ngoài…Các doanh nghiệp này ngày càng lớn mạnh và đủ tiềm lực tài chính để cạnh tranh cùng các doanh nghiệp Nhà nước.
Sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại hình doanh nghiệp BH làm cho hoạt động của thị trường BH Việt Nam trở nên nhộn nhịp và đa dạng. Tuy nhiên câu hỏI đặt ra là liệu thị trường BH dần thoát ra khỏi thế độc quyền Nhà nước có phảI là dấu hiệu đáng mừng. Liệu các công ty cổ phần, liên doanh hay 100% vốn nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều có làm cho thị trường BH rốI ren, liệu khi Nhà nước không còn độc quyền quản lý, thị trường BH có đi chệch hướng, không phù hợp định hướng XHCN mà chúng ta đang theo đuổi…
Trong thời gian gần đây, nhiều Dn Nhà nước đã bắt đầu bước vào giai đoạn cổ phần hoá ,các ngân hàng thương mạI cũng cổ phần hoá và đã đạt được nhiều thành công. Vậy tạI sao không thể cổ phần hoá các doanh nghiệp BH. Một khi hoạt động bằng chính đồng vốn do mình bỏ ra họ sẽ không thể bỏ qua hiệu quả và sự đi lên vững mạnh của chính bản thân doanh nghiệp nói riêng và BH Việt Nam nói chung.
Hơn nữa sự xuất hiện nhiều công ty BH sẽ tạo ra sự cạnh tranh, nhờ đó chất lượng dịch vụ sẽ không ngừng nâng cao cũng như phí BH sẽ phù hợp hơn với thu nhập còn thấp của ngườI dân Việt Nam.
Như vậy, việc tự do hoá dịch vụ BH là xu thế tất yếu của thời đại trong đó lợi ích mang lại cho người dân là rất lớn. Thị trường BH Việt Nam còn rất “màu mỡ”và các công ty đều có thị phần, chuyện bây giờ là các công ty phảI khai thác phân khúc thị trường của mình, hoạt động có hiệu quả và vững mạnh, tạo thế đứng cho BH Việt Nam trên trường quốc tế.

Nguyễn Đình Phương Thảo
Lớp NH3-K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 05/10/2004 :  00:42:05  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Nhận định và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam

Theo thống kê chung, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm chỉ chiếm 1.6% tổng GDP của Việt Nam. So với mức 5-6% của các nước trong khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khá giống với ta và nhất là so với các nước phát triển trên thế giới thì rõ ràng thị trường bảo hiểm Việt Nam còn khá trống trải. Mặt khác tốc độ tăng trưởng 24%/năm của bảo hiển nhân thọ và 16.5%/năm của bảo hiểm phi nhân thọ là những bằng chứng rất thuyết phục về sự hấp dãn của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Thế nhưng, nhìn vào thực trạng thị trường bảo hiểm của ta hiện nay, trong tổng số 14 công ty bảo hiểm phi nhân thọ và 5 công ty bảo hiểm nhân thọ đang hoạt động, chỉ có 3 công ty bảo hiểm tư nhân của Việt Nam, mà công ty đầu tiên (công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông) cũng chỉ mới ra đời ngày 17/02/2004, trong khi “người Việt Nam hiện có đủ sức và đủ vốn để thành lập những công ty của riêng mình” (trích lời ông Nguyễn Tiến - tổng giám đốc Viễn Đông), “chúng ta đã bỏ phí một thị trường bảo hiểm màu mỡ ngay dưới chân mình” (Vietnam Net).
Người ta hi vọng rằng, cùng với luật kinh doanh bảo hiểm, chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm với nhiều cơ chế mở mới được thủ tướng chính phủ thông qua gần đây sẽ mở đường cho sự ra đời của nhiều công ty bảo hiểm tư nhân Việt Nam trong một tương lai gần, tạo kênh huy động vốn nội địa cho quốc gia và góp phần vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam



SVTH: Ngô Thị Thuỳ Trang
Lớp: NH3K27
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 05/10/2004 :  01:48:48  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
Gởi: 03 Oct 2004 01:00 am Tiêu đề: Đánh giá và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam (chuyển từ Diễn Đàn Mạng BHVN sang)



Đánh giá và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam
Mặc dù năm 2003 là năm có nhiều biến động trong nước cũng như nước ngoài, đặc biệt là khủng bố ở nhiều nước, đại dịch SARS đã ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường bảo hiểm và thị trường tái bảo hiểm, nhưng thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng vượt bậc.Doanh thu phí ước tính đạt 10.090 tỷ đồng, tăng 44% so với năm 2002, doanh thu phí bảo hiểm chiếm 2.3% GDP, với 24 công ty bảo hiểm đang cùng hoạt dộng kinh doanh trên thị trường bảo hiểm, và từ đầu năm 2004 đã có 25 công ty, trong đó 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giới bảo hiểm và 1 công ty tái bảo hiểm, với sự có mặt của các công ty liên doanh như Công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc , Bảo Minh-CMG,IAI và các công ty 100% vốn nước ngoài như Manulife, Prudential, Groupama, Gras Savoye… đã làm thay đổi hoạt động của ngành bảo hiểm.

Qua 10 năm phát triển, thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP. Đã xoá thế độc quyền và dần dần tự do hóa dịch vụ bảo hiểm. Thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo doanh thu phí bảo hiểm như sau:

2002
AIA 5%
Bảo Minh- CMG 2%
Bảo Việt 46%
Manulife 12%
Prudential 35%

2003
AIA 5.5%
Bảo MInh- CMG 2.2%
Bảo Việt 41.7%
Manulife 12.9%
Prudential 37.7%

Năm 2003 thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có nhiều chuyển biến, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã bước vào giai đoạn ổn định và bền vững. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ năm 2003 đạt trên 6.500 tỷ đồng.

Số lượng đại lý bảo hiểm nhân thọ trên toàn thị trường hiện đã lên tới hơn 100.000 đại lý bảo hiểm, nhưng nhìn chung năng suất khai thác trung bình của một đại lý bảo hiểm đã giảm so với năm 2001 và 2002. Điều này cho thấy ngày càng khó khăn hơn trong việc khai thác bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam.

Năm 2003 thị phần bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt vẫn lớn nhất, nhưng tốc độ tăng trưởng đang giảm dần, trong khi các công ty bảo hiểm nhân thọ của nước ngoài như Prudential đang tăng tốc với tốc độ khai thác ngày càng mạnh, Prudential đề ra chỉ tiêu năm 2004 này sẽ chiếm thị phần cao hơn cả Bảo Việt. Đây là thách thức lớn đối với Bảo Việt.

Tương lai thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ càng khó khăn hơn trong việc khai thác triệt để tiềm năng hiện có, bên cạnh đó việc mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường, sẽ dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng lớn hơn, vị thế của các công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam sẽ bị đe dọa nếu không chuẩn bị kỹ sẽ dần mất đi khả năng cạnh tranh ngay chính trên đất nước mình. Do đó đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cần nhanh chóng sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo hướng chuyên môn hóa, tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính, khuyến khích cổ phần hóa các công ty bảo hiểm. Để phát triển hơn nữa, các công ty bảo hiểm đều có quyền khai thác dịch vụ như nhau dựa trên hiệu quả phục vụ, cạnh tranh lành mạnh, chất lượng hoạt động và uy tín với khách hàng, đây là yếu tố quyết định.

Ngành bảo hiểm không thể phát triển một cách độc lập mà còn phụ thuộc vào nền kinh tế Việt Nam, các ngành và lĩnh vực khác. Tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển với tốc độ ngày càng cao, mọi thành phần kinh tế, lĩnh vực kinh tế sẽ cùng phát triển. Hiện nay kênh phân phối qua hệ thống ngân hàng cũng được các công ty bảo hiểm nhân thọ khai thác và mang lại hiệu quả không nhỏ, điển hình là đã có công ty liên doanh bảo hiểm Việt- Úc giữa Ngân hàng BIDV và tập đoàn QB của Úc, Công ty bảo hiểm Bảo Ngân giữa ngân hàng Incombank và công ty bảo hiểm Á Châu của Singapore, Ngân hàng VCB đã trở thành đại lý phân phối chính thức của Prudential và thực hiện thanh toán phí bảo hiểm thông qua hệ thống thẻ tự động ATM.

Trong chiến lược phát triển ngành bảo hiểm Chính phủ cũng đã đặt mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế và dân cư.
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Mai
Lớp Ngân hàng2-K27
Trường Đại Học Kinh tế
Lên đầu trang

ayumi
Thành Viên Mới

Vietnam
3 bài gởi

Posted - 05/10/2004 :  02:36:52  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Kể từ sau nghị định 100CP (18/12/93) xoá độc quyền nhà nước về bảo hiểm, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có nhiều thay đổi lớn đáng kể về mặt khối lượng lẫn chất lượng. Cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng gay gắt, vì vậy các công ty bảo hiểm ngày càng quan tâm đến vấn đề phân phối sản phẩm của mình.

Bài viết này xin đánh giá và dự báo tình hình phân phối sản phẩm bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Các sản phẩm bảo hiểm được các công ty đăng ký cung cấp trên lãnh thổ Việt Nam rất đa dạng (chi tiết xin xem trên trang web của bộ tài chính). Trên thế giới, hiện nay việc phân phối chủ yếu được thực hiện qua các kênh sau:

KÊNH TRUYỀN THỐNG
Đại lý
Môi giới
Đại diện thương mại...
KÊNH TRỰC TIẾP
Qua điện thoại
Qua thư tín, qua Internet
Qua các nhà tyển dụng
KÊNH MỚI
Ngân hàng
Các tổ chức tài chính
Các cửa hàng...

Ở Việt Nam áp dụng chủ yếu là kênh truyền thống và kênh trực tiếp. Trong đó kênh truyền thống chiếm trên 90% tổng số hợp đồng bán được; trong phần còn lại thì kênh trực tiếp chiếm phần lớn, các kênh mới hầu như chưa thấy có.

“Các đại lý bảo hiểm” được đặc biệt quan tâm phát triển.Chỉ trong vòng 10 năm kể từ nghị định 100CP, số lượng các đại lý bảo hiểm đã lên đến xấp xỉ 100 ngàn đại lý. Năm 2003, có thể kể ra một số công ty bảo hiểm có số lượng đại lý lớn bao gồm: Bao Viet (25461), Pru (38000), AIA (15502), Bao Minh CMG (6952).

Các đại lý này phần lớn mang tính chất không chuyên nghiệp, chủ yếu là sinh viên từ các trường đại học được đào tạo trong một thời gian rất ngắn, trình độ thấp và coi công việc bán bảo hiểm của mình như một công việc bán thời gian, tận dụng các mối quan hệ thân thiết của mình để bán hợp đồng; sau khi tận dụng hết thì bỏ việc.

Các đại lý chuyên nghiệp có trình độ cao hơn, nhưng trong điều kiện nền kinh khó khăn, bán được ít hợp đồng thì cũng chán nản và có khuynh hướng nghỉ việc.

Bất chấp nỗ lực của các công ty nhằm duy trì sự ổn định về mặt đại lý, hàng năm, có những công ty số lượng đại lý duy trì (bao gồm cả những đại lý mới phát triển) nhỏ hơn số lượng đại lý nghỉ việc.
Đại lý nghỉ việc gây ra cho công ty nhiều khó khăn có thể kể đến như sau:
 Tốn chi phí đào tạo, phát triển hệ thống đại lý mới.
 Không ổn định trong theo dõi tình hình kinh doanh.
 Đặc biệt, làm cho tỷ lệ duy trì hợp đồng bảo hiểm thấp.

Chính vì lý do trên mà chất lượng đội ngũ bán hàng không cao, hiệu quả thuyết phục khách hàng thấp. Theo điều tra, các khách hàng than phiền rằng các nhân viên bán bảo hiểm nói quá nhanh, họ chỉ nói những gì mình biết mà không quan tâm khách hàng muốn gì cho nên có nhiều khách hàng không hiểu rõ về sản phẩm mà mình đang sử dụng; thậm chí một số khách hàng còn nói rằng họ mua bảo hiểm chỉ vì sự đeo bám gây phiền hà của các nhân viên bán bảo hiểm, sau khi nộp vài kỳ thì chán và chấm dứt hợp đồng.

Căn cứ vào quan niệm hiện nay của lực lượng lao động về nghề bán bảo hiểm và sự quan tâm còn hạn chế trong đào tạo nhân lực cho ngành bảo hiểm, dự đoán tình trạng trên vẫn sẽ tiếp diễn trong vòng ít nhất 3 năm tới. Điều này vô cùng nguy hiểm cho các công ty bảo hiểm Việt Nam.
Sinh vien: NGUYEN THI THANH HAI
Lop: NH1 - K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 05/10/2004 :  02:54:09  Xem thông tin cá nhân
Để chứng minh sự lớn mạnh và tăng trưởng nhanh của thị trường bảo hiểm Việt Nam, em xin nêu lên số liệu cụ thể trong năm 2003, đồng thời nói đến một số vấn đề còn tồn tại trong thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay.
Năm 2003, thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 48%, trong đó doanh thu bảo hiểm nhân thọ tăng 53%, phi nhân thọ tăng 40% so với năm trước. Đồng thời số lượng các đại lý bảo hiểm cũng đã tăng đến con số 96000 đại lý.
Năm 2003, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 7,5%, lạm phát giữ ở mức ổn định, điều này đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm phát triển. Xét về thị phần, Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất, trong năm chiếm 41,68% thị phần, tuy có giảm sút qua các năm nhưng đây vẫn là doanh nghiệp chủ chốt trong ngành bảo hiểm noí chung và bảo hiểm phi nhân thọ noí riêng. Tiếp theo là Bảo Minh, thị phần ngày càng tăng qua các năm, dần dần phá thế độc quyền của Bảo Việt, cụ thể năm 2003 thị phần của Bảo Minh là 23,52%. Phần còn lại là các doanh nghiệp khác như PVIC (13,82%), PJICO (9,27%)…Thị phần bị chia sẻ từ Bảo Việt là minh chứng cụ thể cho xu hướng tự do hoá dịch vụ bảo hiểm.
Xét về số lượng, hiện nay Việt Nam có 25 công ty hoạt động trong ngành bảo hiểm, với nhiều lĩnh vực: nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giới…và dưới nhiều hình thức khác nhau: nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài.
Về bảo hiểm nhân thọ, có sự tăng trưởng mạnh và cạnh tranh mạnh mẽ giũa các doanh nghiệp. Về thị phần, Bảo Việt chiếm khoảng 40,8%, Prudential chiếm 38,5%, AIA 5,8%, BM-CMG 2,3%. Số lượng đại lý bảo hiểm nhân thọ năm 2003 là 94447 đại lý, tăng 26,04% so với năm 2002. Cụ thể Bảo Việt co 25461 đại lý, tăng 29,85% so với năm trước, Prudential có khoảng 38000 đại lý, chỉ tăng 4,2% so với năm trước, nổi trội nhất là AIA, có 15502 đại lý, đã tăng 70,32% so với năm 2002.
Nhìn vào thị phần bảo hiểm của các doanh nghiệp trong 2 lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ, ta có thể thấy, trong lĩnh vực phi nhân thọ thì thị phần chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp nhà nước, còn trong lĩnh vực nhân thọ thì tỉ trọng giữa các doanh nghiệp nhà nước với các công ty bảo hiểm nước ngoài là tương đương nhau. Theo số liệu, tổng doanh thu phí bảo hiểm trong năm 2003 đạt khoảng 10400 tỉ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là khoảng 6317 tỉ đồng, phi nhân thọ là khoảng 4003 tỉ đồng. Điều này đặt ra một vấn đề là phải chăng các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hoạt động không hiệu quả trong một số lĩnh vưc nào đó?
Thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển nhanh trong thời gian qua, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề chưa giải quyết tốt, như là phát triển không đồng đều trong các lĩnh vực, ngành nghề. Bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu phát triển đều qua các năm. Trong khi đó bảo hiểm xe cơ giới có rất nhiều vấn đề. Trong tình trạng hiện nay, tai nạn giao thong gây tổn thất rất lớn về người và của, nhưng bảo hiểm cơ giới vẫn chưa hoàn thành tốt trách nhiệm của mình. Những thong tin như: Trong số những người chết và bị thương vì XCG thì số người được bảo hiểm là bao nhiêu? Nhũng người mua bảo hiểm XCG có quyền lợi gì hơn những người không mua? Ngành bảo hiểm đã làm gì để góp phần làm giảm tai nạn giao thong và giải quyết hậu quả của tai nạn giao thong như thế nào? Những thong tin này chưa được cung cấp cụ thể, đầy đủ cho người dân biết rõ.
Nông nghiệp vẫn là một ngành nghề quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Vậy mà trên thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có 1 doanh nghiệp tiến hành loại bảo hiểm này, mà đây lại là 1 doanh nghiệp nước ngoài – Groupama. Nhưng doanh nghiệp này lại không được hưởng chế độ ưu đãi nào của Chính phủ Việt Nam, do đó muốn tồn tại thì buộc doanh nghiệp này phải chuyển hướng kinh doanh. Điều này đặt ra một vấn đề là Nhà nước phải quan tâm và phải có những chính sách ưu đãi đối với những doanh nghiệp này.
Dân số Việt Nam hiện nay đã vượt quá con số 80 triệu, thu nhập bình quân đần người ngày càng tăng, hiện nay khoảng 400 USD/ người/ năm. Đây là một thị trường màu mỡ để các ngành kinh tế khai thác, trong đó có ngành bảo hiểm. Cùng với sự hội nhập của nền kinh tế, thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ có cơ hội phát triển, sẽ mang đến những cơ hội cũng như những thách thức với các doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, muốn tăng trưởng mạnh và bền vững thì không chỉ bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm cố gắng khắc phục những nhược điểm, phát huy những ưu điểm, mà Nhà nước phải tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp bảo hiểm, phải có những biện pháp, chính sách để bảo hiểm Việt Nam phát triển, không những về số lượng mà còn là chất lượng dịch vụ.
LÊ THỊ HẠNH
NH3 – K27


Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 05/10/2004 :  15:55:16  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Họ và tên sinh viên: LÊ NGỌC PHƯỢNG NGHI
Lớp: NH2-KDTT1
Khoa KDTT
MSSV:101227024
Đề tài: Hãy đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam


Bài Làm:

Lịch sử bảo hiểm Việt Nam có 3 thời kỳ trước năm 1954, từ 1954-1975, từ 1975 đến nay
*Trước năm 1954:
Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đại lý bảo hiểm của bảo hiểm nước ngoài luật lệ quy định bảo hiểm đó là Pháp
*Từ năm 1954-1975 đất nước bị chia cắt, Miền Bắc đi lên Chủ nghĩa xã hội, thời gian đầu hoạt động bảo hiểm chưa có . Mãi đến ngày 17/12/1964 Hội đồng Chính Phủ ra quyết định thành lập Bảo Việt. Bảo Việt ra đời vào ngày 15/1/1965:
-Có 2 chi nhánh lớn
-Nghiệp vụ: Bảo hiểm hàng hải:Bảo hiểm hàng hoá và bảo hiểm xuất nhập khẩu
Tất cả dành cho cuộc chiến tranh : nền kinh tế tập trung chống chiến tranh phá hoại miền Bắc
Miền Nam: nền kinh tế thị trường phát triển. Đến năm 1970, Sài Gòn trở thành “Hòn ngọc Viễn Đông”, Bảo hiểm thương mại tương đối phát triển. Năm 1972, Sài Gòn có khoảng 54 công ty bảo hiểm trong và ngoài nước. Năm 1965, chính quyền Sài Gòn đưa ra một sắc luật 15/65 giống luật của Pháp nhưng có chỉnh sửa để phù hợp với tình hình Việt Nam. Trước năm 1975 đã có công ty bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hoả hoạn.
*Từ 1975 đến nay:
-1975 đến 1993:
+1975 ở Sài Gòn có 54 công ty quốc hữu hoá và tất cả công ty đó sau khi quốc hữu hoá thì đước tập trung vào BAVINA
+1976: BAVINA trở thành Bảo Việt của TPHCM
+1988: Bảo Việt nâng cấp lên thành tổng công ty, đây là bước phát triển của Bảo Việt
+12/1992, Bộ tài chính giao vốn cho Bảo Việt. Nghị định ĐQNN ra đời, Bảo hiềm là công cụ nằm trong tay chính phủ để diều khiển nến kinh tế
-1994 đến nay
+18/12/1993: nghị định 100CP ra đời xoá bỏ độc quyền nhà nước, mở ra 1 giai đoạn mới
+11/1994 công ty Bảo Minh ra đời , sau đó PJICO ra đờI
+12/2000 luật kinh doanh bảo hiểm được quốc hội thông qua, bắt đầu hiệu lực 1/4/2001
+8/2003 chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2010 được Chính Phủ thông qua
*Tình hình thị trường Bảo hiểm Việt Nam từ 1994 đến nay:
Doanh nghiệp Bảo hiểm có 25 công ty, số lượng công ty tăng nhanh
-lĩnh vực kinh doanh: gồm Bảo hiểm gốc, tái Bảo hiểm, môi giớI bảo hiểm, đại lý Bảo hiềm
-Thành phần kinh tế: Nhà nước từ độc quyền nhà nước, sau khi xoá bỏ độc quyền nhà nước thì nhiều doanh nghiệp nhà nước, sau đó có sự tham gia các công ty cổ phần, rồI đến liên doanh và cuối cùng là 100% vốn nước ngoài, tư nhân
Thị phần Bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam năm 2001,2002,2003
Công ty 2001(%) 2002(%) 2003(%)
Bảo Việt 45.975 40.39 41.68
Bảo Minh_CMG 23.774 28.08 23.52
PJICO 5.759 5.65 9.27
PVIC 12.888 14.50 13.82
PTI 3.808 3.70 4.01
VIA 1.505 1.41 1.58
ALLIANZ 2.212 2.62 1.66
VIET_UC 0.533 0.56 0.43
Bảo Long 1.063 1.09 1.49
UIC 2.483 2.00 2.23
Nông nghiệp 0.05
Bảo Ngân (IAI) 0.06
SAMSUNGVINA 0.2

Thị phần bảo hiểm của các công ty Bảo hiểm nhân thọ
Công ty 2002(%) 2003(%) 2004(Hợp đồng đang có hiệu lực)(%)
AIA 5 5.92 4.21
Bảo Minh 2 2.34 1.81
Bảo Việt 46 38.09 34.09
Manulfe 12 8.13 6.36
Prudential 35 45.52 33.53
Bảo hiểm nhân thọ Bảo Việt triển khai năm 1997, 1999 manulfe xuất hiện,Prudential xuất hiện
Số đại lý mới năm 2002
Công ty Đại lý mới Tổng đại lý
AIA 6,569.00 4,600.00
Bảo Minh 5,372.00 4,565.00
Bảo Việt 7,789.00 17,860.00
Manulfe 7,938.00 6,347.00
Prudential 18,569.00 36,398.00
Tổng 46,187.00 69,850.00
Tốc độ phát triển đại lý năm 2002
Công ty 2001 2002 Tốc độ tăng trưởng(%)
AIA 6,158.00 4,680.00 -24
Bảo Minh 1,502.00 4,565.00 203.93
Bảo Việt 12,800.00 17,860.00 39.53
Manulfe 4,630.00 6,347.00 37.08
Prudential 17,210.00 36,398.00 111.49
Tổng 42,300.00 69,480.00 64.25
*Đánh giá thị trường Bảo hiểm Việt Nam:
Ø Thị trường Bảo hiểm Việt Nam sau 10 năm hoàn thiện hơn, có đầy đủ các loại hình Bảo hiểm, từ Bảo hiểm gốc, tái Bảo hiểm, đến môi giới Bảo hiểm. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực Bảo hiểm ngày càng gây gắt hơn, hoàn thiện hơn, lợi ích cua khách hàng ngày càng tăng, chất lượng dịch vụ phuc vụ, cung cấp cho khách hàng ngày càng cao.
Qua các số liệu, ta thấy, Bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng nhanh, số liệu các công ty, đại lý tăng nhanh, giá trị dịch vụ tăng nhanh. Nguyên nhân tăng trưởng của thị trường Bảo hiểm Việt Nam là vì:
-Khi tăng trưởng kinh tế cao và ổn định thì Bảo hiểm phát triển, còn nền kinh tế đi xuống, gặp khó khăn, khủng hoảng thì kéo theo ngành bảo hiểm đi xuống.
Thưc tế cho thấy,doanh nghiệp Bảo hiểm là 1 định chế Tài chính trung gian nên vấn đề tài chính của nó rất quan trọng. Thời kỳ đổi mới của thị trường Bảo hiểm Việt Nam, doanh thu Bảo hiểm:
+1993-1998: giai đoạn tăng trưởng của thị trường Bảo hiểm phi nhân thọ
+1997-2003: Giai đoạn tăng trưởng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ
Năm 97,98,99, Bảo hiểm phi nhân thọ chựng lạI do những khủng hoảng kinh tế, đầu tư giảm, nên bảo hiểm phi nhân thọ giảm. Năm 2001-2002, Bảo hiểm phi nhân thọ khôi phục lại, năm 2003 Bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục tăng trưởng nhưng không cao như trước đây, còn Bảo hiểm nhân thọ thì tiếp tục tăng cao
-Bảo hiểm đảm bảo cho các tài sản, đối tượng doanh nghiệp thể hiện ở giá trị bằng tiền. Việc ổn định đồng tiền, kiềm chế lạm phát đồng thờI thúc đẩy thị trường bảo hiểm. Lạm phát nguy cơ tăng thì việc bán Bảo hiểm khó khăn hơn. Năm 2004, khó khăn cho Bảo hiểm nhân thọ nói chung, bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng liên quan đến vấn đề lạm phát và chỉ số giá
Ø Tự do hoá dịch vụ Bảo hiểm: sự thay đổi trong cấu trúc vốn ngành Bảo hiểm, tỉ trọng của các công ty tư nhân, nước ngoài, liên doanh gia tăng
Như ta thấy, công ty Bảo Minh có thể giữ vững thị phần và còn tăng thêm trong những năm qua vì công ty Bảo Minh không phải là công ty mới ra đới mà nó tích luỹ nghiệp vụ kinh doanh trước năm 1976. Trước đây, nằm trong hệ thống Bảo Việt, hoạt động ở TPHCM. Nó tách ra và hoạt động trên khắp mọi miền đất nước, uy tín có sẵn. Từ năm 1995 đến năm 1997, có sự cạnh tranh giữa Bảo Việt và Bảo Minh. Quá trình tự do hoá dịch vụ bảo hiểm có lợI cho người tiêu dùng.
PJICO, PTI, PVIC mớI ra đời nhưng có sự cạnh tranh khá lớn và ổn định là vì những công ty Bảo hiểm chuyên ngành, tận dung những lợi thế của chuyên ngành để thu hút khách hàng. Khi tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì nó khai thác triệt để tiềm năng Bảo hiểm của thị trường Việt Nam, tạo lợI thế cho ngành Bảo hiểm. Tuy nhiên nó cũng đem lại nhiều tác hại, các công ty Bảo hiểm chuyên ngành tạo ra sự khác tướng độc quyền ngành, làm xáo động thị trường.
Nhìn tổng thể thì thị trường Bảo hiểm của ta tốt, loại hình độc quyền nhà nước ngày càng mất ưu thế. Để giữ được thị phần khi ta tự do hoá dịch vụ Bảo hiểm bằng cách trao quyền kinh doanh cho ngườI khác
*Dự báo thị trường Bảo hiểm Việt Nam:
-Chúng ta có tiềm năng vì nước ta là nước có dân số đông, dân số trẻ, số người nằm trong độ tuổi lao động nhiều nên tiêu dùng bảo hiểm rất lớn. Số người từ 0->13 tuổi cao nên bảo hiểm an sinh xã hội cao do cha mẹ mua bảo hiểm an sinh cho con cái , chiếm tỉ trọng lớn, nhưng trong tương lai khoảng 10 năm sau có xu hướng giảm, không mua bảo hiểm an sinh xã hội nữa mà chuyển sang bảo hiểm lúc về già. GDP của Việt Nam ngày càng tăng, tăng trưởng kinh tế tăng (năm 2004 là 7,5%) nên có khả năng đóng bảo hiểm nhân thọ.Do Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ có thể tăng trưởng khi giá trị của các ngành khác và công nghiệp tăng, bảo hiểm nhân thọ tăng khi thu nhập cuả người dân tăng từ các ngành khác. Nền kinh tế Việt Nam tăng thì GDP tăng , thu nhập bình quân đầu người tăng, đời sống của người dân Việt nam ngày càng toàn cầu hoá, những thông lệ trong nền kinh tế hiện đại sẽ làm thay đổi phong tục Việt Nam, nhiều cách sống hiện đại sẽ du nhập vào Việt Nam . Văn hoá Việt Nam xưa kia nói về rủi ro khó khăn nhưng ngày nay quan điểm đó sai và dần dần bị xoá bỏ, được thể hiện rõ là doanh thu bảo hiểm nhân thọ trong thời gian qua tăng. Ở Việt Nam có sự giao thoa giữa văn hoá Phương Đông và Phương Tây rất sớm. Điều quan trọng là sự phát triển nền kinh tế xã hội theo hướng toàn cầu hoá. Ngành Bảo hiểm Việt Nam phát triển theo hướng hội nhập quốc tế theo 2 chiều: mở cửa cho nước ngoài vào, mở ra cho các quốc gia khác.Chính từ điều này dẫn đến vấn đề:
+Hiện nay ta có nhiều công ty bảo hiểm của nước ngoài (tập đoàn tài chính đứng đầu của nước ngoài đã có mặt ở nước ta), mở cửa như thế nào để trong xu thế tự do mậu dịch,khi các bảo hiểm nước ngoài vào mà bảo hiểm ta không bị thất thế, nuốt chửng, vẫn giữ được thị phần và khả năng cạnh tranh. Nhưng nếu không mở cửa thì đến một lúc nào đó kinh tế khu vực Châu Á, Đông Nam Á, Bảo hiểm là những nước nhỏ thì Bảo hiểm Việt Nam không thể vươn xa.
Các ngân hàng là các định chế tài chính trung gian giữ vai trò quan trọng trong tổ chức vốn cho nền kinh tế Việt Nam, các ngân hàng đang hướng tớI việc thành lập các công ty bảo hiểm. Điều này chứng tỏ, thị trường bảo hiểm của Việt Nam trong tương lai rất có tiềm năng.
-Tuy nhiên, ngày nay, đa số người dân Việt Nam không tham gia bảo hiểm, trừ những loại bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm xe cơ giới. Vì chất lượng dịch vụ phục vụ bảo hiểm cho khách hàng còn rất kém như bảo hiểm y tế. Khi người đóng bảo hiểm y tế đến khám chữa bệnh trình thẻ bảo hiểm y tế thì thái độ và cách phục vụ của nhân viên y tế rất kém , phải chờ đời và chất lượng phục vụ rất kém. Nhiều người đóng bảo hiểm y tế nhưng khi đi khám bệnh, họ không hề dùng đến thẻ bảo hiểm. Đa số người dân của ta đã mất lòng tin với bảo hiểm y tế. Còn các loại hình bảo hiểm nhân thọ, tuy chất lượng dịch vụ rất tốt, nhưng phí bảo hiểm rất cao, nếu ta chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì ta sẽ bị mất một số tiền rất lớn mà ta đã đóng trong nhiều năm, chỉ nhận lai được một phần nhỏ. Vì vậy, loại hình bảo hiểm này chưa được phổ biến rộng rãi, nó chỉ thích hợp cho những người có thu nhập cao, ổn định, mà nước ta là một nước đang phát triển, tỉ lệ người có thu nhập thấp, không ổn định lại chiếm đa số. Các nhà bảo hiểm chưa tạo được lòng tin trong người dân, và ngườI dân vẫn còn thói quen giữ tiền bên mình phòng khi rủI ro, không tin vào bảo hiểm. Do đó, tuy thị trường bảo hiểm Việt Nam trong tương lai rất có tiềm năng nhưng khó mà khai thác được. Nếu các nhà bảo hiểm khác phục được những điều trên và xoá bỏ được thành kiến , tạo được lòng tin trong dân chúng thì Việt Nam chắc hẳn là một thị trường rất tốt để phát triển.

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 06/10/2004 :  05:37:19  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[size=3]Đánh giá và dự báo tình hình Bảo hiểm Việt Nam[/size=3]
Theo số liệu thống kê, năm 2003 là năm ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của ngành bảo hiểm Việt Nam, với doanh thu phí bảo hiểm đạt được là 10.327 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 6.442 tỷ đồng và doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ là 3.885 tỷ đồng, bằng khoảng 1,8 % GDP và tăng 44 % so với năm 2002. Đi vào phân tích cụ thể thì ta có thể thấy rằng tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm đạt được 44% là nhờ vào sự tăng trưởng đồng đều ở cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Cụ thể là tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ tính hết năm 2003 tăng 26,2 % so với năm 2002. Lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ lại có mức tăng trưởng là 38,7 % so với năm 2002, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt đạt 2652 tỷ đồng, Prudential đạt 2435 tỷ đồng, Manulife đạt 975 tỷ đồng, AIA đạt 368 tỷ đồng, Bảo Minh-CMG đạt 139 tỷ đồng. Sự tăng trưởng này đã đóng góp đáng kể vào việc giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, và góp phần làm tăng trưởng , phát triển kinh tế và xã hội. Nếu như suốt từ những năm từ 1964 cho đến 1993 là sự độc quyền Nhà nước về bảo hiểm, mà ở đây cụ thể là công ty Bảo Việt, thì từ năm 1994 cho đến nay đã ra đời thêm 24 công ty bảo hiểm, với nhiều hình thức khác nhau, từ công ty bảo hiểm Nhà nước như Bảo Việt, Bảo Minh, cho đến công ty cổ phần bảo hiểm PJICO, Bảo Long, công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam (VIA),công ty liên doanh bảo hiểm Việt Úc, công ty 100 % vốn nước ngoài AIA, Prudential … và rất có thể còn nhiều công ty bảo hiểm mới nữa trong tương lai. Ta nhận thấy rằng tốc độ tăng trưởng rất nhanh không chỉ về doanh thu, mà ở đây còn có tăng trưởng nhanh về số lượng công ty. Sự ra đời của các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và sự có mặt ngày một nhiều của các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam nói riêng đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ môi trường cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh bảo hiểm, buộc các doanh nghiệp phải tự đổi mới, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm. Năm 2003, hầu hết các doanh nghiệp đã đăng ký tăng thêm sản phẩm bảo hiểm mới. Trong hơn 500 sản phẩm bảo hiểm hiện nay thì có gần 200 sản phẩm bảo hiểm con người, trên 250 sản phẩm bảo hiểm tài sản và gần 100 sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm, với tổng số hợp đồng bảo hiểm mới là 2.070.816 hợp đồng ( tăng 16,4 % so với năm 2002) và tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến cuối năm 2003 là 5.606.237 hợp đồng ( tăng 41 % so với năm 2002). Bên cạnh những thành công và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam qua các năm, vẫn còn những hạn chế không thể không kể đến. Hiện tại, cơ cấu sản phẩm của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có những thay đổi nhất định tỷ trọng doanh thu của nhóm bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tai nạn con người và bảo hiểm hàng hải tăng lên, thì còn nhiều lĩnh vực mà các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn đứng ngoài cuộc như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp … Tự điều này cũng nói lên các doanh nghiệp bảo hiểm chưa biết phát triển thêm sản phẩm và thực sự lúng túng , nhiều doanh nghiệp đạt tốc độ phát triển trên 100 % trong khi lại có những doanh nghiệp có dấu hiệu chững lại .
Theo nhận định thì năm 2004 sẽ là một năm mà ngành bảo hiểm Việt Nam phải đối đầu với những thách thức. Việc mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam là điều tất yếu trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc mở cửa sẽ giúp cho Việt Nam có cơ hội tranh thủ được nguồn vốn, kinh nghiệm, công nghệ và kỹ năng quản lý của các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài, để phục vụ cho việc phát triển thị trường bảo hiểm nói riêng và cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung. Sự có mặt của các nhà cung cấp bảo hiểm nước ngoài sẽ thúc đẩy cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh bảo hiểm, buộc các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam phải tự đổi mới, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm … để có thể đứng vững và phát triển trên thương trường . Ước tính năm 2003, các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên một nửa tổng số doanh nghiệp làm việc trong ngành bảo hiểm. Tổng số vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này đạt 1.255 tỷ đồng, bằng 39 % tổng vốn kinh doanh toàn thị trường, quỹ dự phòng nghiệp vụ đạt 4.724 tỷ đồng, bằng 38% toàn thị trường … Nhìn chung so với một số nước trong khu vực, Việt Nam có tốc độ mở cửa thị trường bảo hiểm khá nhanh. Vấn đề mấu chốt hiện nay đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước là phải nhanh chóng tổ chức và sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo hướng tập trung chuyên môn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh , tăng cường năng lực tài chính dưới nhiều hình thức , đa dạng hóa cơ cấu sở hữu, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước tham gia góp vốn dưới hình thức công ty cổ phần. Trong chiến lược phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010, Chính phủ đã đặt mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế và dân cư. Các chỉ tiêu được đề ra rất cụ thể: tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm, tỷ trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5 % năm 2005 và 4,2 % năm 2010.
Với những nhận định cùng với những mục tiêu đề ra cho đến năm 2010, bên cạnh đó là tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm bình quân gần 30 % trong 10 năm qua, có thể nói Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường bảo hiểm giàu tiềm năng và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất và ổn định nhất trong khu vực Đông Nam Á.

Sinh viên
Nguyễn Phạm Linh Chi
Lớp Ngân Hàng 2 - K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 06/10/2004 :  15:17:27  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đề tài: Đánh giá và dự báo tình hình Bảo Hiểm Việt Nam.

Trước hết chúng ta biết rằng là tất cả mọi người đều muốn sống an toàn. Nhưng thường có những sự cố xảy ra, dù người đó có cẩn trọng đến đâu đi nữa. Và cũng không ai chịu bó tay trước những sự cố lơn nhỏ, thường ngày.Bệnh tật và tai nạn hoả hoạn, trộm cắp, tiền lệ phí của một vụ kiện và những hậu quả về trách nhiệm to lớn của nó, ít ra là vấn đề tài chính. Những lo lắng, băn khoăn đẻ có một mưc sống tương xứng khi tuổi già không được chăm sóc. Chúng ta cảm ơn sáng kiến vĩ đại của loài người đó là “Bảo Hiểm”.

• Đánh giá tình hình Bảo Hiểm Việt Nam:

Tình hình Bảo Hiểm Việt Nam đã có những biến động trong nhiều thập niên qua. Vào năm 1972 thì miền Nam có 54 công ty BH, với nhiều loại hình BH và hoạt động khá sôi nổi đến năm 1975 thì quốc hữu hóa các công ty BH tập trung vào BAVINA. Đến thập niên 90 thì xuất hiện rất nhiều công ty BH trong đó có công ty Bảo Hiểm TPHCM (Bảo Minh) năm 1994, công ty Tái BH Quốc gia Việt Nam(VINARE)1994, công ty Bảo Hiểm CP Petrolimex(PJICO)1995 và nhiều công ty khác với nhiều hình thức như: công ty Nhà nước, công ty Cổ phần, Liên doanh, 100% vốn nước ngoài.Với sự xuất hiện đó thì thị phần BH sẽ có sự thay đổi và không còn tập trung tuyệt đối vào công ty Nhà nước nữa. Điển hình như thị phần BH năm 1995 của: Bảo Việt :83,07%
Bảo Minh:15,40%
PJICO:1,53%
đến năm 2003 thì thị phần của: Bảo Việt:41,68%
Bảo Minh:23,52%
PJICO:9,27%(thị phần còn lại thì thuộc cấc công ty khác)
Điều này cho thấy là có sự chuyển hướng từ độc quyền nhà nước về BH sang các loại hình khác như: công ty Cổ Phần(BH) , Liên doanh …. Sự chuyển hướng nay là một điều tất yếu và rất quan trọng, nó sẽ làm cho thị trường BH có sự cạnh tranh sôi nổi và công bằng bên cạnh đó sẽ xuất hiện sản phẩm BH đa dạng và phong phú. Đến nay(2004) thì đã có 25 công ty BH so với mười năm trước thì số công ty tăng lên rất nhanh chống, và trong đó có sự tham gia của nhiều công ty thuộc lĩnh vực chuyên ngành như: dầu khí , bưu điện …Do đó thị trường BH Việt Nam đã có một bươc tiến khá dài, không những về mặt lượng mà cả về mặt chất nữa và đặc biệt là trong khoảng một thập niên vừa qua.

• Dự báo tình hình Bảo Hiểm Việt Nam:

Với việc Luật kinh doanh BH được Quốc Hội thông qua vào 12/2000 thì nó là cơ sở cho thị trường BH Việt Nam ngày càng ổn định và phát triển trong tương lai. Cùng với xu thế hội nhập hiện nay thì tình hình BH ở Việt Nam sẽ hứa hẹn có một tương lai tôt đẹp, vì thị trường BH ở Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng mà chúng ta chỉ mới bước đầu khai thác. Trong tương lai gần thì Việt Nam sẽ có vị thế vững vàng trong khu vực về lĩnh vực BH.Và để có thể đạt được đích đến đó thì vấn đề của chúng ta là phải xác định được chiến lược và kế hoạch phát triển trong tương lai thật hợp lý và thận trọng. Một vấn đề nữa là phải lam cho mọi người hiểu là:”Bảo Hiểm giúp chúng ta giải quyết tất cả. Nó đảm bảo cho chúng ta không phải lo lắng gì cả, đảm nhiẹm số phận cũng như sự không hiểu biết của chúng ta và làm cho chúng ta mất đi nỗi lo sợ trước tương lai”.
Một số câu châm ngôn mà người Đức nói về Bảo Hiểm:
1. Một ngày thường mà không có Bảo Hiểm thì như là một bậc thang không có tay vịn.
2. Ai đứng trước tương lai của mình như đứng trước một bàn trò chơi và chờ đợi một sự ngẫu nhiên mù quáng thì đó là một thằng điên.
3. Bảo Hiểm cuộc sống và tình yêu có một cái chung đó là người ta càng gia nhập muộn hơn thì bảo hiểm phí càng cao hơn.
4. Nhưng phút giay mà ngài quyết định về bảo hiểm có thể giá trị bằng vàng.



Phạm Thanh Phương
Lớp:NH1 .Khóa 27








Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 06/10/2004 :  15:31:15  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[size=3][/size=3]Đề tài: Đánh giá và dự báo tình hình thi truong Bảo Hiểm Việt Nam.

Trước hết chúng ta biết rằng là tất cả mọi người đều muốn sống an toàn. Nhưng thường có những sự cố xảy ra, dù người đó có cẩn trọng đến đâu đi nữa. Và cũng không ai chịu bó tay trước những sự cố lơn nhỏ, thường ngày.Bệnh tật và tai nạn hoả hoạn, trộm cắp, tiền lệ phí của một vụ kiện và những hậu quả về trách nhiệm to lớn của nó, ít ra là vấn đề tài chính. Những lo lắng, băn khoăn đẻ có một mưc sống tương xứng khi tuổi già không được chăm sóc. Chúng ta cảm ơn sáng kiến vĩ đại của loài người đó là “Bảo Hiểm”.

• Đánh giá tình hình thi truong Bảo Hiểm Việt Nam:

Tình hình Bảo Hiểm Việt Nam đã có những biến động trong nhiều thập niên qua. Vào năm 1972 thì miền Nam có 54 công ty BH, với nhiều loại hình BH và hoạt động khá sôi nổi đến năm 1975 thì quốc hữu hóa các công ty BH tập trung vào BAVINA. Đến thập niên 90 thì xuất hiện rất nhiều công ty BH trong đó có công ty Bảo Hiểm TPHCM (Bảo Minh) năm 1994, công ty Tái BH Quốc gia Việt Nam(VINARE)1994, công ty Bảo Hiểm CP Petrolimex(PJICO)1995 và nhiều công ty khác với nhiều hình thức như: công ty Nhà nước, công ty Cổ phần, Liên doanh, 100% vốn nước ngoài.Với sự xuất hiện đó thì thị phần BH sẽ có sự thay đổi và không còn tập trung tuyệt đối vào công ty Nhà nước nữa. Điển hình như thị phần BH năm 1995 của: Bảo Việt :83,07%
Bảo Minh:15,40%
PJICO:1,53%
đến năm 2003 thì thị phần của: Bảo Việt:41,68%
Bảo Minh:23,52%
PJICO:9,27%(thị phần còn lại thì thuộc cấc công ty khác)
Điều này cho thấy là có sự chuyển hướng từ độc quyền nhà nước về BH sang các loại hình khác như: công ty Cổ Phần(BH) , Liên doanh …. Sự chuyển hướng nay là một điều tất yếu và rất quan trọng, nó sẽ làm cho thị trường BH có sự cạnh tranh sôi nổi và công bằng bên cạnh đó sẽ xuất hiện sản phẩm BH đa dạng và phong phú. Đến nay(2004) thì đã có 25 công ty BH so với mười năm trước thì số công ty tăng lên rất nhanh chống, và trong đó có sự tham gia của nhiều công ty thuộc lĩnh vực chuyên ngành như: dầu khí , bưu điện …Do đó thị trường BH Việt Nam đã có một bươc tiến khá dài, không những về mặt lượng mà cả về mặt chất nữa và đặc biệt là trong khoảng một thập niên vừa qua.

• Dự báo tình hình thi truong Bảo Hiểm Việt Nam:

Với việc Luật kinh doanh BH được Quốc Hội thông qua vào 12/2000 thì nó là cơ sở cho thị trường BH Việt Nam ngày càng ổn định và phát triển trong tương lai. Cùng với xu thế hội nhập hiện nay thì tình hình BH ở Việt Nam sẽ hứa hẹn có một tương lai tôt đẹp, vì thị trường BH ở Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng mà chúng ta chỉ mới bước đầu khai thác. Trong tương lai gần thì Việt Nam sẽ có vị thế vững vàng trong khu vực về lĩnh vực BH.Và để có thể đạt được đích đến đó thì vấn đề của chúng ta là phải xác định được chiến lược và kế hoạch phát triển trong tương lai thật hợp lý và thận trọng. Một vấn đề nữa là phải lam cho mọi người hiểu là:”Bảo Hiểm giúp chúng ta giải quyết tất cả. Nó đảm bảo cho chúng ta không phải lo lắng gì cả, đảm nhiẹm số phận cũng như sự không hiểu biết của chúng ta và làm cho chúng ta mất đi nỗi lo sợ trước tương lai”.
Một số câu châm ngôn mà người Đức nói về Bảo Hiểm:
1. Một ngày thường mà không có Bảo Hiểm thì như là một bậc thang không có tay vịn.
2. Ai đứng trước tương lai của mình như đứng trước một bàn trò chơi và chờ đợi một sự ngẫu nhiên mù quáng thì đó là một thằng điên.
3. Bảo Hiểm cuộc sống và tình yêu có một cái chung đó là người ta càng gia nhập muộn hơn thì bảo hiểm phí càng cao hơn.
4. Nhưng phút giay mà ngài quyết định về bảo hiểm có thể giá trị bằng vàng.



Phạm Thanh Phương
Lớp:NH1 .Khóa 27








Lên đầu trang

ayumi
Thành Viên Mới

Vietnam
3 bài gởi

Posted - 06/10/2004 :  17:50:49  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Qua hơn chục năm phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam (BHVN), BHVN không ngừng mở rộng về qui mô và chất luợngdịch vụ, Điều này hứa hẹn một thị trường bảo hiểm hoàn thiện trong tương lai ở nước ta.
BHVN đang dần được tự do hóa dịch vụ bảo hiểm ,vai trò của các công ty cổ phần ,công ty liên doanh và các công ty 100%vốn nước ngoài ngày càng tăng lên .Năm 1993,ở Việt Nam 100% các công ty bảo hiểm là DNNN nhưng đến nay đã tăng lên 15 công tyBH với đầy đủ các loại hình: doanh nghiệp, công ty cổ phần ,cty liên doanh, cty 100% vốn nước ngoài.Không những BHVN tăng về số lượng ,loại hình doanh nghiệp mà hiện nay ,BHVN đã phát triển với đầy đủ các chức năng :bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm...Điều này dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực bảo hiểm .Năm 1995,Bảo Việt chiếm 83.07% thị phần bảo hiểm phi nhân thọBảo Minh 15.04%, Bảo Long +PJICO chiếm 1.53%nhưng sang năm 1996thị phần đã thay đổi Bảo Việt 69.06%,Bảo Minh 20.28%,PJICO 4.08%,PVIC4.96% ,Bảo Long 1.49%,VIA 0.13%.Ta thấy có những công ty bảo hiểm mới xuất hiện giành giật thị phần trên thị trường bảo hiểm .Và đến năm 2003,Bảc Việt chỉ còn 41.68%, Bảo Minh 23.52%, PJICO 9.27%,PVCI 13.82%,PTI 4.01%, VIA 1.58%, Allianz 1.66%, Việt úc 0.43%,Bảo long 1.49%,UIC 2.23%, công ty bảo hiểm nông nghiệp 0.05%,Bảo Ngân 0.06%,SamSung Vina 0.2%.Ta thấy Bảo Minh giữ vững thị phần và ngày càng mở rộng do trước đây thuộc tổng công ty bảo hiểm Việt Nam nay tách ra có kinh nghiệm tích lũy ,cán bộ có nghiệp vụ tốt ; Nay tách ra có sẵn thị phần lại thêm điều kiện để mở rộng mạng lưới chi nhánh.Quá trình tự do hóa dịch vụ buộc các công ty bảo hiểm cạnh tranh .Điều này có lợi cho người tiêu dùng .Qua số liệu trên ta thấy các công ty PJICO,PVIC,PTI mới ra đời nhưng thị phần khá lớn và ổn định vì đây là những công ty bảo hiểm chuyên ngành,tận dụng lợi thế chuyên ngành để kinh doanh bảo hiểm .Mặt khác, các công ty cổ phần bảo hiểm còn thu hút vốn của các ngành khác (bưu điện,xăng dầu,viễn thông..)tạo động lực khai thác triệt để tiềm năng bảo hiểm.Tuy nhiên ,công ty bảo hiểm chuyên ngành tạo cát cứ ,độc quyền ngành.Do đó hiện nay khi các công ty bảo hiểm chuyên ngành xin giấy phép thành lập được nhà nước xem xét kĩ lưỡng.
Trong một số lĩnh vực bảo hiểm :Bảo hiểm xe cơ giới Bảo Việt 54.96%,Bảo Minh 29.45%; Bảo hiểm hàng không Bảo Minh 99.64% ta thấy bảo hiểm Việt Nam vẫn còn thế độc quyền trong một số lĩnh vực.Và vấn đề đặt ra,khi cổ phần hóa nên chăng bán một số cổ phần cho một số các công ty là khách hàng chính của các công ty bảo hiểm trong nước như công ty hàng không Việt Nam để giữ khách hàng. Điều này ta nên học hỏi Trung Quốc và Nhật Bản.
Bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển nhanh,số lượng các đại lý tăng nhanh chóng từ trên 35000trong năm 2001đến nay đã lên 100000 đại lý.Vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiể cũng không ngừng tăng lên từ 157 tỷ VND(1996) lên 3647 tỷ VND(2001) .Tổng doanh thu BHVN tăng từ 207 tỷ VND(1991)lên 3048tỷVND(2000)
Phí bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ đều tăng cao :phi nhân thọ tăng từ 207tỷ(1991)lên 1798 tỷ(2000),nhân thọ tăng từ 11tỷ (1997)lên 1250 tỷ (2000).Sự tăng trưởng BHVN được đánh giá rất tốt .Đặc biệt bảo hiểm nhân thọ tăng rất nhanh.
Qua những nhận định về thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua ta có thể đưa ra dự báo vầ thị trường BHVN trong tương lai:
Thị trường bảo hiểm hiện nay còn nhiều tiềm năng .Dân số của Việt Nam đến nay đã trên 80 triệu dân. Đây là thị trường rất lớn của bảo hiểm Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam tăng với tốc độ nhanh trên7%/năm.Mức thu nhập bình quân đầu người cũng tăng với tốc độ rất tốt.Đây là một trong những điều kiện rất quan trọng cho BHVN phát triển. Thêm vào đó ,trình độ dân trí của Việt Nam ngày càng nâng cao,nhận thức về tầm quan trọng của bảo hiểm đối với đời sống ngày càng tăng ;do đó mua bảo hiểm sẽ trở thành một nhu cầu trong tương lai đặc biệt là các loại :bảo hiểm y tế,bảo hiểm tai nạn ,bảo hiểm xe cơ giới,bảo hiểm an sinh giáo dục,và các hình thức bảo hiểm dành cho người cao tuổi....Vấn đề đặt ra cho các công ty bảo hiểm Việt Nam là nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm để có thể đáp ứng mọi nhu cầu của các đối tượng có thu nhập và nhu cầu khác nhau.
Ngành BHVN trong tương lai sẽ phát triển theo xu hướng hội nhập, Việt Nam mở cửa cho các công ty bảo hiểm lớn của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.Điều này tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho BHVN,tạo ra một sự cạnh tranh khốc liệt làm cho thị trường bảo hiểm phát triển hoàn chỉnh , người tiêu dùng sẽ được hưởng những dịch vụ tốt nhất .Để các công ty BHVN có thể giữ vững thị phần và phát triển thị trường ra nước ngoài thìngay từ bây giờ các công ty bảo hiểm phải nổ lực tạo ra được lòng tin,tình cảm nơi khách hàng, gắn liền quyền lợi của mình với quyền lợi khách hàng. Các công ty bảo hiểm trong tiến trình cổ phần hóa nên dành một số cổ phần cho khách hàng của mình như đã nói trên đây ,có như thế mới có được sự ràng buộc giữa trách nhiệm và quyền lợi giữa khách hàng và công ty của mình.
Tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển với tốc độ ngày càng cao, mọi thành phần kinh tế, lĩnh vực kinh tế sẽ cùng phát triển. Hiện nay kênh phân phối qua hệ thống ngân hàng cũng được các công ty bảo hiểm nhân thọ khai thác và mang lại hiệu quả không nhỏ, điển hình là đã có công ty liên doanh bảo hiểm Việt- Úc giữa Ngân hàng BIDV và tập đoàn QB của Úc, Công ty bảo hiểm Bảo Ngân giữa ngân hàng Incombank và công ty bảo hiểm Á Châu của Singapore, Ngân hàng VCB đã trở thành đại lý phân phối chính thức của Prudential và thực hiện thanh toán phí bảo hiểm thông qua hệ thống thẻ tự động ATM.Đây là một xu hướng rất tốt các công ty bảo hiểm Việt Nam cần phải xem xét và phát huy để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
SINH VIÊN : VÕ LAM GIANG –NH2-K27


ayumi
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 06/10/2004 :  21:22:06  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
*Đánh giá thị trường Bảo hiểm Việt Nam:
Từ 1994-2004, thị trường bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng nhanh, hoàn thiện hơn, có đầy đủ các loại hình Bảo hiểm.. Nguyên nhân là vì:
-Khi tăng trưởng kinh tế cao và ổn định thì Bảo hiểm phát triển, còn nền kinh tế đi xuống, gặp khó khăn, khủng hoảng thì kéo theo ngành bảo hiểm đi xuống.
+1993-1998: giai đoạn tăng trưởng của thị trường Bảo hiểm phi nhân thọ
+1997-2003: Giai đoạn tăng trưởng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ
Năm 97,98,99, Bảo hiểm phi nhân thọ chựng lại do những khủng hoảng kinh tế, đầu tư giảm, nên bảo hiểm phi nhân thọ giảm. Năm 2001-2002, Bảo hiểm phi nhân thọ khôi phục lại, năm 2003 Bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục tăng trưởng nhưng không cao như trước đây, còn Bảo hiểm nhân thọ thì tiếp tục tăng cao
-Bảo hiểm đảm bảo cho các tài sản, đối tượng doanh nghiệp thể hiện ở giá trị bằng tiền. Việc ổn định đồng tiền, kiềm chế lạm phát đồng thờI thúc đẩy thị trường bảo hiểm.
Như ta thấy, công ty Bảo Minh có thể giữ vững thị phần và còn tăng thêm trong những năm qua vì công ty Bảo Minh không phải là công ty mới ra đới mà nó tích luỹ nghiệp vụ kinh doanh trước năm 1976. Trước đây, nằm trong hệ thống Bảo Việt, hoạt động ở TPHCM. Nó tách ra và hoạt động trên khắp mọi miền đất nước, uy tín có sẵn. Từ năm 1995 đến năm 1997, có sự cạnh tranh giữa Bảo Việt và Bảo Minh. Quá trình tự do hoá dịch vụ bảo hiểm có lợI cho người tiêu dùng.
PJICO, PTI, PVIC mớI ra đời nhưng có sự cạnh tranh khá lớn và ổn định là vì những công ty Bảo hiểm chuyên ngành, tận dung những lợi thế của chuyên ngành để thu hút khách hàng. Khi tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì nó khai thác triệt để tiềm năng Bảo hiểm của thị trường Việt Nam, tạo lợI thế cho ngành Bảo hiểm. Tuy nhiên nó cũng đem lại nhiều tác hại, các công ty Bảo hiểm chuyên ngành tạo ra sự khác tướng độc quyền ngành, làm xáo động thị trường.
Nhìn tổng thể thì thị trường Bảo hiểm của ta tốt, loại hình độc quyền nhà nước ngày càng mất ưu thế. Để giữ được thị phần khi ta tự do hoá dịch vụ Bảo hiểm bằng cách trao quyền kinh doanh cho ngườI khác
*Dự báo thị trường Bảo hiểm Việt Nam:
-Chúng ta có tiềm năng vì nước ta là nước có dân số đông, dân số trẻ, số người nằm trong độ tuổi lao động nhiều nên tiêu dùng bảo hiểm rất lớn.
- Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển, GDP của Việt Nam ngày càng tăng (năm 2004 là 7,5%) nên có khả năng đóng bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ tăng khi thu nhập bình quân đầu người tăng, đời sống của người dân Việt nam ngày càng toàn cầu hoá, những thông lệ trong nền kinh tế hiện đại sẽ làm thay đổi phong tục Việt Nam, nhiều cách sống hiện đại sẽ du nhập vào Việt Nam.
-Ở Việt Nam có sự giao thoa giữa văn hoá Phương Đông và Phương Tây rất sớm. Điều quan trọng là sự phát triển nền kinh tế xã hội theo hướng toàn cầu hoá. Ngành Bảo hiểm Việt Nam phát triển theo hướng hội nhập quốc tế theo 2 chiều: mở cửa cho nước ngoài vào, mở ra cho các quốc gia khác.
Các ngân hàng là các định chế tài chính trung gian giữ vai trò quan trọng trong tổ chức vốn cho nền kinh tế Việt Nam, các ngân hàng đang hướng tớI việc thành lập các công ty bảo hiểm. Điều này chứng tỏ, thị trường bảo hiểm của Việt Nam trong tương lai rất có tiềm năng.
Nhận Xét:
Thị trường bảo hiểm Việt Nam tuy có tiềm năng nhưng khó khai thác hết được do:
+ Phần lớn ngườI dân việt Nam tham gia bảo hiểm xe cơ giớI vì bị bắt buộc.
+ Chất lượng dịch vụ phục vụ bảo hiểm y tế còn quá kém làm mất lòng tin ngườI dân.
+ Bảo hiểm nhân thọ thích hợp cho những người có thu nhập cao, ổn định , tuy chất lượng dịch vụ tốt, nhưng phí bảo hiểm cao
+ NgườI dân vẫn còn thói quen giữ tiền bên mình phòng khi rủI ro.

Họ và tên sinh viên:CHÂU NGUYÊN CHƯƠNG
Lớp: NH2 / STT:07
Khoa: Ngân hàng .


Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 06/10/2004 :  21:40:39  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN HUỲNH UYÊN CHI.
Lớp: NH2-KDTT1
Khoa KDTT
MSSV:101227005
Đề tài: Hãy đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam


Bài Làm:

Lịch sử bảo hiểm Việt Nam có 3 thời kỳ trước năm 1954, từ 1954-1975, từ 1975 đến nay
* Trước năm 1954:
Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đại lý bảo hiểm của bảo hiểm nước ngoài, luật lệ quy định bảo hiểm đó là Pháp.
* Từ năm 1954-1975 đất nước bị chia cắt, Miền Bắc đi lên Chủ nghĩa xã hội, thời gian đầu hoạt động bảo hiểm chưa có. Mãi đến ngày 17/12/1964 Hội đồng Chính Phủ ra quyết định thành lập Bảo Việt. Bảo Việt ra đời vào ngày 15/1/1965:
- Có 2 chi nhánh lớn.
- Nghiệp vụ: Bảo hiểm hàng hải:Bảo hiểm hàng hoá và bảo hiểm xuất nhập khẩu.
Tất cả dành cho cuộc chiến tranh : nền kinh tế tập trung chống chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Miền Nam: nền kinh tế thị trường phát triển. Đến năm 1970, Sài Gòn trở thành “Hòn ngọc Viễn Đông”, Bảo hiểm thương mại tương đối phát triển. Năm 1972, Sài Gòn có khoảng 54 công ty bảo hiểm trong và ngoài nước. Năm 1965, chính quyền Sài Gòn đưa ra một sắc luật 15/65 giống luật của Pháp nhưng có chỉnh sửa để phù hợp với tình hình Việt Nam. Trước năm 1975 đã có công ty bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hoả hoạn.
* Từ 1975 đến nay:
- 1975 đến 1993:
+ 1975 ở Sài Gòn có 54 công ty quốc hữu hoá và tất cả công ty đó sau khi quốc hữu hoá thì đước tập trung vào BAVINA.
+ 1976: BAVINA trở thành Bảo Việt của TPHCM.
+ 1988: Bảo Việt nâng cấp lên thành tổng công ty, đây là bước phát triển của Bảo Việt.
+ 12/1992, Bộ tài chính giao vốn cho Bảo Việt. Nghị định ĐQNN ra đời, Bảo hiềm là công cụ nằm trong tay chính phủ để diều khiển nến kinh tế.
- 1994 đến nay:
+ 18/12/1993: nghị định 100CP ra đời xoá bỏ độc quyền nhà nước, mở ra 1 giai đoạn mới.
+ 11/1994 công ty Bảo Minh ra đời , sau đó PJICO ra đời.
+ 12/2000 luật kinh doanh bảo hiểm được quốc hội thông qua, bắt đầu hiệu lực 1/4/2001.
+ 8/2003 chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2010 được Chính Phủ thông qua.
*Tình hình thị trường Bảo hiểm Việt Nam từ 1994 đến nay:
Doanh nghiệp Bảo hiểm có 25 công ty, số lượng công ty tăng nhanh
- Lĩnh vực kinh doanh: gồm Bảo hiểm gốc, tái Bảo hiểm, môi giớI bảo hiểm, đại lý Bảo hiềm.
- Thành phần kinh tế: Nhà nước từ độc quyền nhà nước, sau khi xoá bỏ độc quyền nhà nước thì nhiều doanh nghiệp nhà nước, sau đó có sự tham gia các công ty cổ phần, rồI đến liên doanh và cuối cùng là 100% vốn nước ngoài, tư nhân.
Thị phần Bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam năm 2001,2002,2003
Công ty 2001(%) 2002(%) 2003(%)
Bảo Việt 45.975 40.39 41.68
Bảo Minh_CMG 23.774 28.08 23.52
PJICO 5.759 5.65 9.27
PVIC 12.888 14.50 13.82
PTI 3.808 3.70 4.01
VIA 1.505 1.41 1.58
ALLIANZ 2.212 2.62 1.66
VIET_UC 0.533 0.56 0.43
Bảo Long 1.063 1.09 1.49
UIC 2.483 2.00 2.23
Nông nghiệp 0.05
Bảo Ngân (IAI) 0.06
SAMSUNGVINA 0.2

Thị phần bảo hiểm của các công ty Bảo hiểm nhân thọ
Công ty 2002(%) 2003(%) 2004(Hợp đồng đang có hiệu lực)(%)
AIA 5 5.92 4.21
Bảo Minh 2 2.34 1.81
Bảo Việt 46 38.09 34.09
Manulfe 12 8.13 6.36
Prudential 35 45.52 33.53
Bảo hiểm nhân thọ Bảo Việt triển khai năm 1997, 1999 manulfe xuất hiện,Prudential xuất hiện
Số đại lý mới năm 2002
Công ty Đại lý mới Tổng đại lý
AIA 6,569.00 4,600.00
Bảo Minh 5,372.00 4,565.00
Bảo Việt 7,789.00 17,860.00
Manulfe 7,938.00 6,347.00
Prudential 18,569.00 36,398.00
Tổng 46,187.00 69,850.00
Tốc độ phát triển đại lý năm 2002
Công ty 2001 2002 Tốc độ tăng trưởng(%)
AIA 6,158.00 4,680.00 -24
Bảo Minh 1,502.00 4,565.00 203.93
Bảo Việt 12,800.00 17,860.00 39.53
Manulfe 4,630.00 6,347.00 37.08
Prudential 17,210.00 36,398.00 111.49
Tổng 42,300.00 69,480.00 64.25
*Đánh giá thị trường Bảo hiểm Việt Nam:
Nếu như một số công ty lớn tiếp tục khẳng địmh vị thế của mình như Bảo Việt phi nhân thọ đạt 933 tỷ VND, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước, Bảo Minh đạt 529 tỷ VNDtăng 7,6%, PJICO đạt 240 tỷ VND tăng 70% thì các công ty nhỏ có sức vươn lên tương đối tốt như UIC tăng 55%, PTI tăng 39,6%, Bảo Long tăng 67,7%, Allianz tăng 68,4%,…
Hầu hết các nghiệp vụ đối ngoại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đều phát triển ổn định như: nghiệp vụ bảo hiểm hành không, phí của nghiệp vụ này đạt trên 217 tỷ VND, tăng 66% so với cùng kỳ năm 2003. Sở dĩ nghiệp vụ này có bước nhảy vọt lớn như vậy là do năm nay Việtnam Airlines mua và thuê thêm hàng loạt máy bay mới.
Qui định bảo hiểm bắt buộc đối với cháy nổ chưa được triển khai nhưng nghiệp vụ này vẫn có tốc độ tăng trưởng ổn định là 15%, với phí thu đạt ước 200 tỷ VND, tuy nhiên tình hình cháy nổ trên toàn quốc lại diễn biến xấu, tính đến hết tháng 6 cả nước đã xảy ra hàng trăm vụ cháy lớn nhỏ gây tổn thất rất lớn về người và tài sản. Đặc biệt có những vụ tổn thất lớn thuộc trách nhiệm bảo hiểm như: cháy nhà máy giày Khải Hoàn (Đài Loan) ngày 27/3/2004 tổn thất ước tính 50 tỷ VND. Cháy nhà máy dệt PUYEN (Đài Loan) ngày 3/3/2004 thiệt hại ước tính 60 tỷ. Cháy nhà máy sợi công nghiệp Hà Nội ước tính tổn thất 4 tỷ VND,…
Bảo hiểm XNK của bảo hiểm Việt Nam trong 6 tháng qua đạt ước trên 160 tỷ VND phí tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ nghiệp vụ này có tốc độ tăng trưởng cao là do năm nay hàng hóa XNK của ta đạt tương đối cao (XK đạt 11,8 tỷ USD tăng 19,8%, NK đạt 14,169 tỷ USD tăng 14,7%), tỷ lệ hàng được bảo hiểm có xu hướng tăng hơn năm trước.
Ngược lại các nghiệp vụ đối nội của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam phát triển không đều, điển hình như nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Cùng thời điểm này năm trước tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm gốc có tiến hành bảo hiểm xe cơ giới đều ra quân đồng loạt thu phí bảo hiểm xe cơ giới nên gây ra cơn sốt bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe, nhưng năm nay loại hình này có vẻ im ắng hơn, phí bảo hiểm của loại hình này không nhúc nhích, thậm chí còn giảm sút ở một số công ty.
Nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp còn ảm đạm hơn nhiều, hiện nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có hai công ty tiến hành bảo hiểm nông nghiệp là Bảo Việt và Groupama- Công ty Pháp. Nếu như Bảo Việt chỉ tiến hành bảo hiểm nông nghiệp với tính chất giữ chỗ (vì họ đã tiến hành nghiệp vụ này hành chục năm nay nhưng toàn lỗ) thì Groupama có thể nói là công ty dũng cảm nhất trong số tất cả các công ty nước ngoài dám tiến hành bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam. Nếu sáu tháng năm trước họ còn thu được khoảng trên 1 tỷ VND tiền phí, thì sáu tháng năm nay phí của công ty này chưa vượt qua được con số trên, buộc công ty này có thể phải chuyển hướng nếu muốn tồn tại. Bởi vậy nhà nước nên quan tâm ngay lập tức và có chế độ ưu đãi đặc biệt đối với doanh nghiệp nào dám làm bảo hiểm doanh nghiệp ở Việt Nam.
Nhìn chung, thị trường Bảo hiểm Việt Nam sau 10 năm hoàn thiện hơn, có đầy đủ các loại hình Bảo hiểm, từ Bảo hiểm gốc, tái Bảo hiểm, đến môi giới Bảo hiểm. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực Bảo hiểm ngày càng gây gắt hơn, hoàn thiện hơn, lợi ích của khách hàng ngày càng tăng, chất lượng dịch vụ phục vụ, cung cấp cho khách hàng ngày càng cao.
Qua các số liệu, ta thấy, Bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng nhanh, số liệu các công ty, đại lý tăng nhanh, giá trị dịch vụ tăng nhanh. Nguyên nhân tăng trưởng của thị trường Bảo hiểm Việt Nam là vì: khi tăng trưởng kinh tế cao và ổn định thì Bảo hiểm phát triển.
Thực tế cho thấy doanh nghiệp Bảo hiểm là 1 định chế Tài chính trung gian nên vấn đề tài chính của nó rất quan trọng. Thời kỳ đổi mới của thị trường Bảo hiểm Việt Nam, doanh thu Bảo hiểm:
+ 1993-1998: giai đoạn tăng trưởng của thị trường Bảo hiểm phi nhân thọ
+ 1997-2003: Giai đoạn tăng trưởng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ
Năm 97,98,99, Bảo hiểm phi nhân thọ chựng lại do những khủng hoảng kinh tế, đầu tư giảm, nên bảo hiểm phi nhân thọ giảm. Năm 2001-2002, Bảo hiểm phi nhân thọ khôi phục lại, năm 2003 Bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục tăng trưởng nhưng không cao như trước đây, còn Bảo hiểm nhân thọ thì tiếp tục tăng cao
- Bảo hiểm đảm bảo cho các tài sản, đối tượng doanh nghiệp thể hiện ở giá trị bằng tiền. Việc ổn định đồng tiền, kiềm chế lạm phát đồng thời thúc đẩy thị trường bảo hiểm. Lạm phát nguy cơ tăng thì việc bán Bảo hiểm khó khăn hơn. Năm 2004, khó khăn cho Bảo hiểm nhân thọ nói chung, bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng liên quan đến vấn đề lạm phát và chỉ số giá
Tự do hoá dịch vụ Bảo hiểm: sự thay đổi trong cấu trúc vốn ngành Bảo hiểm, tỉ trọng của các công ty tư nhân, nước ngoài, liên doanh gia tăng
Như ta thấy, công ty Bảo Minh có thể giữ vững thị phần và còn tăng thêm trong những năm qua vì công ty Bảo Minh không phải là công ty mới ra đới mà nó tích luỹ nghiệp vụ kinh doanh trước năm 1976. Trước đây, nằm trong hệ thống Bảo Việt, hoạt động ở TPHCM. Nó tách ra và hoạt động trên khắp mọi miền đất nước, uy tín có sẵn. Từ năm 1995 đến năm 1997, có sự cạnh tranh giữa Bảo Việt và Bảo Minh. Quá trình tự do hoá dịch vụ bảo hiểm có lợi cho người tiêu dùng.
PJICO, PTI, PVIC mới ra đời nhưng có sự cạnh tranh khá lớn và ổn định là vì những công ty Bảo hiểm chuyên ngành, tận dung những lợi thế của chuyên ngành để thu hút khách hàng. Khi tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì nó khai thác triệt để tiềm năng Bảo hiểm của thị trường Việt Nam, tạo lợi thế cho ngành Bảo hiểm. Tuy nhiên nó cũng đem lại nhiều tác hại, các công ty Bảo hiểm chuyên ngành tạo ra sự khác tướng độc quyền ngành, làm xáo động thị trường.
Nhìn tổng thể thì thị trường Bảo hiểm của ta tốt, loại hình độc quyền nhà nước ngày càng mất ưu thế. Để giữ được thị phần khi ta tự do hoá dịch vụ Bảo hiểm bằng cách trao quyền kinh doanh cho người khác
*Dự báo thị trường Bảo hiểm Việt Nam:
- Chúng ta có tiềm năng vì nước ta là nước có dân số đông, dân số trẻ, số người nằm trong độ tuổi lao động nhiều nên tiêu dùng bảo hiểm rất lớn. Số người từ 0->13 tuổi cao nên bảo hiểm an sinh xã hội cao do cha mẹ mua bảo hiểm an sinh cho con cái , chiếm tỉ trọng lớn, nhưng trong tương lai khoảng 10 năm sau có xu hướng giảm, không mua bảo hiểm an sinh xã hội nữa mà chuyển sang bảo hiểm lúc về già. GDP của Việt Nam ngày càng tăng, tăng trưởng kinh tế tăng (năm 2004 là 7,5%) nên có khả năng đóng bảo hiểm nhân thọ. Do bảo hiểm phi nhân thọ chỉ có thể tăng trưởng khi giá trị của các ngành khác và công nghiệp tăng, bảo hiểm nhân thọ tăng khi thu nhập cuả người dân tăng từ các ngành khác. Nền kinh tế Việt Nam tăng thì GDP tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng, đời sống của người dân Việt nam ngày càng toàn cầu hoá, những thông lệ trong nền kinh tế hiện đại sẽ làm thay đổi phong tục Việt Nam, nhiều cách sống hiện đại sẽ du nhập vào Việt Nam. Điều quan trọng là sự phát triển nền kinh tế xã hội theo hướng toàn cầu hoá. Ngành Bảo hiểm Việt Nam phát triển theo hướng hội nhập quốc tế theo 2 chiều: mở cửa cho nước ngoài vào, mở ra cho các quốc gia khác.Chính từ điều này dẫn đến vấn đề:
+ Hiện nay ta có nhiều công ty bảo hiểm của nước ngoài (tập đoàn tài chính đứng đầu của nước ngoài đã có mặt ở nước ta), mở cửa như thế nào để trong xu thế tự do mậu dịch,khi các bảo hiểm nước ngoài vào mà bảo hiểm ta không bị thất thế, nuốt chửng, vẫn giữ được thị phần và khả năng cạnh tranh. Nhưng nếu không mở cửa thì đến một lúc nào đó kinh tế khu vực Châu Á, Đông Nam Á, Bảo hiểm là những nước nhỏ thì Bảo hiểm Việt Nam không thể vươn xa.
Các ngân hàng là các định chế tài chính trung gian giữ vai trò quan trọng trong tổ chức vốn cho nền kinh tế Việt Nam, các ngân hàng đang hướng tới việc thành lập các công ty bảo hiểm. Điều này chứng tỏ, thị trường bảo hiểm của Việt Nam trong tương lai rất có tiềm năng.
- Tuy nhiên, ngày nay, đa số người dân Việt Nam không tham gia bảo hiểm, trừ những loại bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm xe cơ giới. Vì chất lượng dịch vụ phục vụ bảo hiểm cho khách hàng còn rất kém như bảo hiểm y tế. Khi người đóng bảo hiểm y tế đến khám chữa bệnh trình thẻ bảo hiểm y tế thì thái độ và cách phục vụ của nhân viên y tế rất kém , phải chờ đợi lâu. Đa số người dân của ta đã mất lòng tin với bảo hiểm y tế. Còn các loại hình bảo hiểm nhân thọ chất lượng dịch vụ chưa tốt lắm mà phí bảo hiểm lại rất cao nên cần phải quan tâm đến khách hàng nhiều hơn (nếu ta chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì ta sẽ bị mất một số tiền rất lớn mà ta đã đóng trong nhiều năm, chỉ nhận lai được một phần nhỏ). Vì vậy, loại hình bảo hiểm này chưa được phổ biến rộng rãi, nó chỉ thích hợp cho những người có thu nhập cao, ổn định, mà nước ta là một nước đang phát triển, tỉ lệ người có thu nhập thấp, không ổn định lại chiếm đa số. Các nhà bảo hiểm chưa tạo được lòng tin trong người dân, và người dân vẫn còn thói quen giữ tiền bên mình phòng khi rủi ro hơn là mua bảo hiểm. Do đó, tuy thị trường bảo hiểm Việt Nam trong tương lai rất có tiềm năng nhưng khó mà khai thác được. Nếu các nhà bảo hiểm khác phục được những điều trên và xoá bỏ được thành kiến, tạo được lòng tin trong dân chúng thì Việt Nam chắc hẳn là một thị trường rất tốt để phát triển.
Tuy nhiên để thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam xúng đáng là tấm lá chắn của nền kinh tế, tiếp tục tăng trưởng ổn định theo định hướng của chính phủ đã đề ra thì trong những tháng còn lại của năm 2004 các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm phủ kín toàn bộ địa bàn, thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu bảo hiểm của xã hội, đặc biệt là lưu tâm đến những nghiệp vụ mang tính chất phục vụ.


Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 06/10/2004 :  23:59:58  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Tham gia đề tài: Đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam

ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Bắt đầu được mở rộng phát triển vào năm 1993 với Nghị định 100/CP của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm, thị trường bảo hiểm của Việt Nam cho đến nay đã dần định hình và phát triển.
1. Những thành tựu đạt được:
-Quy mô thị trường bảo hiểm đã tăng đáng kể, phục vụ yêu cầu của nền kinh tế và xã hội:
+thị trường bảo hiểm tăng trưởng với tốc độ cao với doanh thu phí bảo hiểm tăng hàng năm khoảng 29%.Tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trong GDP cũng tăng nhanh: từ 0,37%(1993) lên 1,8% (2003).Hoạt động bảo hiểm đóng vai trò tích cực tới việc ổn định kinh tế-xã hội.Các công ty bảo hiểm giải quyết tốt công tác bồi thường đã giúp doanh nghiệp và nông dân ổn định sản xuất và sinh hoạt, giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách.Bên cạnh đó,các DNBH cũng huy động được một số vốn lớn và dài hạn rất có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế-xã hội.Ngoài ra, các DNBH cũng góp phần giải quyết việc làm cho người lao động và giúp cho đông đảo quần chúng nhân dân quen thuộc hơn với bảo hiểm, nâng cao nhận thức của mọi người về sự cần thiết của công tác bảo hiểm.
-Từng bước hình thành thị trường bảo hiểm hoàn chỉnh:
+hiện nay thị trường đã có hơn 20 DN tham gia hoạt động thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó có 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài giúp cải thiện môi trường đầu tư, củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài.
+năng lực kinh doanh và trình độ của cán bộ bảo hiểm ngày càng được nâng cao cùng với năng lực tài chính của các DN cũng liên tục được mở rộng.
-Ngày càng nâng cao chât lượng và hiệu quả hoạt động bảo hiểm
+Số lượng các sản phẩm bảo hiểm phong phú bao gồm cả loại hình BH nhân thọ, phi nhân thọ gồm cả 3 lĩnh vực BH con người, tài sản và trách nhiệm.
+chất lượng sản phẩm bảo hiểm, chất lượng phục vụ cũng được nâng cao do tình trạng độc quyền không còn đòi hỏi các DN phải tập trung đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ nhằm thu hút khách hàng.
-Ngành BH cũng từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm trong khu vực và quốc tế.
+Tham gia vào Diễn đàn các cơ quan BH của ASEAN và Hiệp hội các cơ quan quản lý bảo hiểm quốc tế, ngành BH nước nhà đã tiếp cận vào các nguyên tắc và tiêu chuẩn chung của thị trường BH thế giới, tạo sức ép tự hoàn thiện đồng thời thu hút thông tin , công nghệ và kinh nghiệm.
+Mở cửa thị trường BH: cùng với việc mở cửa thị trường cho phép các DN nước ngoài tham gia, ngành BH ViệtNam đã từng bước hoàn thiện, kiện toàn thị trường trong nước, đóng góp tích cực cho các mục tiêu kinh tế- xã hội.
-Cuối cùng và không kém phần quan trọng,công tác quản lý của Nhà nước đối với thị trường này càng được hoàn thiện hơn, thật sự đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường cũng như định hướng cho thị trường phát triển.Cùng với Luật Kinh doanh bảo hiểm ra đời năm 2000, các Nghị định Thông tư ra đời sau đó đã tạo khung pháp lý vững chắc, giúp các DNBH yên tâm phát triển hoạt động. Bên cạnh đó,phương thức quản lý bỏ dần những can thiệp hành chính và tăng cường năng lực quản lý, trình độ của cán bộ cũng tạo nên những biến chuyển tích cực trên thị trường.Hiệp hội bảo hiểm VN ra đời đã từng bước trở thành cầu nối giữa DN và cơ quan quản lý, giữa DN với nhau thúc đẩy sự hợp tác, phát triển của ngành BH.

2.Những vấn đề tồn tại:
Bên cạnh những thành tựu đáng kể trên, ngành BHVN nói chung vẫn còn những yếu kém cần khắc phục:
-Thị trường vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội:
+Quy mô thị trường so với mức bình quân của khu vực và thế giới còn nhỏ bé, năng lực tài chính thấp.Cho đến nay, trừ Bảo Việt và Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential, các doanh nghiệp BH còn lại mới chỉ có đủ số vốn theo quy định của pháp luật. Và như vậy với tổng số vốn thực (khoảng 1.515 tỷ đồng) thì không đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành BH Việt Nam trên thương trường thế giới.
+Khả năng đầu tư của các DN còn hạn chế.Thực tế cho thấy, mặc dù đến năm 2003, tổng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp BH lên tới 6.700 tỷ đồng, nhưng tỷ trọng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng chiếm tỷ lệ rất ít, chỉ khoảng 20%, tỷ trọng đầu tư bằng hình thức gởi tiền các tổ chức tín dụng và NH vẫn cao, chiếm tới 80%.
-Công nghệ quản lý kinh doanh BH chưa được hiện đại hóa, nhiều doanh nghiệp vẫn còn áp dụng các phương pháp thủ công trong việc quản lý hợp đồng, cấp đơn và thu phí BH. Hầu hết các doanh nghiệp chưa thiết lập được hệ thống phần mềm tin học tính phí BH, trích lập dự phòng nghiệp vụ do thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi về thẩm định BH, quản lý rủi ro và đầu tư…
-Tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn tồn tại.
+Việc tồn tại nhiều công ty cổ phần BH chuyên ngành như Công ty BH Dầu khí (PVI), Công ty Cổ phần BH Petrolimex (PJICO) và Công ty Cổ phần BH Bưu điện (PTI)... đang tạo ra tình trạng độc quyền BH trong các ngành: dầu khí, xăng dầu và bưu chính viễn thông.Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp BH và công ty cổ phần BH chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của ngành mình, hơn nữa do có sẵn dịch vụ, sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính của ngành, cho nên không quan tâm đến việc nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh để nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và mở rộng phục vụ đến đông đảo khách hàng.
+Dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn:tình trạng cạnh tranh hạ phí BH, tăng chi phí hoa hồng BH. Nhiều doanh nghiệp đôi khi chỉ lo giành dịch vụ mà không quan tâm đến công tác đánh giá rủi ro, đề phòng và hạn chế tổn thất, giám định, bồi thường kịp thời. Riêng trong lĩnh vực BH nhân thọ, các doanh nghiệp còn quá chú trọng đến việc trả hoa hồng đại lý cao, tuyển dụng nhiều đại lý để mở rộng thị phần, tăng doanh thu mà không quan tâm đến công tác đào tạo nâng cao chất lượng đại lý, dẫn đến cơ cấu sản phẩm chỉ tập trung vào các sản phẩm ngắn hạn, phát sinh nhiều tranh chấp giữa doanh nghiệp BH với khách hàng, làm hạn chế khả năng huy động vốn đầu tư dài hạn và làm giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân đối với loại hình BH còn khá mới mẻ này kìm hãm khả năng phát triển bền vững của ngành BHVN trong giai đoạn hộo nhập.
-Hoạt động môi giới BH còn yếu. Hiện nay chỉ có 2 công ty là công ty liên doanh AONINCHIBROK và công ty Việt Quốc.
- Số lượng sản phẩm tuy đã tăng đáng kể nhưng so với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hành vẫn chưa đáp ứng được.

Tóm lại, bên cạnh những thàh tựu đạt được rất đánh kh1ch lệ, thị trường BHVN vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải có những điều chỉnh thích hợp nhằm giúp thị trường phát triển đúnh định hướng và bền vững hơn, đáp ứng tối đa yêu cầu của xã hội.


SV:Nguyễn Duy Trung-NH3




Khói trần gian làm sao hoá mây....
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  00:01:57  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Tham gia đề tài: Đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam

ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Bắt đầu được mở rộng phát triển vào năm 1993 với Nghị định 100/CP của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm, thị trường bảo hiểm của Việt Nam cho đến nay đã dần định hình và phát triển.
1. Những thành tựu đạt được:
-Quy mô thị trường bảo hiểm đã tăng đáng kể, phục vụ yêu cầu của nền kinh tế và xã hội:
+thị trường bảo hiểm tăng trưởng với tốc độ cao với doanh thu phí bảo hiểm tăng hàng năm khoảng 29%.Tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trong GDP cũng tăng nhanh: từ 0,37%(1993) lên 1,8% (2003).Hoạt động bảo hiểm đóng vai trò tích cực tới việc ổn định kinh tế-xã hội.Các công ty bảo hiểm giải quyết tốt công tác bồi thường đã giúp doanh nghiệp và nông dân ổn định sản xuất và sinh hoạt, giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách.Bên cạnh đó,các DNBH cũng huy động được một số vốn lớn và dài hạn rất có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế-xã hội.Ngoài ra, các DNBH cũng góp phần giải quyết việc làm cho người lao động và giúp cho đông đảo quần chúng nhân dân quen thuộc hơn với bảo hiểm, nâng cao nhận thức của mọi người về sự cần thiết của công tác bảo hiểm.
-Từng bước hình thành thị trường bảo hiểm hoàn chỉnh:
+hiện nay thị trường đã có hơn 20 DN tham gia hoạt động thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó có 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài giúp cải thiện môi trường đầu tư, củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài.
+năng lực kinh doanh và trình độ của cán bộ bảo hiểm ngày càng được nâng cao cùng với năng lực tài chính của các DN cũng liên tục được mở rộng.
-Ngày càng nâng cao chât lượng và hiệu quả hoạt động bảo hiểm
+Số lượng các sản phẩm bảo hiểm phong phú bao gồm cả loại hình BH nhân thọ, phi nhân thọ gồm cả 3 lĩnh vực BH con người, tài sản và trách nhiệm.
+chất lượng sản phẩm bảo hiểm, chất lượng phục vụ cũng được nâng cao do tình trạng độc quyền không còn đòi hỏi các DN phải tập trung đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ nhằm thu hút khách hàng.
-Ngành BH cũng từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm trong khu vực và quốc tế.
+Tham gia vào Diễn đàn các cơ quan BH của ASEAN và Hiệp hội các cơ quan quản lý bảo hiểm quốc tế, ngành BH nước nhà đã tiếp cận vào các nguyên tắc và tiêu chuẩn chung của thị trường BH thế giới, tạo sức ép tự hoàn thiện đồng thời thu hút thông tin , công nghệ và kinh nghiệm.
+Mở cửa thị trường BH: cùng với việc mở cửa thị trường cho phép các DN nước ngoài tham gia, ngành BH ViệtNam đã từng bước hoàn thiện, kiện toàn thị trường trong nước, đóng góp tích cực cho các mục tiêu kinh tế- xã hội.
-Cuối cùng và không kém phần quan trọng,công tác quản lý của Nhà nước đối với thị trường này càng được hoàn thiện hơn, thật sự đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường cũng như định hướng cho thị trường phát triển.Cùng với Luật Kinh doanh bảo hiểm ra đời năm 2000, các Nghị định Thông tư ra đời sau đó đã tạo khung pháp lý vững chắc, giúp các DNBH yên tâm phát triển hoạt động. Bên cạnh đó,phương thức quản lý bỏ dần những can thiệp hành chính và tăng cường năng lực quản lý, trình độ của cán bộ cũng tạo nên những biến chuyển tích cực trên thị trường.Hiệp hội bảo hiểm VN ra đời đã từng bước trở thành cầu nối giữa DN và cơ quan quản lý, giữa DN với nhau thúc đẩy sự hợp tác, phát triển của ngành BH.

2.Những vấn đề tồn tại:
Bên cạnh những thành tựu đáng kể trên, ngành BHVN nói chung vẫn còn những yếu kém cần khắc phục:
-Thị trường vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội:
+Quy mô thị trường so với mức bình quân của khu vực và thế giới còn nhỏ bé, năng lực tài chính thấp.Cho đến nay, trừ Bảo Việt và Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential, các doanh nghiệp BH còn lại mới chỉ có đủ số vốn theo quy định của pháp luật. Và như vậy với tổng số vốn thực (khoảng 1.515 tỷ đồng) thì không đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành BH Việt Nam trên thương trường thế giới.
+Khả năng đầu tư của các DN còn hạn chế.Thực tế cho thấy, mặc dù đến năm 2003, tổng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp BH lên tới 6.700 tỷ đồng, nhưng tỷ trọng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng chiếm tỷ lệ rất ít, chỉ khoảng 20%, tỷ trọng đầu tư bằng hình thức gởi tiền các tổ chức tín dụng và NH vẫn cao, chiếm tới 80%.
-Công nghệ quản lý kinh doanh BH chưa được hiện đại hóa, nhiều doanh nghiệp vẫn còn áp dụng các phương pháp thủ công trong việc quản lý hợp đồng, cấp đơn và thu phí BH. Hầu hết các doanh nghiệp chưa thiết lập được hệ thống phần mềm tin học tính phí BH, trích lập dự phòng nghiệp vụ do thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi về thẩm định BH, quản lý rủi ro và đầu tư…
-Tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn tồn tại.
+Việc tồn tại nhiều công ty cổ phần BH chuyên ngành như Công ty BH Dầu khí (PVI), Công ty Cổ phần BH Petrolimex (PJICO) và Công ty Cổ phần BH Bưu điện (PTI)... đang tạo ra tình trạng độc quyền BH trong các ngành: dầu khí, xăng dầu và bưu chính viễn thông.Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp BH và công ty cổ phần BH chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của ngành mình, hơn nữa do có sẵn dịch vụ, sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính của ngành, cho nên không quan tâm đến việc nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh để nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và mở rộng phục vụ đến đông đảo khách hàng.
+Dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn:tình trạng cạnh tranh hạ phí BH, tăng chi phí hoa hồng BH. Nhiều doanh nghiệp đôi khi chỉ lo giành dịch vụ mà không quan tâm đến công tác đánh giá rủi ro, đề phòng và hạn chế tổn thất, giám định, bồi thường kịp thời. Riêng trong lĩnh vực BH nhân thọ, các doanh nghiệp còn quá chú trọng đến việc trả hoa hồng đại lý cao, tuyển dụng nhiều đại lý để mở rộng thị phần, tăng doanh thu mà không quan tâm đến công tác đào tạo nâng cao chất lượng đại lý, dẫn đến cơ cấu sản phẩm chỉ tập trung vào các sản phẩm ngắn hạn, phát sinh nhiều tranh chấp giữa doanh nghiệp BH với khách hàng, làm hạn chế khả năng huy động vốn đầu tư dài hạn và làm giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân đối với loại hình BH còn khá mới mẻ này kìm hãm khả năng phát triển bền vững của ngành BHVN trong giai đoạn hộo nhập.
-Hoạt động môi giới BH còn yếu. Hiện nay chỉ có 2 công ty là công ty liên doanh AONINCHIBROK và công ty Việt Quốc.
- Số lượng sản phẩm tuy đã tăng đáng kể nhưng so với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hành vẫn chưa đáp ứng được.

Tóm lại, bên cạnh những thàh tựu đạt được rất đánh kh1ch lệ, thị trường BHVN vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải có những điều chỉnh thích hợp nhằm giúp thị trường phát triển đúnh định hướng và bền vững hơn, đáp ứng tối đa yêu cầu của xã hội.


SV:Nguyễn Duy Trung-NH3




Khói trần gian làm sao hoá mây....
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  01:11:44  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Bảo hiểm là một khái niệm, một lĩnh vực không còn xa lạ gì với tất cả mọi người, kể cả ở Việt Nam. Mặc dù bảo hiểm ở Việt Nam chỉ mới rộ lên trong khoảng 10 năm trở lại đây và vẫn còn là một ngành mới, và việc tham gia bảo hiểm vẫn chưa là một thói quen của tất cả mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, nhưng thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước tăng trưởng vượt bậc qua từng năm.
Đến nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 25 công ty gồm 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giớI bảo hiểm, và một công ty tái bảo hiểm vớI nhiều thành phần tham gia vào thị trường bảo đó. Bên cạnh các công ty Việt Nam như Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO, Vinare… thì còn có các công ty liên doanh giữa Việt nam vớI nước ngoài như Việt-Úc, Bảo Minh-CMG…và các công ty 100% vốn nước ngoài nhưManulife, Prudential, AIA…
Năm 2003 vừa qua là một năm đầy những biến động xảy ra cho nền kinh tế toàn cầu, nhưng việc làm ăn của các công ty trên thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn tăng trưởng mạnh. Tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 10082 tỷ đồng, tăng 31.2% so vớI năm 2002. Tình hình chiếm lĩnh thị phần ở một số công ty bảo hiểm lớn ở Việt Nam như sau:
2002
AIA 5%
BảoMinh-CMG 2%
BảoViệt 46%
Manulife 12%
Prudential 35%
2003
AIA 5.5%
BảoMInh-CMG 2.2%
BảoViệt 41.7%
Manulife 12.9%
Prudential 37.7%
Trong đó, bảo hiểm nhân thọ vẫn chiếm thị phần lớn hơn cả, và mức độ tăng nhanh hơn của bảo hiểm phi nhân thọ, trong khi xu thế của thế giớI hiện nay là nhu cầu bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng tăng nhanh, nhanh hơn của bảo hiểm nhân thọ.
Bên cạnh đó qua 10 năm nhà nước xóa thế độc quyền trong nền kinh tế thì thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng dần tiến tới sự tự do hóa dịch vụ bảo hiểm. Đây là một bước tiến lớn trong điều kiện kinh tế khi mà nước ta đang tham gia vào nền kinh tế thị trường. Việc các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư ngày một nhiều vào Việt Nam cũng là dịp và là cơ hộI để các doanh nghiệp trong nước nhìn lạI mình, rút ra được những thiếu sót, những yếu kém còn tồn tạI, nhằm có những đốI sách cũng như những thay đổI cho phù hợp vớI xu thế ngày càng cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Như giữa tháng 4 năm 2004 vừa qua, hai đạI gia bảo hiểm của Việt Nam là Bảo Việt và Bảo Minh đã kí kết thỏa thuận cùng nhau bắt tay hợp tác trong việc cùng quảng bá thương hiệu, giớI thiệu sản phẩm, khai thác bảo hiểm và mở rộng thị trường. Theo đó hai bên cũng sẽ cùng nhau phối hợp với các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế để tìm kiếm và cung cấp cho khách hàng các điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm tốt nhất đối với các dịch vụ thuộc các lĩnh vực hàng không, dầu khí, dự án công trình, hỏa hoạn, hàng hóa, tàu biển. Sự thay đổI đó cộng vớI việc sản phẩm và dịch vụ bảo hiểm ngày một đa dạng cũng là những biến chuyển tích cực, có lợI vớI không chỉ cho ngướI dân tham gia mua bảo hiểm hay ngườI có ý định sẽ mua bảo hiểm, mà còn cho nền kinh tế nói chung.
Tuy nhiên trong đó vẫn có những loạI bảo hiểm gần như bắt buộc (BHYE) nhưng hoạt động của nó cũng như của những ngườI thực hiện lạI chưa thực sự có hiệu quả, còn gây phiền hà thêm cho ngườI dân sử dụng nó. Đây cũng là một tồn tạI mà theo tôi nghĩ là khó giảI quyết trong thờI gian sắp tớI, vì nếu muốn thay đổI thì ta phảI thay đổI nhiều cái khác, nhiều lĩnh vực ở nhiều ngành khác nhau trong cơ cấu kinh tế của nước ta. Thiết nghĩ đây là vấn đề không chỉ gặp riêng ở BHYT mà còn là vấn đề của khá nhiều ngành khác trong xã hộI, như bạn không thể cầm BHYT để đi khám bệnh mà mong muốn có được một sự đốI đãi có thể nói là tử tế từ các bệnh viện nơi nhận khám theo BHYT của bạn. Trong khi như ở nhiều nước phát triển khác, nếu không có BHYT thì bạn sẽ không có đủ khả năng để trang trảI cho các khoản phí khám chữa bệnh ở các bệnh viện, nhưng bù lạI bạn luôn có được sự đốI xử công bằng ở các bệnh viện cũng như có được sự chữa trị mà bạn mong muốn. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì sao có thể khuyến khích ngườI dân Việt Nam có thói quen chứ chưa nói tớI là sẽ tự nguyện, có ý thức nên mua bảo hiểm cho bản thân và gia đình.
Bên cạnh việc nói là đã phá vỡ việc thế độc quyền, tiến tớI tự do hoá dịch vụ bảo hiểm, nhưng xét riêng từng lĩnh vực thì thế độc quyền vẫn còn tồn tại. Ngoài ra các doanh nghiệp tư nhân hay cổ phần hay các công ty nước ngoài vẫn luôn gặp thế bất lợI hơn khi muốn cạnh tranh sòng phẳng vớI các doanh nghiệp nhà nước, như Bảo Việt hay Bao Minh vẫn luôn được ưu tiên trong khi nếu một công ty cổ phần khác muốn thành lập công ty bảo hiểm của riêng mình thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vấp phảI nhiều điều kiện, cũng như là tốn một khoảng thớI gian cũng “kha khá” để chờ đợi.
VớI những tăng trưởng cũng như những thành công đạt được thì thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng để khai thác, tuy nhiên không thể nói chính xác là có thể phát triển được thêm nữa hay không. Điều đó còn tùy thuộc vào việc cơ cấu kinh tế của nước ta chuyển biến theo chiều hướng tích cực thế nào; các chính sách ban hành ra có cản trở gì không; các doanh nghiệp bảo hiểm có thể nhanh chóng thích ứng trong các điều kiện mớI cũng như là sự thay đổI đến chóng mặt từng ngày, từng giờ của thị trường, của thế giớI không; và các công ty bảo hiểm có nhanh chóng củng cố lực lựông, nâng cao chuyên môn nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn và cũng tránh được tình trạng gian lận ngày một nhiều từ các khách hàng đã khiến nhiều công ty bảo hiểm phảI khốn đốn; có đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm không, có nâng cao trình độ tiếp xúc cũng như giữ được sự uy tín, tin tưởng của khách hàng không, có làm cho khách hàng thực sự thấy được tầm quan trọng cũng như là lợI ích thực tế mà khách hàng sẽ đạt được không. Thêm vào đó, nhà nước cũng cần khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước có được sự độc lập, tư thân vận động, có cơ hộI cọ xát nhiều hơn nhằm có được sức mạnh cần thiết để cạnh tranh công bằng, ngang ngửa vớI các công ty nước ngoài, trong điều kiện khi nước ta đã tham gia vào AFTA, kí kết Hiệp Định Thương MạI Việt-Mỹ, và sắp tớI sẽ là gia nhập WTO.
Tuy nhiên theo ý kiến chủ quan của tôi thì tôi vẫn tin tưởng là thị trường bảo hiểm ở Vịêt Nam vẫn còn nhiều đất để khai thác, để phát triển. Nhất là hiện nay các doanh nghiệp Bảo Hiểm ngày một đa dạng hóa dịch vụ hơn, như hiện nay đã có các công ty bảo hiểm là liên doanh giữa nước ngoài và ngân hàng của Việt Nam như: Bảo Ngân (liên doanh giữa Incombank và Công ty ASIA của Singapore), hay Việt Úc(giữa BIDV và QB của Úc)…khiến các khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn đốI vớI Bảo Hiểm. Hay Vietcombank đã trở thành đạI lý chính thức của Prudential và thực hiện thanh toán phí bảo hiểm thông qua hệ thống thẻ tự động ATM. Bảo Việt với "Bảo hiểm người Việt Nam du lịch nước ngoài ngắn hạn”. V à trong thờI đạI thông tin toàn cầu như hiện nay thì các doanh nghiệp đã năng động hơn, tự đem sản phẩm của mình đến vớI khách hàng, thông qua các mẩu quảng cáo thường xuyên trên TV, báo đài hay thậm chí các nhân viên bảo hiểm sẽ đến tận nhà bạn, cung cấp cho bạn bất cứ thông tin nào mà bạn muốn biết trước khi quyết định mua bảo hiểm. Nhưng theo tốI thấy thì ở Việt Nam trước hết bên cạnh việc nên làm cho ngườI dân biết đến và thấy được sư cần thiết của bảo hiểm thì còn phảI tiến hành đồng thờI các biện pháp bắt buộc đốI vớI một số sản phẩm bảo hiểm chính yếu, cần thiết, vì phảI có sự bắt buộc thì mớI dần trở thành thói quen được.
Và nhà nước trong kế hoạch phát triển kinh tế đất nước thì cũng phảI tiến hành phát triển toàn diện ngành bảo hiểm, giúp cho mọI ngườI dân có được quan niệm là “Bao Hiểm thực sự cần thiết cho tất cả m ọI ngườI”.
Nguyễn Thị Hương Giang
Lớp NH2/ K27

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  02:43:36  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam

1.Thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển ngày càng nhanh, điều này thể hiện ở việc số lượng đạI lý bảo hiểm tăng lên đáng kể.
Năm 2002: khoảng 70.000 đạI lý
Năm 2003: khoảng 94447 đạI lý
Ngoài ra, doanh thu phí bảo hiểm cũng tăng đáng kể, năm 2003 doanh thu bảo hiểm đạt 10.082 tỷ (trong đó, bảo hiểm nhân thọ chiếm khoảng 7600 tỷ, còn lạI là phi nhân thọ).
Kinh tế đang trên đà phát triển, hộI nhập vớI nền kinh tế trong khu vực và thế giớI, chính sách tiền tệ phù hợp, đồng tiền Việt Nam ổn định, lạm phát được kiềm chế ở mức hợp lý, cộng vớI chính sách mở cửa, bỏ bớt rào cản pháp lý, tạo nhiều điều kiện thuận lợi thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước .
Năm 2004 được coi là một năm khó khăn cho thị trường BH nước ta, đặc biệt là BH nhân thọ, do giá cả leo thang, nhất là giá của các sản phẩm lương thực thực phẩm, xăng dầu, sắt thép,dược phẩm…tăng nhanh dẫn đến lạm phát tăng. Nhưng nhờ Chính Phủ can thiệp kịp thờI, áp dụng các công cụ tài chính như tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc tạI các ngân hàng thương mạI…nên giá cả các sản phẩm thiết yếu đã ổn định, cộng vớI tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đã đạt 8%, tạo điều kiện cho thị trường BH VN khôi phục lại.
2.Tự do hóa dịch vụ bảo hiểm:
Năm 1964, tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) được thành lập, hoạt động ở hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ.
Năm 1995, trên thị trường bảo hiểm ở lĩnh vực phi nhân thọ, Bảo Việt chiếm 80.07%, xuất hiện thêm nhiều công ty bảo hiểm, chẳng hạn, công ty bảo hiểm Thành Phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) chiếm 15.4%, công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PIJICO) 1.53%. Chỉ sau 1 năm, thị phần của Bảo Việt giảm còn 69.06%, trong khi thị phần Bảo Minh tăng lên 20,.28%, PIJICO tăng 4.08%, công ty bảo hiểm dầu khí PVIC chiếm 4.96%. Những năm sau đó, thị phần của Bảo Việt tiếp tục giảm, đến năm 2003 còn 41.68%, Bảo Minh 23.52%, PVIC 13.82%, PIJICO 9.27%, PTI (công ty cổ phần dầu khí bưu điện) 4.01%.
Vấn đề đặt ra là tạI sao thị phần của Bảo Việt giảm trong khi Bảo Minh lạI tăng, mặc dù cả hai đều thuộc sở hữu nhà nước? Do Bảo Minh được tách ra từ Bảo Việt, được tích lũy kinh nghiệm hoạt động trong nhiều năm, có sẵn địa bàn hoạt động tạI TPHCM, nhờ uy tín có sẵn cộng vớI độI ngũ nhân viên nhiệt tình, hiện nay Bảo Minh đã mở chi nhánh rộng khắp nước. Do đó có sự cạnh tranh giữa hai công ty này, tạo ra nhiều sản phẩm hơn, phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của ngườI tiêu dùng.
Còn về phía những công ty như: PIJICO, PVIC, PTI tạI sao mớI ra đờI lạI nhanh chóng chiếm được thị phần ? Vì đây là những công ty bảo hiểm chuyên ngành, tận dụng lợI thế về lĩnh vực hoạt động của mình để thu hút khách hàng, thu hút vốn đầu tư của những ngành khác, tạo động lực khai thác triệt để tiềm năng thị trường BH VN.
Dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam
1.Cơ hội nhiều và tiềm năng phát triển lớn.
Trong báo cáo phát triển thế giớI 2005 do WB công bố ngày 28/9 dựa trên các cuộc khảo sát tạI 30000 công ty ở 53 nước đang phát triển, Việt Nam được đề cập đến về nổ lực đưa ra các qui định thông thoáng nhằm tạo điều kiện cho sự ra đờI của hàng loạt doanh nghiệp.
Thu nhập, mức sống và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của dân cư ngày càng được cảI thiện, làm tăng thêm nhu cầu về bảo hiểm y tế và sức khỏe. Mặt khác, trình độ dân trí cũng như nhận thức của đạI đa số các tầng lớp dân cư về BH được nâng cao, điều đó tạo ra những tiền đề thuận lợI để phát triển các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.Có thể nói thị trường BH ở VN đầy tiềm năng. Thị trường BH phi nhân thọ hứa hẹn nhiều triển vọng, hàng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1.5 tỷ $, vớI những đô thị mớI, khu chế xuất và khu công nghiệp không ngừng được hình thành, thì cơ hộI cho BH kỹ thuật, BH xây dựng và lắp đặt, hàng không, vận tảI xăng dầu…phát triển.Mặt khác, sự phát triển các hoạt động kinh tế, xã hộI và quá trình hộI nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện phát sinh và phát triển nhu cầu BH. Các lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng, thương mạI, đầu tư quốc tế, viễn thông đều là những lĩnh vực rất tiềm năng cho dịch vụ BH trong tương lai.
Theo phân tích của các chuyên gia, tăng trưởng GDP trong quí cuốI năm hoàn toàn có thể tiếp tục đạt mức 8%, thậm chí cao hơn. Như vậy, tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2004 hoàn toàn có thể vượt mức 7,5% đã đề ra. Điều kiện này cũng góp phần tăng doanh thu phí BH ở nước ta.
2.Ngành BH VN phát triển theo hướng hộI nhập quốc tế :
Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu thế tất yếu của các quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại.
Trong điều kiện thị trường BH mở cửa và hộI nhập, bên cạnh những điều kiện thuận lợI, các doanh nghiệp BH Nhà nước phảI đốI mặt vớI những thách thức như cạnh tranh trên thị trường BH ngày càng gay gắt, do có sự gia nhập ngày càng nhiều của các doanh nghiệp BH nước ngoài, vớI tiềm lực tài chính vững mạnh, kinh nghiệm hoạt động lâu đờI trên phạm vi toàn cầu và trình độ chuyên môn… vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp BH Nhà nước hiện tạI và trong tương lai phảI tìm giảI pháp để khắc phục những yếu kém còn tồn tạI, nhằm củng cố và giữ vững vị thế của mình.
Các doanh nghiệp BH Nhà nước cần chủ động tìm các biện pháp để tăng vốn điều lệ như bổ sung từ nguồn vốn tự có, từ lợI nhuận, sáp nhập vớI DNBH khác…Bên cạnh đó, cần khẩn trương thực hiện chủ trương của Chinh Phủ, tiến hành cổ phần hóa, cảI tiến chế độ quản lý…sẽ giúp các công ty xác định đúng năng lực cạnh tranh và tăng cường kinh nghiệm hoạt động trên thị trường.
Điều đáng lưu ý nhất trong hoạt động bảo hiểm hiện nay là tình trạng độc quyền trong kinh doanh vẫn còn. Việc tồn tạI nhiều công ty cổ phần chuyên ngành như công ty BH Dầu khí(PVIC), cty CPBH Petrolimex (PIJICO) và Cty CPBH Bưu điện (PTI)… đang tạo ra tình trạng độc quyền BH trong các ngành: dầu khí, xăng dầu và bưu chính viễn thông. Điều này làm hạn chế quyền tự do lựa chọn tham gia BH của các doanh nghiệp, tổ chức trong ngành, không phù hợp vớI chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Nhà Nước. Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp BH và cty CPBH chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợI ích cục bộ của ngành mình, hơn nữa do có sẵn dịch vụ, sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính của ngành, cho nên không quan tâm đến việc nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh để nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và mở rộng phục vụ đến đông đảo khách hàng.
Việc cổ phần hóa DNNN và trao quyền quản lý cho các công ty chuyên ngành bằng cách bán cổ phần cho họ phảI chăng là điều nên làm? Nếu vậy, tình trạng độc quyền BH trong các ngành sẽ giảm đi, tránh được tình trạng xáo động thị trường không cần thiết khi hàng loạt doanh nghiệp xin phép thành lập công ty BH chuyên ngành, như ngành hàng không, ngành GTVT. Các ngành này sau khi trở thành cổ đông của công ty đương nhiên sẽ mua BH của công ty mình, giúp doanh nghiệp BH VN có được chỗ đứng vững chắc khi mở cửa hộI nhập.
Các doanh nghiệp BH Nhà nước (Bảo Việt, Bảo Minh, Vinare) có mốI quan hệ rộng khắp vớI các nhà BH hàng đầu thế giớI như Commercial Union (Anh), CIGNA (Mỹ)… Đặc biệt, Bảo Việt còn đặt một trụ sở ở Anh (BAVINA). MốI quan hệ này nhằm thực hiện nhiều hoạt động nghiệp vụ đa dạng như tái bảo hiểm, đạI lý giám định, bồI thường… góp phần đưa thị trường BH Việt Nam hộI nhập vớI thị trường BH khu vực và thế giới.

Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Mai
Lớp:NH3- K27


Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  02:43:45  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đánh giá tình hình Bảo Hiểm Việt Nam là định hướng xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm việt nam.

I. Đánh giá tình hình bảo hiểm việt nam
1. Tình hình bảo hiểm Việt Nam
Bảo hiểm phi nhân thọ:
Hiện nay việt nam có nhiều công ty bảo hiểm phi nhân thọ với thị phần ngày càng mở rộng.
Công ty 1998 1999 2000 2002 2003
Bảo Minh 23,1% 24,52% 25,1% 29,08% 23,52%
PTI 0,29% 2,8% 4% 3,7% 4,01%
Bảo Long 1,38% 1,52% 1,4% 1,09% 1,49%
PTI Co 5,76% 5,78% 6,4% 5,65% 9,27%
Bảo Việt 59,71% 56,86% 50,9% 40,39% 41,68%
PVIC 6,89% 4,8% 5% 14,5% 13,82%
Sở dĩ Bảo Minh tăng được thị phần là do:
Tích luỹ được kinh nghiệm
Trước đây, nằm trong Bảo Việt. Sau này tách ra nên có cơ sở đại lý mở rộng trong cả nước. Còn các công ty bảo hiểm chuyên nghành như PTI, PVIC thị phần tăng do là những công ty bảo hiểm chuyên ngành nên tận dụng lợi thế này để thu hút khách hàng. Nhưng bên cạnh đó, có nhược điểm là tạo ra sự độc quyền. Còn thị phần Bảo Việt giảm do sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiểm trên.
Bảo hiểm nhân thọ: Việt nam có nhiều công ty bảo hiểm nhân thọ với thị phần như sau:
Công Ty 2000 2001 2002
AIA 4,21% 5,92% 5%
Bảo Minh CMG 1,815 2,34% 2%
Bảo Việt 54,09% 38,09% 46%
Manulife 6,36% 8,13% 12%
Prudental 33,53% 45,52% 35%

Như vậy, từ đây ta thấy được thị trường bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng nhanh phát triển nhanh do số lượng công ty tăng nhanh, số lượng dịch vụ tăng nhanh, đã xoá được độc quyền nhà nươc vì có sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm nước ngoài, các công ty bảo hiểm cổ phần như trên. Bảo hiểm Việt Nam đi đến tự do hóa bảo hiểm do sự thay đổi trong cấu trúc vốn ngành bảo hiểm mà trong đó thị phần của tư nhân công ty liên doanh công ty nước ngoài tăng nhanh.
Nhưng bên cạnh đó, bảo hiểm Việt Nam còn nhiều hạn chế:
- Đối với bảo hiểm y tế, theo ông Lê Ngọc Trọng - thứ trưởng bộ y tế - cho biết : “quan hệ giữa bảo hiểm y tế - bệnh viện - người bệnh là mối quan hệ tay ba lẽ ra phải tốt đẹp nhưng lại đặt đồng tiền lên trên hết. Theo ông, tại nhiều địa phương người dân có thẻ bảo hiểm y tế nhưng lại không được sử dụng những dịch vụ kỹ thuật cao.
- Đối với dịch vụ bảo hiểm hàng xuất nhập khẩu thì đang bị bỏ ngỏ. Dịch vụ này đem lại nguồn thu lớn và lợi nhuận cao nên phát triển mạnh trên thế giới. Nhưng ở Việt nam 84,8% thị phần bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu lại thuộc về các công ty nước ngoài.
Lý do nào khiến các doanh nghiệp kém mặn mà?
- Do đại bộ phận xuất khẩu đều bán giá FOB , nhập khẩu theo giá CIF nên ngành bảo hiểm hàng hoá Việt Nam thất thu lớn. Doanh nghiệp đóng bảo hiểm trong nước sẽ có nhiều thuận lợi hơn so với đóng bảo hiểm ở nước ngoài.
Đối với bảo hiểm nông nghiệp: Loại hình này hình như đang bị bỏ ngỏ mặc dù Việt Nam được coi là tiềm năng cho các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp:
- Lợi nhuận thấp rủi ro cao : Groupama là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Pháp) duy nhất đang kinh doanh loại hình bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam. Mặc dù vẫn thế nhưng mới đây nhà đầu tư này quyết định ngừng tất cả các hoạt động khai thác mới và nộp đơn lên Bộ tài chính đề nghị cho phép mở rộng các dịch vụ hoạt động cả về phạm vi và nghiệp vụ. Doanh thu của Groupama trong 6 tháng đầu năm 2004 chỉ vỏn vẹn có 5 triệu đồng.
- Mua bảo hiểm để đối phó với ngân hàng: Nhiều khi do quy định của ngân hàng khi vay vốn bên đi vay phải có hợp đồng tham gia mua bảo hiểm cho sản phẩm của mình. Để đối phó, người đi vay cũng đặt vấn đề mua bảo hiểm nhưng thời hạn chỉ có 3 tháng hoặc khi đã được vay vốn họ lại yêu cầu huỷ hợp đồng.
- Nông dân chưa có thói quen mua bảo hiểm.
Như vậy ta thấy được, bên cạnh việc tăng trưởng nhanh của các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ còn một số hạnchế của các loại hình bảo hiểm khác như trên.
II. Định hướng và xu hướng phát triển :
1. Việt Nam là nước có tiềm năng về kinh doanh bảo hiểm vì nước ta là nước có dân số đông ( hơn 80 triệu người) nhu cầu có khả năng thanh tóan ( dự báo khả năng tăng trưởng của kinh tế việt nam vào năm 2004 là 7,5%)
2. Ngành bảo hiểm việt nam phát triển theo hướng toàn cầu hoá hội nhập. Trong cuộc trao đổi sang ngày 15/09 giữa bộ tài chính với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Cụ thể là việc tham giaxây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung 11 vấn đề trong thông tư 71 , hướng dẫn cụ thể việc thực hiện luật kinh doanh bảo hiểm. Đó là vấn đề thủ tục thành lập và hoạt động doanh nghiệp bảo hiểm, mội giới bảo hiểm, hoạt động của đại lý và văn phòng đại diện. cuộc trao đổi này dù có những quan điểm khác nhau song các ý kiến đều tập trung vào việc xây dựng một cơ chế hợp lý theo hướng mở cửa thị trường bảo hiểm trong bối cảnh hiện nay và trong thời gian tới.


Sinh Viên Nguyễn Thị Hồng Hoa lớp Ngân Hàng 2 K27

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  03:29:36  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
HÃY ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng giữ một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.

Lịch sử của thị trường bảo hiểm Việt Nam trải qua một số giai đoạn phát triển. Trước 1954, bảo hiểm áp dụng theo những qui định, luật lệ của Pháp. Từ 1954, đất nước bị chia cắt, do đó, thị trường bảo hiểm ít có điều kiện phát triển. Đến 17/12/1964, Công ty Bảo Hiểm Việt Nam thành lập với tên gọi Bảo Việt, chính thức hoạt động 15/1/1965. Bảo Việt có trụ sở chính đặt tại Hà Nội. Từ năm 1964-1993, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có duy nhất Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam hoạt động kinh doanh và đồng thời thực hiện chức năng quản lý Nhà nước. Lúc này, thị trường bảo hiểm Việt Nam chưa thu hút các nhà đầu tư do cơ chế bao cấp, độc quyền.

18/12/1993, nghị định 100/NĐ-CP do chính phủ ban hành ra đời, đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam. Việc xóa bỏ cơ chế độc quyền chuyển sang nền kinh tế thị trường đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Từ đó, thị trường bảo hiểm Việt Nam cứ liên tục phát triển.

Năm 1993, Việt Nam mới chỉ có 1 công ty bảo hiểm là Bảo Việt thì đến năm1994 đã có thêm 2 công ty nữa là Bảo Minh và Vinare thành lập. Số doanh nghiệp bảo hiểm cứ tiếp tục tăng lên qua mỗi năm. Năm 1993 Bảo Việt hoạt động với hình thứclà doanh nghiệp nhà nước thì đến năm1995, đã có 2 công ty cổ phần xuất hiện, đó là Bảo Long và Pjico. Năm 1996, công ty liên doanh bảo hiểm đầu tiên ra đời - Công ty bảo hiểm quốc tế Việt Nam. Đến năm 2004, 25 công ty bảo hiểm chính thức hoạt động ở Việt Nam, với các hình thức khác nhau như: doanh nghiệp nhà nước(Bảo Việt, Vinare, Bảo Minh…), công ty cổ phần(Bảo Long, PIJICO…), công ty liên doanh(VIA, UIC…) và công ty 100% vốn nước ngoài(Prudential, Manulife…), hoạt động trên các lĩnh vực nhân thọ, phi nhân thọ và tái bảo hiểm. Ngoài ra, số lượng đại lý bảo hiểm cũng ngày càng nhiều, hiện nay đã có hơn 100000 đại lý bảo hiểm, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động.

Thị phần của các công ty cũng thay đổi qua từng năm. Năm1993, Bảo Việt chiếm thị phần 100%, qua năm 1994, còn 83.07%, đến 2003 chỉ còn 41.68%, nhường chỗ cho các công ty khác trên thị trường. Bảo Việt đã không còn vị trí độc quyền, nhờ đó, các công ty bảo hiểm khác ra đời, cạnh tranh với nhau, làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng nhộn nhịp hơn. Sản phẩm của ngành kinh doanh bảo hiểm cũng đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của khách hàng. Năm 2003, thị phần của của các công ty bảo hiểm như sau: Bảo Việt 41.68%, Bảo Minh 23.52%, PVIC 13.82%, PJICO 9.27%, PTI 4.01%...... Thị phần của các công ty sẽ còn thay đổi do sẽ có những công ty mới được thành lập và các công ty nước ngoài mở chi nhánh tại Việt Nam. Cũng chính vì lý do đó, các công ty bảo hiểm càng phải cố gắng năng cao chất lượng sản phẩm của mình nếu muốn giữ vững chỗ đứng của mình trên thị trường cạnh tranh hiện nay.

Kể từ 1994 đến nay, tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm đạt 23%/năm, doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2002 đạt 7685 tỷ đồng, tăng gấp 10.3 lần so với doanh thu bảo hiểm 1994.

Xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế đang ngày càng được khẳng định. Việc mở cửa thị trường tự do hóa trong lĩnh vực dịch vụ tài chính – trong đó có bảo hiểm ngày càng trở nên cấp thiết.

Thị trường bảo hiểm sẽ tiếp tục phát triển nhanh và hiệu quả nhằm đa dạng hóa các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm với chất lượng cao, góp phần đảm bảo an toàn, thúc đẩy nền kinh tế, thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chủ động và nâng cao sức cạnh tranh trong môi trường kinh doanh của cơ chế thị trường và hội nhập với khu vực và thế giới.

Thị trường bảo hiểm Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển. Việt Nam có dân số đông, có nhiều nhu cầu cần được đáp ứng. Nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển nên có nhiều cơ hội đầu tư. Tuy nhiên, bảo hiểm không thể tự mình phát triển mà còn phải nhờ vào sự phát triển của các ngành khác. Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ tăng khi giá trị của những ngành khác tăng. Cũng vậy, bảo hiểm nhân thọ tăng khi thu nhập của người dân tăng. Xu thế toàn cầu hóa đời sống kinh tế tạo ra nhiều sự thay đổi. Những nền văn hóa khác du nhập vào Việt Nam làm thay đổi suy nghĩ của người dân Việt về Bảo hiểm. Cơ hội để ngành bảo hiểm phát triển rất nhiều. Việt Nam cần mở rộng cửa đón các nhà đầu tư nước ngoài vào và mở ra các quốc gia khác. Muốn vậy, vai trò của chính phủ rất quan trọng. Chính phủ cần tạo nhiều điều kiện hơn để khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển, nới lỏng những qui định. Các công ty bảo hiểm cũng cần phải hoàn thiện mình hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, uy tín đối với khách hàng, áp dụng những công nghệ mới, và các công ty cũng cần liên kết lại với nhau để cùng phát triển.

Với những tiềm năng thuận lợi sẵn có, xu hướng mở cửa hội nhập quốc tế, ngành bảo hiềm Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, cải thiện vị trí của mình về bảo hiểm trong khu vực và trên thế giới.

Trần Hoàng Phương Mai
Lớp NH3 – K27



Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  05:24:19  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail

[size=3]Đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam[/size=3]

[size=2][blue]Đánh giá[/blue][/size=2]:

Bảo hiểm Việt Nam chỉ bắt đầu từ 1965 với sự ra đời của Bảo Việt, tuy nhiên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã thực sự chuyển mình kể từ khi Nghị định 100/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam và đặt biệt là luật kinh doanh bảo hiểm ra đời 09/12/2000 đã tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

Nếu như trước 1993 thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có một mình công ty Bảo Việt thì đến nay đã có 19 công ty bảo hiểm,5 công ty môi giới bảo hiểm, 1 công ty tái bảo hiểm đang cùng tham gia kinh doanh trên thị trường bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau như doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đã làm thay đổi căn bản hoạt động của ngành bảo hiểm trong cả hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ. Các doanh nghiệp bảo hiểm đã củng cố các nghiệp vụ mới, nâng cao chất lượng phục vụ, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau đã được cải thiện. Tuy nhiên sự ra đời của các doanh nghiệp ấy khiến thị trường có tính cạnh tranh hơn nhưng cũng bình đẳng hơn. Chính sự cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp phải cải tiến chất lượng, phục vụ khách hàng tốt hơn với điều kiện có lợi cho khách hàng.

Trong 10 năm qua thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP. Kể từ năm 1994 đến 2003,tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm đạt 23%, doanh thu bảo hiểm toàn thị trường tăng từ 741 tỷ VNĐ năm 1994 đến 10490 tỷ năm 2003, gấp 14,2 lần so với năm 1994 và chiếm tỷ trọng 1.7%/GDP.

Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm được nâng cao và củng đã giải quyết được công ăn việc làm cho xã hội. Bên cạnh đó, sự ra đời của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam bước đầu đã thể hện được vai trò quan trọng giúp cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.

Số vốn thực toàn thị trường hiện nay khoảng 1610 tỷ, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao năng lực nhận bảo hiểm phù hợp với mức độ phát triển trung bình của thế giới. Bên cạnh những yếu kém trên, thị trường bảo hiểm còn tồn tại biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh. Việc hạ phí bảo hiểm, tăng chi hoa hồng bảo hiểm, đôi khi còn dùng các áp lực hành chính để giành dịch vụ đã khiến các doanh nghiệp chưa quan tâm đến công tác đánh giá rủi ro đề phòng và hạn chế tổn thất, bồi thường kịp thời và đầy đủ cho khách hàng làm ảnh hưởng chung đến uy tín của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Đánh giá cụ thể thị trường bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ (BH PNT):

+ Thị trường BH PNT thật sự sôi động kể từ sau năm 1993 với phí bảo hiểm tăng rất nhanh từ 471 tỷ năm 1993 đến 3990 tỷ năm 2003. Do tác động của khủng hoảng kinh tế làm đầu tư giảm sút khiến sự tăng trưởng của bảo hiểm phi nhân thọ bị chựng lạI từ 1997 đến 1999, nhưng từ năm 2000 đã có dấu hiệu phục hồi. Bên cạnh những tác động tích cực do tăng trưởng kinh tế mang lại, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đều có nổ lực đáng kể trong khai thác tiềm năng của thị trường còn bỏ ngỏ, mở ra những thị trường mới.

Yếu tố làm gia tăng BH PNT Việt Nam là hoạt động dầu khí và thăm dò ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các loại hình bảo hiểm nghiệp vụ như bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm dầu khí …

Điển hình năm 2003 PJICO được giải sao đỏ nhờ có chiến lựơc thị trường mục tiêu đúng đánh mạnh vào thị trường bảo hiểm xe cơ giới với 9.27% thị phần BH PNT và 12% BH xe cơ giới

Tuy nhiên, tình hình cạnh tranh khai thác giữa các công ty bảo hiểm kể cả công ty môi giới bảo hiểm diễn biến có chiều hướng phức tạp. Đây được xem là khúc mắc lớn nhất chưa dược giải quyết triệt để trong hoạt động BH PNT từ trước tới nay.

Chúng ta đang có những tiềm năng lớn về bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm hàng hoá XNK nhưng hiện nay chỉ có Groupama mới hoạt động ở lĩnh vực này nhưng với thị phần rất nhỏ 0.05% năm 2003, còn bảo hiểm hàng hoá còn gặp rất nhiều khó khăn, bị các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh hầu hết thị trường

+ Hiện nay các công ty BHNT đã bước vào giai đoạn ổn định và phát triển mang tính bền vững phù hợp với tình hình mới. Tốc độ tăng trưởng toàn thị trường vẫn ở mức 38% nhưng tốc độ này hoàn toàn không đều giữa các doanh nghiệp trên thị trường .Trong khi các công ty BHNT 100% vốn nước ngoài duy trì ở mức tăng trưởng 50% thì các công ty trong nước và liên doanh chỉ đạt mức tăng gần 25%

Thị phần của các cty BHNT theo doanh thu BH (%):
[black]2002[/black] 2003
Bảo Việt [black]46%[/black] 41.7%
Prudential [black]35%[/black] 39.0%
Manulife [black]3%[/black] 12.9%
AIA [black]5%[/black] 5.5%
Bảo Minh-CMG [black]2%[/black] 2.2%

Số lượng đại lý BHNT trên toàn thị trường hiện đã lên đến 94447 người, tăng 36% so với 2002 nhưng năng suất khai thác trung bình của 1 đại lý đã giảm từ 2.12 đơn/tháng trong năm 2002 xuống còn 1.75 đơn/tháng trong năm 2003. Điều nay chứng tỏ tình hình khai thác bảo hiểm nhân thọ ngày càng khó khăn hơn. Các chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty BHNT vẫn được tiếp tục thiết lập và đi vào hoạt động tại các tỉnh thành phố trong cả nước.

Riêng về kinh doanh, các công ty BHNT nước ngoài luôn có những hoạt động mang tính đột phá trên thị trường như trong các hoạt động marketing, tuyên truyền quảng cáo, trong việc xây dựng và mở rộng mạng lưới đại lý như thực hiện liên kết, hợp tác với hệ thống ngân hàng để bán và thanh toán phí bảo hiểm, xây dưng hệ thống đại lý chuyên nghiệp.

Nhìn chung các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm đang có một quá trình tự do hoá dịch vụ bảo hiểm là minh chứng cho vai trò của tư nhân đầu tư trong lĩnh vực bảo hiểm ngày càng tăng, khiến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, là động lực giúp thị trường bảp hiểm ngày càng hoàn thiện.

[size=2][blue]Dự báo[/blue][/size=2] :
Thị trường bảo hiểm Việt nam thời gian tới rất khả quan, là một thị trường với nhiều tiềm năng đã, đang và sẽ được khai thác. Lợi thế của Việt Nam là dân số trẻ sẽ là thị trường tiềm năng cho loại hình bảo hiểm An Sinh học đường và xa hơn nữa là loại hình bảo hiểm tuổi già trong vòng 10 năm tới. Ngoài ra với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay (1.21%) và sự gia tăng thu nhập bình quân của người dân ở nước ta thì nhu cầu về các dịch vụ bảo hiểm cũng tăng tỉ lệ thuận

Năm 2004 dự báo tăng trưởng kinh tế là 7.5%, để đạt được mục tiêu này môi trường đầu tư, kinh tế phải đạt được mức độ tăng trưởng cạnh tranh, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư, thu hút mạnh đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Riêng với ngành bảo hiểm, việc mở cửa hơn nữa thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào thị trường, điều đó có nghĩa là sự cạnh tranh sẽ càng lớn. Đây là cơ hội phát triển nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn.

Đặc biệt vị thế của ngành bảo hiểm trong việc quyết định Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào năm 2005 hay không cũng đang được đặt ra bởi trog các phương án đàm phán, lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm, bỏ phân biệt đối xử và bình đẳng trong hoạt động bảo hiểm là một trong những điều kiện tiên quyết. Như vậy, trong thời gian tới chắc chắn cánh cửa của thị trường bảo hiểm sẽ rộng mở nhằm ổn định thị trường trong nước và có lợi thế cạnh tranh đối với các nước trong khu vực trong xu thế toàn cầu hoá.

Vấn đề mấu chốt hiện nay đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước là phải nhanh chóng tổ chức và sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo hướng tập trung chuyên môn hoá, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính dưới nhiều hình thức, đa dạng hoá cơ cấu sở hữu, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước tham gia góp vốn dưới hình thức công ty cổ phần.

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển, cần phải xây dựng một cơ chế mở cửa thị trường bảo hiểm trong bối cảnh hiện nay và trong thời gian tới. Cụ thể là việc tham gia xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung 11 vấn đề trong Thông tư 71, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện luật kinh doanh bảo hiểm. Đó là về thủ tục thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, hoạt động của đại lý và văn phòng đại diện; đăng ký và phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm; quy định về khai thác bảo hiểm nhân thọ; công khai hoá thông tin doanh nghiệp; tái bảo hiểm, hoa hồng bảo hiểm và chi phí đề phòng hạn chế tổn thất, dự kiến ban hành vào cuối năm 2004.


SVTH: HỒ THỊ HIỀN
Lớp : NH3 – K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  05:28:33  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail

Đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam

Đánh giá:
Bảo hiểm Việt Nam chỉ bắt đầu từ 1965 với sự ra đời của Bảo Việt, tuy nhiên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã thực sự chuyển mình kể từ khi Nghị định 100/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam và đặt biệt là luật kinh doanh bảo hiểm ra đời 09/12/2000 đã tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

Nếu như trước 1993 thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có một mình công ty Bảo Việt thì đến nay đã có 19 công ty bảo hiểm,5 công ty môi giới bảo hiểm, 1 công ty tái bảo hiểm đang cùng tham gia kinh doanh trên thị trường bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau như doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đã làm thay đổi căn bản hoạt động của ngành bảo hiểm trong cả hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ. Các doanh nghiệp bảo hiểm đã củng cố các nghiệp vụ mới, nâng cao chất lượng phục vụ, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau đã được cải thiện. Tuy nhiên sự ra đời của các doanh nghiệp ấy khiến thị trường có tính cạnh tranh hơn nhưng cũng bình đẳng hơn. Chính sự cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp phải cải tiến chất lượng, phục vụ khách hàng tốt hơn với điều kiện có lợi cho khách hàng.

Trong 10 năm qua thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP. Kể từ năm 1994 đến 2003,tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm đạt 23%, doanh thu bảo hiểm toàn thị trường tăng từ 741 tỷ VNĐ năm 1994 đến 10490 tỷ năm 2003, gấp 14,2 lần so với năm 1994 và chiếm tỷ trọng 1.7%/GDP.

Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm được nâng cao và củng đã giải quyết được công ăn việc làm cho xã hội. Bên cạnh đó, sự ra đời của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam bước đầu đã thể hện được vai trò quan trọng giúp cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.

Số vốn thực toàn thị trường hiện nay khoảng 1610 tỷ, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao năng lực nhận bảo hiểm phù hợp với mức độ phát triển trung bình của thế giới. Bên cạnh những yếu kém trên, thị trường bảo hiểm còn tồn tại biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh. Việc hạ phí bảo hiểm, tăng chi hoa hồng bảo hiểm, đôi khi còn dùng các áp lực hành chính để giành dịch vụ đã khiến các doanh nghiệp chưa quan tâm đến công tác đánh giá rủi ro đề phòng và hạn chế tổn thất, bồi thường kịp thời và đầy đủ cho khách hàng làm ảnh hưởng chung đến uy tín của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Đánh giá cụ thể thị trường bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ (BH PNT):

+ Thị trường BH PNT thật sự sôi động kể từ sau năm 1993 với phí bảo hiểm tăng rất nhanh từ 471 tỷ năm 1993 đến 3990 tỷ năm 2003. Do tác động của khủng hoảng kinh tế làm đầu tư giảm sút khiến sự tăng trưởng của bảo hiểm phi nhân thọ bị chựng lạI từ 1997 đến 1999, nhưng từ năm 2000 đã có dấu hiệu phục hồi. Bên cạnh những tác động tích cực do tăng trưởng kinh tế mang lại, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đều có nổ lực đáng kể trong khai thác tiềm năng của thị trường còn bỏ ngỏ, mở ra những thị trường mới.

Yếu tố làm gia tăng BH PNT Việt Nam là hoạt động dầu khí và thăm dò ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các loại hình bảo hiểm nghiệp vụ như bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm dầu khí …

Điển hình năm 2003 PJICO được giải sao đỏ nhờ có chiến lựơc thị trường mục tiêu đúng đánh mạnh vào thị trường bảo hiểm xe cơ giới với 9.27% thị phần BH PNT và 12% BH xe cơ giới

Tuy nhiên, tình hình cạnh tranh khai thác giữa các công ty bảo hiểm kể cả công ty môi giới bảo hiểm diễn biến có chiều hướng phức tạp. Đây được xem là khúc mắc lớn nhất chưa dược giải quyết triệt để trong hoạt động BH PNT từ trước tới nay.

Chúng ta đang có những tiềm năng lớn về bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm hàng hoá XNK nhưng hiện nay chỉ có Groupama mới hoạt động ở lĩnh vực này nhưng với thị phần rất nhỏ 0.05% năm 2003, còn bảo hiểm hàng hoá còn gặp rất nhiều khó khăn, bị các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh hầu hết thị trường

+ Hiện nay các công ty BHNT đã bước vào giai đoạn ổn định và phát triển mang tính bền vững phù hợp với tình hình mới. Tốc độ tăng trưởng toàn thị trường vẫn ở mức 38% nhưng tốc độ này hoàn toàn không đều giữa các doanh nghiệp trên thị trường .Trong khi các công ty BHNT 100% vốn nước ngoài duy trì ở mức tăng trưởng 50% thì các công ty trong nước và liên doanh chỉ đạt mức tăng gần 25%

Thị phần của các cty BHNT theo doanh thu BH (%):
2002 2003
Bảo Việt 46% 41.7%
Prudential 35% 39.0%
Manulife 3% 12.9%
AIA 5% 5.5%
Bảo Minh-CMG 2% 2.2%

Số lượng đại lý BHNT trên toàn thị trường hiện đã lên đến 94447 người, tăng 36% so với 2002 nhưng năng suất khai thác trung bình của 1 đại lý đã giảm từ 2.12 đơn/tháng trong năm 2002 xuống còn 1.75 đơn/tháng trong năm 2003. Điều nay chứng tỏ tình hình khai thác bảo hiểm nhân thọ ngày càng khó khăn hơn. Các chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty BHNT vẫn được tiếp tục thiết lập và đi vào hoạt động tại các tỉnh thành phố trong cả nước.

Riêng về kinh doanh, các công ty BHNT nước ngoài luôn có những hoạt động mang tính đột phá trên thị trường như trong các hoạt động marketing, tuyên truyền quảng cáo, trong việc xây dựng và mở rộng mạng lưới đại lý như thực hiện liên kết, hợp tác với hệ thống ngân hàng để bán và thanh toán phí bảo hiểm, xây dưng hệ thống đại lý chuyên nghiệp.

Nhìn chung các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm đang có một quá trình tự do hoá dịch vụ bảo hiểm là minh chứng cho vai trò của tư nhân đầu tư trong lĩnh vực bảo hiểm ngày càng tăng, khiến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, là động lực giúp thị trường bảp hiểm ngày càng hoàn thiện.

Dự báo :
Thị trường bảo hiểm Việt nam thời gian tới rất khả quan, là một thị trường với nhiều tiềm năng đã, đang và sẽ được khai thác. Lợi thế của Việt Nam là dân số trẻ sẽ là thị trường tiềm năng cho loại hình bảo hiểm An Sinh học đường và xa hơn nữa là loại hình bảo hiểm tuổi già trong vòng 10 năm tới. Ngoài ra với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay (1.21%) và sự gia tăng thu nhập bình quân của người dân ở nước ta thì nhu cầu về các dịch vụ bảo hiểm cũng tăng tỉ lệ thuận

Năm 2004 dự báo tăng trưởng kinh tế là 7.5%, để đạt được mục tiêu này môi trường đầu tư, kinh tế phải đạt được mức độ tăng trưởng cạnh tranh, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư, thu hút mạnh đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Riêng với ngành bảo hiểm, việc mở cửa hơn nữa thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào thị trường, điều đó có nghĩa là sự cạnh tranh sẽ càng lớn. Đây là cơ hội phát triển nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn.

Đặc biệt vị thế của ngành bảo hiểm trong việc quyết định Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào năm 2005 hay không cũng đang được đặt ra bởi trog các phương án đàm phán, lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm, bỏ phân biệt đối xử và bình đẳng trong hoạt động bảo hiểm là một trong những điều kiện tiên quyết. Như vậy, trong thời gian tới chắc chắn cánh cửa của thị trường bảo hiểm sẽ rộng mở nhằm ổn định thị trường trong nước và có lợi thế cạnh tranh đối với các nước trong khu vực trong xu thế toàn cầu hoá.

Vấn đề mấu chốt hiện nay đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước là phải nhanh chóng tổ chức và sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo hướng tập trung chuyên môn hoá, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính dưới nhiều hình thức, đa dạng hoá cơ cấu sở hữu, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước tham gia góp vốn dưới hình thức công ty cổ phần.

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển, cần phải xây dựng một cơ chế mở cửa thị trường bảo hiểm trong bối cảnh hiện nay và trong thời gian tới. Cụ thể là việc tham gia xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung 11 vấn đề trong Thông tư 71, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện luật kinh doanh bảo hiểm. Đó là về thủ tục thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, hoạt động của đại lý và văn phòng đại diện; đăng ký và phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm; quy định về khai thác bảo hiểm nhân thọ; công khai hoá thông tin doanh nghiệp; tái bảo hiểm, hoa hồng bảo hiểm và chi phí đề phòng hạn chế tổn thất, dự kiến ban hành vào cuối năm 2004.


SVTH : HỒ THỊ HIỀN
Lớp : NH3 – K27
Lên đầu trang

anh thu
Thành Viên Mới

Vietnam
2 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  05:53:52  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO VỀ TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM.

I. Đánh giá về tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam:
* Một số thành tựu đã đạt được trong thời gian qua:
Theo thời gian, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã diễn ra quá trình tư hữu hoá dịch vụ bảo hiểm góp phần làm cho hoạt động bảo hiểm ở nước ta ngày một hoàn thiện hơn. Và được biển hiện qua quá trình thay đổi cơ cấu vốn trong các doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm tại Việt Nam như từ độc quyền nhà nước chuyển sang nhiều doanh nghiệp nhà nước, rồi có sự xuất hiện của các công ty cổ phần và liên doanh, và cuối cùng có sự xuất hiện của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Song song đó, ngành bảo hiểm còn đa dạng hoá các lĩnh vực bảo hiểm như: nhân thọ, phi nhân thọ, môi giới bảo hiểm và tái bảo hiểm.
Không những thế, số lượng đại lý bảo hiểm cũng tăng lên một cách nhanh chóng và đáng kể, đến cuối năm 2003 đã có 94.447 đại lý.
Những năm gần đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển khá mạnh. Nếu so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thì tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm đã tăng từ 0,3% GDP trong năm 1995 lên 2,3% GDP trong năm 2003 với 10.082 tỷ đồng, tăng 48% so với năm 2002 (trong đó, tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 53%, của bảo hiểm phi nhân thọ là 40%), tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 12500 tỷ đồng và tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm đạt mức bình quân 30%/năm trong những năm vừa qua, với số doanh nghiệp bảo hiểm là 24 doanh nghiệp năm 2003, 25 doanh nghiệp năm 2004 (trong đó có 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giới bảo hiểm và 1 công ty tái bảo hiểm.
Do phát triển kinh tế ổn định là nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ. Trong năm 2003, Việt Nam tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là 7,5%/năm, lạm phát ổn định, xuất nhập khầu tăng trưởng 28% và 22%. Bên cạnh đó, đầu tư nước ngoài đã được phục hồi, tăng trưởng 30% so với năm 2002, và đầu tư từ các nguồn vốn trong nước cũng tăng mạnh. Các nhân tố trên đã tạo điều kiện cho nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đạt tốc độ tăng trưởng cao. Về thị phần, Bảo Việt là doanh nghiệp lớn nhất với thị phần chiếm khoảng 41,68%, Bảo Minh 23,52%, PVIC 13,82%, PJICO 9,27%, PTI 4,01%, … Các doanh nghiệp bảo hiểm đã chú trọng đến việc phát triển kênh phân phối gián tiếp qua đại lý, tổng số đại lý phi nhân thọ toàn thị trường vào khoảng 16.200 đại lý, đồng thời cũng phát huy hiệu quả việc bán hàng chéo của hệ thống đại lý bảo hiểm nhân thọ.
Còn bảo hiểm nhân thọ thì tăng trưởng nhanh và cạnh tranh mạnh trong năm 2003. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 6.317 tỷ đồng (trong đó, Bảo Việt đạt 2.652 tỷ đồng, chiếm 40,8% thị phần; Prudential đạt 2.435 tỷ đồng, chiếm 38,5% thị phần; Manulife đạt 975 tỷ đồng, chiếm 12,6% thị phần; AIA đạt 368 tỷ đồng, chiếm 5,8% thị phần, Bảo Minh – CMG đạt 139 tỷ đồng, chiếm 2,3% thị phần, …) với tổng số hợp đồng có hiệu lực tới khoảng 3,1 triệu hợp đồng, và tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 9.193 tỷ đồng.


* Một số hạn chế cần khằc phục:
Bên cạnh những thành tựu kể trên, hoạt động bảo hiểm thời gian qua vẫn còn những tồn tại cần khắc phục để đảm bảo cho sự phát triển bền vững trên bước đường hội nhập của kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Công nghệ lạc hậu và năng lực đầu tư chưa cao:
Một tồn tại không chỉ riêng ngành bảo hiểm mà trong hầu hết các doanh nghiệp là tư duy và thói quen hoạt động kinh doanh trong môi trường bao cấp. Công nghệ quản lý kinh doanh bảo hiểm chưa được hiện đại hoá, nhiều doanh nghiệp vẫn áp dụng những phương pháp thủ công trong việc quản lý hợp đồng, cấp đơn và thu phí bảo hiểm. Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp chưa thiết lập được hệ thống công nghệ phần mềm tin học để thực hiện một số công việc có tính thường xuyên như tình phí bảo hiểm, trích dự phòng nghiệp vụ, … còn do thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi về thẩm định, quản lý rủi ro, đầu tư, … Và do các doanh nghiệp bảo hiểm chưa chú trọng đến khâu đào tạo, nâng cao chất lượng đại lý, so số lượng đại lý là khá lớn và ở từng doanh nghiệp thì số lượng tăng, giảm khác nhau và thường xuyên, và đôi khi đây cũng chỉ là nghề tay trái của một số đại lý … cũng gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín của từng doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng và của ngành bảo hiểm nói chung.
Thực tế cho thấy, mặc dù trong năm 2003, tổng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm (là định chế tài chính có khả năng có khả năng huy động vốn) lên tới 6.700 tỷ đồng, nhưng tỷ trọng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng chiếm tỷ lệ rất ít, chỉ khoảng 20%. Điều đáng nói là hình thức đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ lả tiền gửi ngân hàng và mua trái phiếu chính phủ, chiếm khoảng 80%, điều này chứng tỏ năng lực tài chính và khả năng đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế, chưa phát huy được lợi thế của loại định chế tài chính này.
Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn yếu về vốn, ngoại trừ 2 doanh nghiệp là Bảo Việt và Prudential thì các doanh nghiệp còn lại chỉ mới đủ số vốn pháp định nên tổng số vốn thực (khoảng 1.515 tỷ đồng) thì không đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trên trường quốc tế.

Độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh:
Trên thực tế, trong ngành bảo hiểm vẫn còn tồn tại tình trạng độc quyền trong kinh doanh. Nhất là các công ty bảo hiểm chuyên ngành như công ty bảo hiểm Dầu Khí (PVIC), công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) và công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện (PTI), … đang tạo ra tình trạng độc quyền bảo hiểm trong các ngành như: dầu khí, xăng dầu, bưu chính viễn thông, … Điều này đã làm hạn chế quyền tự do chọn lựa tham gia bảo hiểm của các doanh nghiệp, tổ chức trong ngành, không phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của nhà nước. Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp bảo hiểm chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của ngành mình, hơn nửa do có sẵn khách hàng, sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính của ngành, cho nên không quan tâm đến việc nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh để nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm, chất lượng dịch vụ và mở rộng mạng lưới phục vụ đông đảo khách hàng.
Và một tồn tại nữa là tình trạng cạnh tranh hạ phí bảo hiểm, tăng chi phí hoa hồng bảo hiểm. Nhiều doanh nghiệp chỉ lo giành khách hàng mà không quan tâm đến công tác đánh giá rủi ro, đề phòng và hạn chế tổn thất, giám định, bồi thường thiệt hại kịp thời. Nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, các doanh nghiệp còn quá chú trọng đến việc trả hoa hòng đại lý cao, tuyển dụng nhiều đại lý để mở rộng thị phần, tăng doanh thu mà không quan tâm đến công tác đào tạo nâng cao chất lượng đại lý, dẫn đến cơ cấu sản phẩm chỉ tập trung vào các sản phẩm ngắn hạn, phát sinh nhiều tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng, làm hạn chế khả năng huy động vốn đầu tư dài hạn và làm giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân đối với các loại hình bảo hiểm cón khá mới mẻ này.


II. Dự báo về tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới:

Trong những năm vừa qua, nên kinh tế Việt Nam đã không ngừng tăng trưởng và đang phát triển về nhiều mặt, hơn nữa trong những năm tới vẫn được dự báo là có tốc độ tăng trưởng cao (trong năm 2004 dự báo là 7,5%) là một nhân tố quan trọng thúc đẩy ngành bảo hiểm tăng trưởng theo. Và dần dần khi thu nhập, mức sống của người dân Việt Nam cao lên thì họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến bảo hiểm. Đồng thời, theo thời gian thói quen, lối sống của người dân Việt Nam cũng thay đổi theo xu hướng toàn cầu hoá (hội nhập) thì họ sẽ tham gia vào bảo hiểm nhiều hơn vì họ sẽ cùng nhau hạn chế rủi ro theo nguyên tắc số đông để hoán chuyển rủi ro và đó cũng chính là nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm. Ngoài ra, ngành bảo hiểm ở Việt Nam còn khá mới mẻ, tuy doanh thu phí bảo hiểm có tăng trong 10 năm qua nhưng chúng ta vẫn chưa khai thác hết và là một thị trường đầy tiềm năng.
Và trên bước đường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, kinh tế Việt Nam nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng sẽ có cơ hội để tiếp xúc với nhiều kinh nghiệm, khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới hổ trợ cho công tác phân tích, thẩm định, quản lý rủi ro, quản lý đầu tư, … giúp tiến trình hiện đại hoá ngành bảo hiểm được nhanh hơn, hiệu quả hơn. Nhưng nó cũng mang lại không ít khó khăn như theo tiến trình của hiệp định thương mại Việt - Mỹ đến 10/12/2010 thì các doanh nghiệp Mỹ sẽ được “đối xử quốc gia đầy đủ” như các doanh nghiệp Việt Nam kể cả các định chế tài chính nên họ sẽ trở thành những đối thủ cạnh tranh nặng ký của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam muốn trụ vững ở thị trường trong nước và vươn ra nước ngoài thì chúng ta phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ, cổ phần hoá các doanh nghiệp bảo hiểm để chia quyền cho các ngành khác để giữ thị phần và từng bước xã hội hoá hoạt động bảo hiểm (bán cổ phiếu của các công ty bảo hiểm ra công chúng) để vừa có thêm vốn và vừa giữ được khách hàng, củng cố lòng tin vào dịch vụ bảo hiểm trong lòng khách hàng, đào tạo đội ngũ đại lý chuyên nghiệp, lành nghề, đa dạng hoá các sản phẩm bảo hiểm để đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu ngày càng cao của khách hàng,…
Và để thị trường bảo hiểm Việt Nam xứng đáng là tấm lá chắn của nền kinh tế, tiếp tục tăng trưởng thì các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam không chỉ tự củng cố mình mà còn phải biết hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm phủ kín toàn địa bàn, thoả mãn đầy đủ các nhu cầu bảo hiểm của xã hội, nhất là những nghiệp vụ mang tính chất phục vụ. Và không còn cách nào khác là nâng cao hiệp quả của hiệp hội bảo hiểm Việt Nam là cầu nối giúp các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cùng nhau phát triển, tạo uy tín chung cho cả ngành bảo hiểm, hổ trợ tốt cho hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập, các doanh nghiệp bảo hiểm không thể phát triển độc lập mà phải liên kết với các ngành khác như ngành ngân hàng để mở rộng mạng lưới phân phối và có thể tận dụng phương tiện của các ngành này phục vụ cho công tác thu phí, …



Hàn Anh Thư
Lớp NH2 – K27
Lên đầu trang

anh thu
Thành Viên Mới

Vietnam
2 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  05:57:28  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO VỀ TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM.

I. Đánh giá về tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam:
* Một số thành tựu đã đạt được trong thời gian qua:
Theo thời gian, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã diễn ra quá trình tư hữu hoá dịch vụ bảo hiểm góp phần làm cho hoạt động bảo hiểm ở nước ta ngày một hoàn thiện hơn. Và được biển hiện qua quá trình thay đổi cơ cấu vốn trong các doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm tại Việt Nam như từ độc quyền nhà nước chuyển sang nhiều doanh nghiệp nhà nước, rồi có sự xuất hiện của các công ty cổ phần và liên doanh, và cuối cùng có sự xuất hiện của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Song song đó, ngành bảo hiểm còn đa dạng hoá các lĩnh vực bảo hiểm như: nhân thọ, phi nhân thọ, môi giới bảo hiểm và tái bảo hiểm.
Không những thế, số lượng đại lý bảo hiểm cũng tăng lên một cách nhanh chóng và đáng kể, đến cuối năm 2003 đã có 94.447 đại lý.
Những năm gần đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển khá mạnh. Nếu so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thì tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm đã tăng từ 0,3% GDP trong năm 1995 lên 2,3% GDP trong năm 2003 với 10.082 tỷ đồng, tăng 48% so với năm 2002 (trong đó, tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 53%, của bảo hiểm phi nhân thọ là 40%), tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 12500 tỷ đồng và tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm đạt mức bình quân 30%/năm trong những năm vừa qua, với số doanh nghiệp bảo hiểm là 24 doanh nghiệp năm 2003, 25 doanh nghiệp năm 2004 (trong đó có 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giới bảo hiểm và 1 công ty tái bảo hiểm.
Do phát triển kinh tế ổn định là nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ. Trong năm 2003, Việt Nam tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là 7,5%/năm, lạm phát ổn định, xuất nhập khầu tăng trưởng 28% và 22%. Bên cạnh đó, đầu tư nước ngoài đã được phục hồi, tăng trưởng 30% so với năm 2002, và đầu tư từ các nguồn vốn trong nước cũng tăng mạnh. Các nhân tố trên đã tạo điều kiện cho nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đạt tốc độ tăng trưởng cao. Về thị phần, Bảo Việt là doanh nghiệp lớn nhất với thị phần chiếm khoảng 41,68%, Bảo Minh 23,52%, PVIC 13,82%, PJICO 9,27%, PTI 4,01%, … Các doanh nghiệp bảo hiểm đã chú trọng đến việc phát triển kênh phân phối gián tiếp qua đại lý, tổng số đại lý phi nhân thọ toàn thị trường vào khoảng 16.200 đại lý, đồng thời cũng phát huy hiệu quả việc bán hàng chéo của hệ thống đại lý bảo hiểm nhân thọ.
Còn bảo hiểm nhân thọ thì tăng trưởng nhanh và cạnh tranh mạnh trong năm 2003. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 6.317 tỷ đồng (trong đó, Bảo Việt đạt 2.652 tỷ đồng, chiếm 40,8% thị phần; Prudential đạt 2.435 tỷ đồng, chiếm 38,5% thị phần; Manulife đạt 975 tỷ đồng, chiếm 12,6% thị phần; AIA đạt 368 tỷ đồng, chiếm 5,8% thị phần, Bảo Minh – CMG đạt 139 tỷ đồng, chiếm 2,3% thị phần, …) với tổng số hợp đồng có hiệu lực tới khoảng 3,1 triệu hợp đồng, và tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 9.193 tỷ đồng.


* Một số hạn chế cần khằc phục:
Bên cạnh những thành tựu kể trên, hoạt động bảo hiểm thời gian qua vẫn còn những tồn tại cần khắc phục để đảm bảo cho sự phát triển bền vững trên bước đường hội nhập của kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Công nghệ lạc hậu và năng lực đầu tư chưa cao:
Một tồn tại không chỉ riêng ngành bảo hiểm mà trong hầu hết các doanh nghiệp là tư duy và thói quen hoạt động kinh doanh trong môi trường bao cấp. Công nghệ quản lý kinh doanh bảo hiểm chưa được hiện đại hoá, nhiều doanh nghiệp vẫn áp dụng những phương pháp thủ công trong việc quản lý hợp đồng, cấp đơn và thu phí bảo hiểm. Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp chưa thiết lập được hệ thống công nghệ phần mềm tin học để thực hiện một số công việc có tính thường xuyên như tình phí bảo hiểm, trích dự phòng nghiệp vụ, … còn do thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi về thẩm định, quản lý rủi ro, đầu tư, … Và do các doanh nghiệp bảo hiểm chưa chú trọng đến khâu đào tạo, nâng cao chất lượng đại lý, so số lượng đại lý là khá lớn và ở từng doanh nghiệp thì số lượng tăng, giảm khác nhau và thường xuyên, và đôi khi đây cũng chỉ là nghề tay trái của một số đại lý … cũng gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín của từng doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng và của ngành bảo hiểm nói chung.
Thực tế cho thấy, mặc dù trong năm 2003, tổng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm (là định chế tài chính có khả năng có khả năng huy động vốn) lên tới 6.700 tỷ đồng, nhưng tỷ trọng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng chiếm tỷ lệ rất ít, chỉ khoảng 20%. Điều đáng nói là hình thức đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ lả tiền gửi ngân hàng và mua trái phiếu chính phủ, chiếm khoảng 80%, điều này chứng tỏ năng lực tài chính và khả năng đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế, chưa phát huy được lợi thế của loại định chế tài chính này.
Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn yếu về vốn, ngoại trừ 2 doanh nghiệp là Bảo Việt và Prudential thì các doanh nghiệp còn lại chỉ mới đủ số vốn pháp định nên tổng số vốn thực (khoảng 1.515 tỷ đồng) thì không đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trên trường quốc tế.

Độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh:
Trên thực tế, trong ngành bảo hiểm vẫn còn tồn tại tình trạng độc quyền trong kinh doanh. Nhất là các công ty bảo hiểm chuyên ngành như công ty bảo hiểm Dầu Khí (PVIC), công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) và công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện (PTI), … đang tạo ra tình trạng độc quyền bảo hiểm trong các ngành như: dầu khí, xăng dầu, bưu chính viễn thông, … Điều này đã làm hạn chế quyền tự do chọn lựa tham gia bảo hiểm của các doanh nghiệp, tổ chức trong ngành, không phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của nhà nước. Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp bảo hiểm chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của ngành mình, hơn nửa do có sẵn khách hàng, sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính của ngành, cho nên không quan tâm đến việc nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh để nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm, chất lượng dịch vụ và mở rộng mạng lưới phục vụ đông đảo khách hàng.
Và một tồn tại nữa là tình trạng cạnh tranh hạ phí bảo hiểm, tăng chi phí hoa hồng bảo hiểm. Nhiều doanh nghiệp chỉ lo giành khách hàng mà không quan tâm đến công tác đánh giá rủi ro, đề phòng và hạn chế tổn thất, giám định, bồi thường thiệt hại kịp thời. Nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, các doanh nghiệp còn quá chú trọng đến việc trả hoa hòng đại lý cao, tuyển dụng nhiều đại lý để mở rộng thị phần, tăng doanh thu mà không quan tâm đến công tác đào tạo nâng cao chất lượng đại lý, dẫn đến cơ cấu sản phẩm chỉ tập trung vào các sản phẩm ngắn hạn, phát sinh nhiều tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng, làm hạn chế khả năng huy động vốn đầu tư dài hạn và làm giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân đối với các loại hình bảo hiểm cón khá mới mẻ này.


II. Dự báo về tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới:

Trong những năm vừa qua, nên kinh tế Việt Nam đã không ngừng tăng trưởng và đang phát triển về nhiều mặt, hơn nữa trong những năm tới vẫn được dự báo là có tốc độ tăng trưởng cao (trong năm 2004 dự báo là 7,5%) là một nhân tố quan trọng thúc đẩy ngành bảo hiểm tăng trưởng theo. Và dần dần khi thu nhập, mức sống của người dân Việt Nam cao lên thì họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến bảo hiểm. Đồng thời, theo thời gian thói quen, lối sống của người dân Việt Nam cũng thay đổi theo xu hướng toàn cầu hoá (hội nhập) thì họ sẽ tham gia vào bảo hiểm nhiều hơn vì họ sẽ cùng nhau hạn chế rủi ro theo nguyên tắc số đông để hoán chuyển rủi ro và đó cũng chính là nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm. Ngoài ra, ngành bảo hiểm ở Việt Nam còn khá mới mẻ, tuy doanh thu phí bảo hiểm có tăng trong 10 năm qua nhưng chúng ta vẫn chưa khai thác hết và là một thị trường đầy tiềm năng.
Và trên bước đường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, kinh tế Việt Nam nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng sẽ có cơ hội để tiếp xúc với nhiều kinh nghiệm, khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới hổ trợ cho công tác phân tích, thẩm định, quản lý rủi ro, quản lý đầu tư, … giúp tiến trình hiện đại hoá ngành bảo hiểm được nhanh hơn, hiệu quả hơn. Nhưng nó cũng mang lại không ít khó khăn như theo tiến trình của hiệp định thương mại Việt - Mỹ đến 10/12/2010 thì các doanh nghiệp Mỹ sẽ được “đối xử quốc gia đầy đủ” như các doanh nghiệp Việt Nam kể cả các định chế tài chính nên họ sẽ trở thành những đối thủ cạnh tranh nặng ký của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam muốn trụ vững ở thị trường trong nước và vươn ra nước ngoài thì chúng ta phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ, cổ phần hoá các doanh nghiệp bảo hiểm để chia quyền cho các ngành khác để giữ thị phần và từng bước xã hội hoá hoạt động bảo hiểm (bán cổ phiếu của các công ty bảo hiểm ra công chúng) để vừa có thêm vốn và vừa giữ được khách hàng, củng cố lòng tin vào dịch vụ bảo hiểm trong lòng khách hàng, đào tạo đội ngũ đại lý chuyên nghiệp, lành nghề, đa dạng hoá các sản phẩm bảo hiểm để đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu ngày càng cao của khách hàng,…
Và để thị trường bảo hiểm Việt Nam xứng đáng là tấm lá chắn của nền kinh tế, tiếp tục tăng trưởng thì các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam không chỉ tự củng cố mình mà còn phải biết hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm phủ kín toàn địa bàn, thoả mãn đầy đủ các nhu cầu bảo hiểm của xã hội, nhất là những nghiệp vụ mang tính chất phục vụ. Và không còn cách nào khác là nâng cao hiệp quả của hiệp hội bảo hiểm Việt Nam là cầu nối giúp các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cùng nhau phát triển, tạo uy tín chung cho cả ngành bảo hiểm, hổ trợ tốt cho hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập, các doanh nghiệp bảo hiểm không thể phát triển độc lập mà phải liên kết với các ngành khác như ngành ngân hàng để mở rộng mạng lưới phân phối và có thể tận dụng phương tiện của các ngành này phục vụ cho công tác thu phí, …



Hàn Anh Thư
Lớp NH2 – K27
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  06:35:51  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
(Chuyển từ mục Thông tin kinh tế xã hội sang, nguyentihihonghoa đăng lên vào ngày 6/10)

Đánh giá tình hình Bảo Hiểm Việt Nam là định hướng xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm việt nam.
I. Đánh giá tình hình bảo hiểm việt nam
1. Tình hình bảo hiểm Việt Nam
Bảo hiểm phi nhân thọ:
Hiện nay việt nam có nhiều công ty bảo hiểm phi nhân thọ với thị phần ngày càng mở rộng.
Công ty 1998 1999 2000 2002 2003
Bảo Minh 23,1% 24,52% 25,1% 29,08% 23,52%
PTI 0,29% 2,8% 4% 3,7% 4,01%
Bảo Long 1,38% 1,52% 1,4% 1,09% 1,49%
PTI Co 5,76% 5,78% 6,4% 5,65% 9,27%
Bảo Việt 59,71% 56,86% 50,9% 40,39% 41,68%
PVIC 6,89% 4,8% 5% 14,5% 13,82%
Sở dĩ Bảo Minh tăng được thị phần là do:
Tích luỹ được kinh nghiệm
Trước đây, nằm trong Bảo Việt. Sau này tách ra nên có cơ sở đại lý mở rộng trong cả nước. Còn các công ty bảo hiểm chuyên nghành như PTI, PVIC thị phần tăng do là những công ty bảo hiểm chuyên ngành nên tận dụng lợi thế này để thu hút khách hàng. Nhưng bên cạnh đó, có nhược điểm là tạo ra sự độc quyền. Còn thị phần Bảo Việt giảm do sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiểm trên.
Bảo hiểm nhân thọ: Việt nam có nhiều công ty bảo hiểm nhân thọ với thị phần như sau:
Công Ty 2000 2001 2002
AIA 4,21% 5,92% 5%
Bảo Minh CMG 1,815 2,34% 2%
Bảo Việt 54,09% 38,09% 46%
Manulife 6,36% 8,13% 12%
Prudental 33,53% 45,52% 35%

Như vậy, từ đây ta thấy được thị trường bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng nhanh phát triển nhanh do số lượng công ty tăng nhanh, số lượng dịch vụ tăng nhanh, đã xoá được độc quyền nhà nươc vì có sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm nước ngoài, các công ty bảo hiểm cổ phần như trên. Bảo hiểm Việt Nam đi đến tự do hóa bảo hiểm do sự thay đổi trong cấu trúc vốn ngành bảo hiểm mà trong đó thị phần của tư nhân công ty liên doanh công ty nước ngoài tăng nhanh.
Nhưng bên cạnh đó, bảo hiểm Việt Nam còn nhiều hạn chế:
- Đối với bảo hiểm y tế, theo ông Lê Ngọc Trọng - thứ trưởng bộ y tế - cho biết : “quan hệ giữa bảo hiểm y tế - bệnh viện - người bệnh là mối quan hệ tay ba lẽ ra phải tốt đẹp nhưng lại đặt đồng tiền lên trên hết. Theo ông, tại nhiều địa phương người dân có thẻ bảo hiểm y tế nhưng lại không được sử dụng những dịch vụ kỹ thuật cao.
- Đối với dịch vụ bảo hiểm hàng xuất nhập khẩu thì đang bị bỏ ngỏ. Dịch vụ này đem lại nguồn thu lớn và lợi nhuận cao nên phát triển mạnh trên thế giới. Nhưng ở Việt nam 84,8% thị phần bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu lại thuộc về các công ty nước ngoài.
Lý do nào khiến các doanh nghiệp kém mặn mà?
- Do đại bộ phận xuất khẩu đều bán giá FOB , nhập khẩu theo giá CIF nên ngành bảo hiểm hàng hoá Việt Nam thất thu lớn. Doanh nghiệp đóng bảo hiểm trong nước sẽ có nhiều thuận lợi hơn so với đóng bảo hiểm ở nước ngoài.
Đối với bảo hiểm nông nghiệp: Loại hình này hình như đang bị bỏ ngỏ mặc dù Việt Nam được coi là tiềm năng cho các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp:
- Lợi nhuận thấp rủi ro cao : Groupama là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Pháp) duy nhất đang kinh doanh loại hình bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam. Mặc dù vẫn thế nhưng mới đây nhà đầu tư này quyết định ngừng tất cả các hoạt động khai thác mới và nộp đơn lên Bộ tài chính đề nghị cho phép mở rộng các dịch vụ hoạt động cả về phạm vi và nghiệp vụ. Doanh thu của Groupama trong 6 tháng đầu năm 2004 chỉ vỏn vẹn có 5 triệu đồng.
- Mua bảo hiểm để đối phó với ngân hàng: Nhiều khi do quy định của ngân hàng khi vay vốn bên đi vay phải có hợp đồng tham gia mua bảo hiểm cho sản phẩm của mình. Để đối phó, người đi vay cũng đặt vấn đề mua bảo hiểm nhưng thời hạn chỉ có 3 tháng hoặc khi đã được vay vốn họ lại yêu cầu huỷ hợp đồng.
- Nông dân chưa có thói quen mua bảo hiểm.
Như vậy ta thấy được, bên cạnh việc tăng trưởng nhanh của các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ còn một số hạnchế của các loại hình bảo hiểm khác như trên.
II. Định hướng và xu hướng phát triển :
1. Việt Nam là nước có tiềm năng về kinh doanh bảo hiểm vì nước ta là nước có dân số đông ( hơn 80 triệu người) nhu cầu có khả năng thanh tóan ( dự báo khả năng tăng trưởng của kinh tế việt nam vào năm 2004 là 7,5%)
2. Ngành bảo hiểm việt nam phát triển theo hướng toàn cầu hoá hội nhập. Trong cuộc trao đổi sang ngày 15/09 giữa bộ tài chính với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Cụ thể là việc tham giaxây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung 11 vấn đề trong thông tư 71 , hướng dẫn cụ thể việc thực hiện luật kinh doanh bảo hiểm. Đó là vấn đề thủ tục thành lập và hoạt động doanh nghiệp bảo hiểm, mội giới bảo hiểm, hoạt động của đại lý và văn phòng đại diện. cuộc trao đổi này dù có những quan điểm khác nhau song các ý kiến đều tập trung vào việc xây dựng một cơ chế hợp lý theo hướng mở cửa thị trường bảo hiểm trong bối cảnh hiện nay và trong thời gian tới.


Nguyễn Thị Hồng Hoa lớp Ngân Hàng 2 K27
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  06:49:03  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
Sinh Viên: Lê Nguyễn Phương Thảo
Lớp: NH3-K27
Đề tài: ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM.

1. Đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Tình hình chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Hoạt động bảo hiểm là một dịch vụ , là một công cụ tài chính quan trọng để tạo môi trường đầu tư, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những rủi ro trong đời sống xã hội và đầu tư nói chung. Ngoài ra nó còn giúp giảm thiểu những tổn thất trong đời sống xã hội. Từ những vai trò của bảo hiểm đối với nền kinh tế xã hội, nhu cầu về bảo hiểm ngày càng tăng lên làm cho thị trường bảo hiểm ngày càng hoạt động sôi nổi trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
Những năm gần đây thị trường bảo hiểm Việt Nam có những bước phát triển khá mạnh thể hiện qua những chỉ tiêu: tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm so với tổng sản phẩm quốc nội tăng từ 0.3% GDP năm 1995 lên 1.8% GDP năm 2003, doanh thu phí ước đạt 10090 tỷ đồng và tăng 44% so với năm 2002. Đây là kết quả khá khả quan cho thị trường bảo hiểm Việt Nam nếu so với tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ (năm 2003 ước chỉ đạt khoảng 7%). Kết quả này giúp cho tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm trên toàn thị trường (nhân thọ và phi nhân thọ) đạt mức bình quân 30%/năm.
Bên cạnh đó, đã có nhiều công ty bảo hiểm xuất hiện càng làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trở nên sôi động hơn, Tính đến nay (2004) đã có 25 công ty bảo hiểm đang hoạt động trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Trong đó có 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giới bảo hiểm và 1 công ty tái bảo hiểm (năm 2003 có 18 công ty bảo hiểm gốc, 1 công ty môi giới). Các công ty bảo hiểm này đã hoạt động khá mạnh năm 2003: Bảo Việt phi nhân thọ có thị phần 41.68%, Bảo Minh CMG có thị phần bảo hiểm phi nhân thọ 23.52%, PJICO: 9.27%...số lượng đại lý của các công ty ngày càng tăng nhanh với tổng số lượng đại lý 94447. Năm 2003 số lượng đại lý của các công ty bảo hiểm lớn như sau: Bảo VIệt có 25461 đại lý, Prudential có 38000, AIA có 15502, Menulife có 8532, Bảo Minh có 6952…Ngoài ra thu nhập của các công ty có tăng lên đáng kể so với những năm trước: Bảo Việt phi nhân thọ đạt 933 tỷ VND, tăng 17.2% so với cùng kỳ năm trước, Bảo Minh đạt 529 tỷ VND tăng 7.6%, PJICO đạt 240 tỷ VND tăng 70%, UIC tăng 55%, PTI tăng 39.6%, Bảo Long tăng 67.7%, Allianz tăng 68.4%..
Mức tăng trưởng của thị trường bảo hiểm VN được đánh giá là khá cao với mức tăng khoảng 34%/năm với bảo hiểm phi nhân thọ và khoảng trên 60% với bảo hiểm nhân thọ. Doanh thu bảo hiểm mới chiếm khoảng 1,6% GDP và được coi là còn nhỏ so với tiềm năng.

a. Tình hình về thị trường bảo hiểm phi nhân thọ:
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam trong những năm gần đây phát triển tương đối ổn định. 6 tháng đầu năm 1999, tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ tại VN mới là 739 tỷ đồng thì năm 2000 là 851 tỷ đồng, năm 2001 là 1.024 tỷ đồng, năm 2002 là 1.441 tỷ đồng, năm 2003 là 1.859 tỷ đồng. Mức tăng trưởng của doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ trong thị trường 6 tháng đầu năm nay đạt 29% so với cùng kỳ năm trước. 1 số ngành hoạt động trong thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đã có những thay đổi:
Bảo hiểm hàng không: phí bảo hiểm đạt trên 217 tỷ VND tăng 66% so với cùng kỳ năm 2003, nguyên nhân của sự tăng vọt này là do hãng hàng không mới mua và thuê thêm 1 số máy bay mới.
Nghiệp vụ cháy nổ: tốc độ tăng trưởng ổn định là 15%, với phi thu đạt ước 200 tỷ VND, tuy nhiên các vụ cháy nổ trên toàn quốc diễn biến xấu gây nhiều tổn thất về người và tài sản, ảnh hưởng đến tình hình bồi thường của nghiệp vụ.
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu: trong 6 tháng đầu năm 2004 phí đạt ước trên 160 tỷ VND tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân có tốc độ tăng trưởng cao là do năm nay hàng hoá xuất nhập khẩu đạt được tương đối cao (xuất khẩu đạt 11.8 tỷ USD tăng 19.8%, nhập khẩu đạt 14.169 tỷ USD tăng 14.7%) do đó tỷ lệ hàng được bảo hiểm tăng.
Tuy nhiên thị phần bảo hiểm hàng hóa bị mất thị phần trên “sân nhà” nguyên nhân là do các công ty thường nhập hàng ở Việt Nam, bán ngay tại cảng, do đó việc mua bảo hiểm thường thuộc trách nhiệm của bên bán và bên mua. Hiện có 6% hàng xuất và 24% hàng nhập được bảo hiểm trong nước. 85% thị phần bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu thuộc các công ty nước ngoài. 12 doanh nghiệp trong nước chiếm phần còn lại nhưng thưc tế chỉ có 7 công ty duy trì được hoạt động.
Các nghiệp vụ đối nội của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam: ngược lại với các nghiệp vụ bảo hiểm khác, phát triển không đồng đều như bảo hiểm xe cơ giới. Cách đây 1 năm đã có cơn sốt phí bảo hiểm xe cơ giới nhưng năm nay phí bảo hiểm của loại hình này không có biến động, thậm chí còn giảm sút ở 1 số công ty.
Nghiệp vụ bả hiểm nông nghiệp: hiện nay được tiến hành bởi 2 công ty bảo hiểm Bảo Việt và Groupama. Qua nhiều năm hoạt động, 2 công ty bảo hiểm này kinh doanh về lĩnh vực này hầu như là lỗ.
Nhìn chung thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong những năm gần đây co những bước phát triển khá ổn định nhưng chưa đồng đều. Để thị trường này ổn định hơn thì cần phải hợp tác chặt chẽ các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ với nhau, đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm của xã hội, đặc biệt là những nghiệp vụ mang tính chất phục vụ.
b. Tình hình thị trường bảo hiểm nhân thọ:
Từ 1999 đến 2002 khách hàng tham gia vào ngành bảo hiểm nhân thọ tăng rất nhanh (hàng triệu người). Năm 2003 tốc độ phát triển hơi chậm lại khoảng 40% vì hầu hềt các công ty cung ứng dịch vụ tập trung theo chiều sâu, đầu tư cho kế hoạch trung và dài hạn. Nhưng nhìn chung tốc độ phát triển bảo hiểm nhân thọ vẫn cao hơn nhiều so với những năm qua.
Tuy nhiên hiện nay các công ty phải trải qua thời kỳ khó khăn. Người tiêu dùng ngày càng nhận thức được dùng tiền gửi ngân hàng sẽ được hưởng lãi suất cao hơn những khoản lãi mà hợp đồng bảo hiểm mang lại. Ngoài ra thị trường tài chính có những dịch vụ thu hút nhiều người tiêu dùng hơn, Thêm vào đó việc xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ làm cho việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng sâu sắc hơn, tác động đến số lượng hợp đồng bảo hiểm: Bảo Việt nhân thọ, Bảo Minh CMG, Prudential, Manulife số lượng hợp đồng khai thác mới 6 tháng đầu năm đã giảm 15%-30% so với nửa đầu năm ngoái. Việc giảm sút này tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu hiện tại của các doanh nghiệp nhờ vào số hợp đồng có hiệu lực đã ký từ năm trước nhưng về lâu dài sẽ ảnh hưởng và qua đó tác động đến lợi nhuận của công ty và lợi ích của khách hàng.
Việc phân tích sự gia tăng số lượng công ty, đại lý bảo hiểm, cũnh như giá trị dịch vụ trên thị trường bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, có thể thấy được tốc độ tăng trưởng của ngành bảo hiểm Việt Nam tăng khá nhanh và không ngừng hoàn thiện.
c. Tình hình tự do hóa dịch vụ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Chính vì thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển khá tốt nên đá có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư vào thị trường này.Hiện nay, thị phần của các doanh nghiệp nước ngoài là 60%, thuộc về Prudential, Bảo Minh…Có rất nhiều công ty liên doanh cũng như 100% vốn nước ngoài đang hoạt động trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Gần đây cũng đã xuất hiện thêm nhiều công ty bảo hiểm liên doanh. Điển hình 2 công ty liên doanh mới: Công ty liên doanh bảo hiểm châu Á - Ngân hàng công thương VN với vốn điều lệ 6 triệu USD, trong đó 50% do Công ty bảo hiểm châu Á của Singapore đóng góp. Công ty này sẽ tận dụng lợi thế của đối tác là các khách hàng của hệ thống Ngân hàng công thương trên toàn quốc với 600 văn phòng chi nhánh và 20.500 khách hàng có số dư nợ từ 50 triệu đồng trở lên. Samsung Vina có vốn điều lệ là 5 triệu USD, trong đó Vinare đóng góp 50% và Samsung Fire Marine Insurance đóng góp 50%. Công ty này sẽ tận dụng lợi thế là các khách hàng bảo hiểm Hàn Quốc tại VN. Bởi vì hiện nay lượng vốn đầu tư của Hàn Quốc vào VN đang đứng thứ tư, sau Nhật, Singapore và Hồng Công với số vốn là 3,7 tỷ USD. Và VN đang được đánh giá là nước thứ hai về hấp dẫn đầu tư sau Trung Quốc trong khu vực với các doanh nghiệp Hàn Quốc. 9/2003, Gras Savoye, công ty môi giới bảo hiểm lớn nhất nước Pháp và lớn thứ 3 trên thế giới cũng đã chính thức hoạt động tại VN thay vì chỉ có văn phòng đại diện như trước kia. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được mở cửa, mở ra 1 thời kỳ tự do hóa cho ngành bảo hiểm Việt Nam, dần xoá đi tình trạng độc quyền trong ngành.
d. Những tồn tại trong thị trường bảo hiểm Việt Nam
Đánh giá chung về thị trường bảo hiểm Việt Nam đang có bước phát triển , tuy nhiên vẫn còn nhiều mặt tồn tạicần được khắc phục.
Năng lực tài chính và khả năng đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế. Cho đến nay, trừ Bảo Việt và Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential, các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại mới chỉ có đủ số vốn theo quy định của pháp luật. Và như vậy với tổng số vốn thực (khoảng 1.515 tỷ đồng) thì không đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam trên thương trường thế giới.
Bên cạnh đó trên thị trường còn diễn ra tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh.Tại nhiều công ty cổ phần bảo hiểm chuyên ngành như Công ty bảo hiểm Dầu khí (PVI), Công ty Cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) và Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu điện (PTI)... đang tạo ra tình trạng độc quyền bảo hiểm trong các ngành: dầu khí, xăng dầu và bưu chính viễn thông. Điều này làm hạn chế quyền tự do lựa chọn tham gia bảo hiểm của các doanh nghiệp, tổ chức trong ngành, không phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước.
Phạm vi và quy mô của thị trường nhỏ chưa tương xứng với tiềm năng và khả năng phát triển của nền kinh tế - xã hội khi tổng doanh thu phí bảo hiểm chỉ mới chiếm được 1,32 GDP. Mức độ đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế - xã hội với từng loại hình bảo hiểm còn hạn chế. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm còn quá thấp một số lĩnh vực tiềm năng của ngành bảo hiểm chưa được khai thác (bảo hiểm nông nghiệp mới chỉ đạt có 0,08% diện tích cây trồng và 0,1% vật nuôi. Bảo hiểm đánh bắt thủy sản từ 5 - 8% và nuôi trồng thủy sản chỉ có 1%. Bảo hiểm tai nạn con người, tai nạn học sinh sinh viên chỉ đạt khoảng 12 - 15 %. Bảo hiểm hành khách chỉ đạt có 39%. Bảo hiểm kỹ thuật đạt 6 - 7% nguồn đầu tư trong nước và hơn 70 % với khu vực đầu tư nước ngoài. Bảo hiểm hàng xuất khẩu đạt 3%-5% kim ngạch xuất khẩu và hàng nhập khẩu hơn 20% kim ngạch xuất khẩu. Bảo hiểm xe cơ giới chỉ đạt 30 - 40 % với xe ô tô và 10 % với xe gắn máy). Thực tế trên thị trường bảo hiểm Việt Nam còn tồn tại rất nhiều mặt, những mặt tồn tại này ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm, và phần nào kiềm hãm sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng như cơ hội hội nhập với thị trường bảo hiểm thế giới.
2. Dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Thị trường bảo hiểm Việt Nam qua các năm đã có bước phát triển khá rõ rệt. Thị trường bảo hiểm Việt Nam thật sự là thị trường có nhiều tiềm năng để các nhà đầu tư khai thác. Tuy có những chính sách khá phức tạp, còn có những tồn tại trên thị trường bảo hiểm Việt Nam nhưng những tồn tại ấy đang dần khắc phục để mở cửa, theo xu hướng hội nhập quốc tế. Trong tương lai, các lĩnh vực hợp tác bảo hiểm sẽ được mở rộng ra. Hiện nay lĩnh vực xe cơ giới là bước đầu của sự hợp tác bảo hiểm trong ASEAN. Tức là bất cứ một chiếc xe cơ giới nào của ASEAN xảy ra tổn thất ở đâu thì nó đều được đền bù mà không kể nó được mua bảo hiểm ở nước nào.Hoạt động hợp tác bảo hiểm phát triển còn giúp giải quyết được nhiều việc làm hơn cho người dân, nhất là lực lượng tri thức trẻ.
Theo chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2010, các doanh nghiệp (DN) kinh doanh bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ sẽ được sắp xếp đổi mới theo hướng đa dạng các hình thức sở hữu (như DN nhà nước, công ty cổ phần, DN có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức bảo hiểm tương hỗ…). Theo đó, Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) sẽ được xây dựng thành tập đoàn tài chính đa năng (hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, nhân thọ và đầu tư chứng khoán…). Bảo Việt, DN 100% vốn nhà nước duy nhất tại Việt Nam được điều chỉnh vốn điều lệ từ 586 tỷ đồng (hiện nay) lên mức 3.000 tỷ đồng (năm 2005) và 5.000 tỷ đồng (năm 2010). Các công ty bảo hiểm nhà nước khác như Công ty Bảo hiểm TPHCM (Bảo Minh), Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia (Vinare) và Công ty bảo hiểm Dầu khí (PVI) cũng sẽ được tiến hành cổ phần hóa.Theo ông Phùng Ðắc Lộc, Hiệp hội bảo hiểm VN thì “bảo hiểm phi nhân thọ tại VN hứa hẹn nhiều triển vọng, vì mỗi năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, bình quân nước ngoài bình quân là 1,5 tỷ USD, chưa kể nguồn viện trợ ODA cũng như đầu tư trong nước với các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị ở các địa phương đang trải thảm mời gọi các nhà đầu tư tạo tiềm năng cho bảo hiểm kỹ thuật, xây dựng và lắp đặt. Mặt khác, đội tàu trên 2,5 triệu GRT và tài sản của ngành hàng không, điện lực, bưu chính viễn thông, dầu khí, xăng dầu nếu tham gia bảo hiểm, thì sẽ là thị trường đem lại doanh thu không nhỏ cho các doanh nghiệp bảo hiểm.”. Như vậy cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam quả thật là “vùng đất màu mỡ” đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tạo cơ hội cho ngành bảo hiểm nước ta hội nhập chung với ngành bảo hiểm thế giới. Đó là mục tiêu lầu dài của thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Sinh Viên: Lê Nguyễn Phương Thảo
Lớp: NH3-K27
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  07:06:36  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
(Chuyển từ Mạng bảo hiểm Việt nam sang)

Mặc dù tổng công ty bảo hiểm Việt Nam gọi tắt là Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động vào ngày 15/01/1965 (vì trước đây (trước 1954) bảo hiểm xuất hiện ở Việt Nam nhưng chỉ dưới hình thức đại lý bảo hiểm nước ngoài và những luật lệ, quy định về bảo hiểm áp dụng của Pháp) nhưng thị trường bảo hiềm Việt Nam đã cho thấy sự tăng trưởng với tốc độ nhanh của nó. Cụ thể là tổng doanh thu bảo hiểm năm 1991 chỉ 207 tỷ đồng nhưng đến năm 2000 là 3048 tỷ đồng, trong đó: phí BHPNT là 207 tỷ đồng và BHNT là 0 năm 1991; năm 2003 phí BHPNT là 1798 tỷ đồng và BHNT là 1250 tỷ đồng. Năm 2003 tổng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm lên đến 6700 tỷ đồng.
Những năm gần đây thị trường bảo hiểm VN đã có những bước phát triển khá mạnh: nếu so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thì tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm đã tăng từ 0.3% GDP( năm 1995) lên 1.8% GDP( năm 2003) giứp cho tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm đạt mức bình quân 30% /năm .
Nếu như trước đây năm 1996 chưa có đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp thì đến năm 2003 số đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp đã lên tới 70.000 và hiện nay trênt hị trường bảo hiểm VN đã có hơn 100.000 đại lý bảo hiểm .
Trước tốc độ tăng trưởng đó thị trường bảo hiểm VN đã không ngừng tự do hóa dịch vụ bảo hiểm. Nếu như trước đây chỉ có loại hình bảo hiểm nhà nước độc quyền thì qua thời gian đã xuất hiện thêm nhiều loại hình doanh nghiệp bảo hiêm khác như doanh nghiệp cổ phần, liên doanh hay 100% vốn nước ngoài. Cụ thể cơ cấu vốn và các quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm như sau : công ty nhà nước 70.9% , công ty 100% vốn nước ngoài là 12.7% , công ty cổ phần 9.2% , công ty liên doanh là 7.2%.
Một điều nữa để chứng minh cho việc tự do hóa dịch vụ bảo hiểm là thị phần bị chia sẻ của Bảo Việt cho các công ty khác. Trước 1994 Bảo Việt độc hiếm thị trường bảo hiểm VN nhưng bắt đầu từ năm 1995 thị phần của Bảo Việt từ 100% rớt xuống còn 83.07% phần còn lại chia sẻ cho Bảo Minh 15.4% , Bảo Long và PJICO là 1.53% . Và đến năm 2000 thị phần của Bảo Việt giảm xuống còn 50.9 % , Bảo Minh chiếm 25.1% , PJICO 6.4% , Bảo Long 1.4% , PVIC 5% , VIA 2.4% , UIC 2,4% , Việt-Úc 4%, Allianz-AGF 0.4% của phần còn lại. Có thể nói những công ty này ngày càng lớn mạnh và đủ tiềm lực để cạnh tranh cùng các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước dù được thành lập sau.
Mặc khác để giành thêm và giữ thị phần các công ty bảo hiểm không ngừng đưa ra sản phẩm mới ví dụ : Bảo Việt nhân thọ chính thức cung cấp 2 sản phẩm mới là “quyền lợi miễn nộp phí bảo hiểm” và “quyền lợi miễn nộp phí bảo hiểm đặc biệt” nhằm hổ trợ tăng thêm cơ hội lựa chọn cho khách hàng để phát triển quyền lợi cho những khách hàng tham gia bảo hiểm tại Bảo Việt nhân thọ. Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông(VASS) cũng đang thiết kế và triển khai thí điểm thêm một số sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường như bảo hiểm an toàn tài chính trọn gói dành riêng cho ngân hàng, bảo hiểm đảm bảo tài sản thế chấp ngân hàng, bảo hiểm du lịch toàn cầu….Đồng thời các công ty bảo hiểm còn liên kết với các ngân hàng để tạo kênh phân phối sản phẩm rộng khắp như Manulife hợp tác với ngân hàng Đông Á; Prudential với Vietcombank, Á Châu; Bảo Việt nhân thọ với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Hơn nữa với sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiếm sẽ tạo ra sự cạnh tranh, nhờ đó chất lượng dịch vụ sẽ không ngừng nâng cao, cũng như phí bảo hiểm sẽ phù hợp hơn với thu nhập còn thấp của người dân Việt Nam.
Với lợi thế về dân số đông, đây cũng là một tiềm năng làm tăng doanh thu phí bảo hiểm. Dân số việt Nam là dân số trẻ rất phù hợp với sản phẩm “an sinh giáo dục” của bảo hiểm nhân thọ, nhưng trong 10 năm nữa thì sản phẩm “an sinh giáo dục”sẽ giảm để chuyển hướng sang các loại bảo hiểm khác như bảo hiểm dành cho người già chẳng hạn.
Hiện nay Việt Nam đang trên con đường hội nhập kinh tế vì vậy thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng sẽ có cơ hội phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế thông qua sự mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Thực vậy bảo hiểm VN hiện đang gắn chặt với thị trường ASEAN đó là chúng ta đã thực hiện được nhiều công việc liên quan tới hợp tác ASEAN : đã xây dựng được hệ thống pháp lý cho việc phát triển thị trường bảo hiểm phù hợp với các chuẩn mực ASEAN, tham gia công tác đào tạo bảo hiểm ASEAN đồng thời chúng ta cũng đã tham gia vào việc triển khai công tác bảo hiểm xe cơ gi ới trong ASEAN. Đặc biệt thj trường bảo hiểm VN đã có liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng Công Thương Việt Nam với công ty bảo hiểm ASIA của Singapore, đây là những tín hiệu đáng mừng thể hi ện sự hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm giữa chúng ta với các nước trong khu vực.

SV: Võ Lê Chân
Lớp: Ngân Hàng1-K27
ĐH Kinh Tế.
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  07:07:44  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
(Chuyển tư Mạng BHVN sang)

Sinh viên: Phạm thị Trúc Ly
Lớp:NH1-K27.

Đánh giá về thị trường bảo hiểm Việt Nam:

Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế,các Doanh nghiệp bảo hiểm VN(DNBHVN) cũng đã thay đổi và phát triển nhanh chóng trong xu thế mở cửa và hội nhập.
Từ chỗ chỉ có một DNBH duy nhất với 100% vốn nhà nước là Bảo Việt, đến nay thị trường BHVN đã có đủ các lọai hình doanh nghiệp và đa dạng về hình thức sỡ hữu,nguồn vốn .Tổng quỹ dự phòng về nghiệp vụ và sản phẩm dịch vụ của các DNBH ngày càn tăng , đa dạng ,phong phú.

Hiện nay,tăng trưởng của thị trường BHVN được đánh giá cao với tăng bình quân khỏang 23-25% hàng năm trong đó BH phi nhân thọ chiếm 16-18% và BH nhân thọ khỏang 35-40%.Sự góp phần của nhiều lọai hình DNBH đã tạo ra những buớc phát triển mới cho BHVN. Ri êng thị trường BH nhân thọ
tính đến tháng 03/04,có 5 cty đang họat động trong đó có 3 cty BH có vốn đầu tư nước ngòai,1cty liên doanh,và 1cty trong nước.Các cty đã có được trên 5 tỷ khách hàng tham gia BHNT để bảo vệ an tòan tài chính cho bản thân và gia đình. Đồng thời,các cty cũng giải quyết cho hàng chục ngàn khách hàng không may gặp rủi ro lên đến hàng trăm tỷ đồng.Chỉ riêng Bảo Việt với tổng vốn hiện có là 3000 tỷ VND(năm 2002),dự phòng nghiệp vụ là 5425 tỷ VND trong tổng số 8330 tỷ VND của tòan thị trường ,nguồn vốn đầu tư trở lại đạt 5959 tỷ VND so với 6700 tỷ VND của tòan thị trường.Thị trường BViệt nhân thọ tính theo doanh thu BH bằng 43,6% tăng 2,1% so với thời điểm cuối 2003.BViệt hiện chiếm khoảng 52% thị phần tính theo số hợp đồng,tăng o,6% so với mức 51,4% vào cuối 2003.Hoặc như cty Bảo Long –là một cty cổ phần ,mới ra đời năm 1995 nhưng cũng đạt được những kết quả đáng ghi nhận:hiện có 6 chi nhánh(Khánh Hòa,Phú Yên, Đà Nẵng,Vũng Tàu,Hà Nội,Cần Thơ),7 văn phòng BH khu vực tại HCM,2 vphòng tại HN và nhiều đại lý trên tòan quốc.Tính đến 19/05/04,cty đã tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng.
Và tự bản thân các cty cũng ý thức được rằng trong xu thế phát triển luôn đi kèm với cạnh tranh gay gắt,họ phải luôn tự đổi mới , đa dạng hóa sản phẩm chẳng hạn sắp tới BH tiền gửi ,BH tài sản thế chấp ngân hàng sẽ là những sp mới , đầy tiềm năng để cá cty BH khai thác.Hoặc như BViệt từ ngày 1/1/04 đã đưa 2 sp BHNT mới:”quyền lợi miễn nộp phí BH” và “quyền lợi miễn nộp phí BH đặc biệt”. Đây là những sp làm tăng thêm cơ hội lựa chọn cho khách hàng góp phần tăng thêm quyền lợi cho khách hàng khi tham gia BH.
Ngòai việc tận dụng ,khai thác thị trường trong nước,các DNBHVN đặc biệt ĐNBH nhà nước còn có mối quan hệ rộng khắp với các thị trường BH hàng đầu thế giới như:SCORRE,GAN(pháp),Munich Re(đức),Comercial union(anh),…..Các mối quan hệ này nhằm thực hiện nghiệp vụ đa dạng như tái BH,bồi thường, đại lý giám định,…góp phần đưa thị trường BHVN hội nhập với thị trường BH khu vực và thế giới.
Tuy nhiên ,khi bàn đến hội nhập đã và đang tạo ra nhiều cơ hội cho DNBHVN phát triển một thị trường đầy tiền năng như ở VN thì vẫn còn đó những thách thức:
•Sức ép cạnh tranh trongbảo hiểm ngày càng lớn, khi số doanh nghiệp BH ngày tiếp tục tăng theo xu hướng tăng trưởng của ngành.
•Các DNBHVN sẽ đối mặt với cạnh tranh gay gắt trên nhiều mặt: chất lượng phục vụ, sự đa dạng các dịch vụ BH, vốn, giá cả dịch vụ.Trong khi đó các đối thủ nươc ngoài đã có sẵn tiềm lực và đa dạng hóa gói sản phẩm, nhiều lợi thế cung cấp dịch vụ tài chính tổng hợp nhanh chóng và hiệu quả.
•Phát sinh sự thiếu cạnh tranh không lành mạnh trong khi hệ thống pháp luật Việt Nam chưa hoàn chỉnh.
•Các DNBHVN chưa đủ mạnh để đáp ứng được nhiều đòi hỏi cảu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, an toàn cho DN, tổ chức, cá nhân trong giai đoạn hiện nay trên nhiều lĩnh vực.
Từ những thách thức đó các DNBHVN phải tìm ra hướng khắc phục và tìm cách chế nghự nó sở mức thấp nhất, phát huy hết ưu thế của mình. Các DNBHVN với những ưu thế đã có : hệ thống mạng lưới phân phối, cơ sỏ vật chất phát triển khắp toàn quốc và có hình ảnh đối với khách hàng trong nước và ngoài nước là những cơ sở quan trọng để nâng cao phục vụ . Danh tiếng, uy tín của các DNBHVN là tài sản quý giá đặc biệt đối với khách hàng truyền thống. Để phát huy được những ưu thế đó, các DNBHVN cần chủ động hơn trong hội nhấp, tạo nguồn tài chính vững mạnh, tăng cường năng lực kinh doanh, ứng dung công nghệ quản lý hiện đại, khôngngừng xây dựng đội ngủ cán bộ có trình độ và kỹ năng phong cách làm việc chuyên nghiệp để phát triển lên tầm cao mới.
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  18:30:36  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Theo đánh giá cuả BTC , mặc dù năm 2003 là năm còn nhiều biến động trong nước cũng như nước ngoài đặc biệt là các biến động về khủng bố , đại dịch Sars đã ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường baỏ hiểm & thị trường tái bảo hiểm nhưng thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng vượt bậc .
Năm 2003 ,thị trường baỏ hiểm Việt Nam tăng trưởng 48%
Thị trường bảo hiểm ViệtNam đạt được tốc độ tăng trưởng khá quan trọng năm 2003 . Tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 10400 tỷ đồng trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 6317 tỷ đồng , doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ là 4003 tỷ đồng . Tốc độ tăng trưởng toàn thị trường đạt 48% , trong đó tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 53%, của bảo hiểm phi nhân thọ là 40% . Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 12500 tỷ đồng .Tổng số lượmg đại lý lên tới 96000 đại lý bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.
Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng 40%
Phát triển kinh tế ổn định là nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ. Trong năm 2003 Việt Nam tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định ở mức 7,5% lạm phát ổn định ,xuất nhập khẩu tăng trưởng 28% & 22% . Đầu tư nước ngoài đã được phục hồi , tăng trưởng 30% so với năm 2002 . Đầu tư từ các nguồn vốn trong nước tăng mạnh . Các nhân tố trên đã tạo điều kịên thuận lợi cho các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đạt tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2003.
Xét về thị phần bảo hiểm ,năm 2003 , Bảo Việt là doanh nghiệp có thị phần lớn nhất với khoảng 42% . Bảo Việt đã đạt tốc độ tăng trưởng cao trong bảo hiểm phi nhân thọ đạt 31% . Một số nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng cao của Bảo Vịêt là bảo hiểm xe cơ giới tăng 57% , bảo hiểm con người tăng 21%.
Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ là 3262 tỷ đồng trong đó Bảo Việt chiếm hơn 50% .
Các doanh nghiệp bảo hiểm đã rất chú trọng phát triển kênh phân phối gián tiếp qua đại lý .Tổng số đại lý phi nhân thọ toàn thị trường là 16200 người . Trong đó đại lý của Bảo Việt chiếm tới 75% ,Bảo Việt cũng đã phát huy hiệu quả việc bán hàng chéo của hệ thống đại lý bảo hiểm nhân thọ .
Bảo hiểm nhân thọ tăng trưởng cao và cạnh tranh mạnh
Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 6317 tỷ đồng .Tổng số hợp đồng có hiệu lực lên tới khoảng 3,1 triệu hợp đồng . Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt đạt 2652 tỷ đồng .chiếm 40,8% thị phần , Prudential đạt 2453 tỷ đồng chiếm 38,5% thị phần , Manulife đạt 975 tỷ đồng chiếm 12,6% thị phần , AIđạt 368 tỷ đồng chiếm 5,8% thị phần ,Bảo Minh-CMG đạt 139 tỷ đồng chiếm 2,3% thị phần .Tổng số tiền đầu tư trở lạI nền kinh tế đạt 9193 tỷ đồng ,trong đó Bảo Việt chiếm khoảng 55% tổng số tiền đầu tư.
Sáu tháng đầu năm 2004 hầu hết các nghiệp vụ đối ngoại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đều phát triển ổn định như nghiệp vụ bảo hiểm hàng không , phí bảo hiểm của nghiệp vụ này đạt trên 217 tỷ đồng tăng 66% so với cùng kỳ năm 2003
Qui định bảo hiểm bắt buộc đối với cháy nổ chưa được triển khai nhưng nghiệp vụ này có tốc độ tăng trưởng ổn định là 15% với cước phí thu được ước 200tỷ đồng ,tuy nhiên tình trạng cháy nổ trên toàn quốc lại diễn biền xấu ,tính đến hết tháng 6 cả nước đã xảy ra hàng trăm vụ cháy nổ gây tổn thất rất lớn về người và của . Đặc biệt có những vụ tổn thất lớn thuộc trách nhiệm của bảo hiểm như : cháy nhà máy giày Khải Hoàn (Đài Loan) ngày 27/3/2004 tổn thất ước đạt 50 tỷ VND ,cháy nhà máy dệt PUYEN (Đài Loan) ngày 3/3/2004 thiệt hại ước 60 tỷ VND ,cháy nhà máy nhựa TIUCO (Đài Loan) ngày 6/6/2004 thiệt hại ước 60 tỷ VND ,cháy nhà máy sợi công nghiệp Hà Nội ước tổn thất 4 tỷ VND
Bảo hiểm hàng hoá XNK của Vịêt Nam trong 6 tháng qua ước đạt trên 160 tỷ VN- phí tăng 21% so với cùng kỳ này năm trước . Sở dĩ nghiệp vụ này có tốc độ tăng trưởng cao là do năm nay hàng hoá XNk của ta đạt tương đối cao (XK đạt 11,8 tỷ USD tăng 19,8% ,nhập khẩu đạt 14,169 tỷ USD tăng 14,7% )
Ngược lại nghiệp vụ đối nội của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam phát triển không đồng đều điển hình như nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giớI . So vớI thời điểm này năm trước thì loại hình bảo hiểm này có vẻ im ắng hơn nhiều .
Trong khi đó tai nạn giao thông năm nay 6327 ngườI chết tăng 5,9 % ,8715 người bị thương . vấn đề đặt ra là ngành bảo hiểm Việt Nam đã làm gì để góp phần làm giảm và giải quyết hậu quả của tai nạn giao thông ở Việt Nam.
Nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp còn ảm đạm hơn nhiều . Groupama được xem là công ty dũng cảm nhất trong số các công ty nước ngoài dám tiến hành bảo hiểm nông nghiệp ở Vịêt Nam .
Nếu như 6 tháng năm trước phí của công ty này trên khoảng 1tỷ VND tiền phí thì 6 tháng năm nay phí của công ty này chưa vượt quá con số trên ,buộc công ty này có thể phải chuyển hướng nếu muốn tồn tại , bởi họ là công ty nước ngoài lại là tổ chức kinh doanh thì không có lý do gì khi không được hưởng ưu ái nào thì làm sao họ chịu dựng được lỗ mãi để làm công tác xã hội
Đối với bảo hiểm nhân thọ sự cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm nhân thọ ngày càng quyết liệt , các công ty nước ngoài luôn có những hoạt động mang tính đột phá trên thị trường như marketing ,tuyên truyền quảng cáo , xây dựng và mở rộng mạng lưới đại lý . Cạnh tranh không chỉ diễn ra trên các mặt hàng như sản phẩm bảo hiểm ,chất lượng phục vụ mà còn trên năng lực vốn ,kinh nghiệm cũng như giá cả sản phẩm.
VớI một đất nước có dân số đông , kinh tế đang phát triển , đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện ,ngành bảo hỉêm Việt Nam có 1 tiềm năng lớn nếu như được khai thác tốt . Vấn đề mấu chốt hiện nay đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước là phải nhanh chóng sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo hướng tập trung chuyên môn hoá ,nâng cao năng lực cạnh tranh ,tăng cường năng lực tài chính dưới nhiều hình thức , đa dạng hoá cơ cấu sở hữu , khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia góp vốn dưới nhiều hình thức công ty cổ phần . Đặc biệt với vị thế ngành bảo hiểm trong việc quyết định Việt Nam gia nhập tổ chức WTO vào năm 2005 hay không cũng đang được đặt ra bởi trong các phương án đàm phán , lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm ,bỏ phân biệt đối xử và bình đẳng trong hoạt động bảo hiểm là điều kiện tiên quyết . Trong thời gian tới chắc chắn cánh cửa thị trường bảo hiềm sẽ rộng mở và nếu các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam không chuẩn bị kỹ càng sẽ mất đi khả năng cạnh tranh trên sân nhà.

SV: Lê Thị Thu Thuỷ
NH2-K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 07/10/2004 :  19:51:53  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng đã có sự phát triển nhấtđịnh và sự trưởng thành về nhiều mặt. Mặt khác, sức ép mở cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn đã mở ra cho thị trường bảo hiểm Việt Nam bước sang giai đoạn mới, giai đoạn cạnh tranh phát triển và hội nhập.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đánh giá đúng và khách quan thị trường bảo hiểm Việt Nam là cần thiết:
§ Với sự ra đời Nghị Định 100/NĐ-CP(1994-2002) tạo điều kiện thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển nhanh chónh từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm đến nay đã phát triển thành một thị trường bảo hiểm với sự tham gia của gần 25 doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế bao gồm 4 doanh nghiệp nhà nước, 3 doanh nghiệp cổ phần, 6 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 12 doanh nghiệp liên doanh và hơn 76000 người làm đại lý bảo hiểm.
§ Kể từ năm 1994 đến nay tốc độ tăn trưởng của thị trường bảo hiểm đạt 23%/năm, doanh thu phí bảo hiểm cuối năm 2002 đạt 7685 tỷ đồng tăng gâp10,3 lần doanh thu phí bảo hiểm 1994. Về phương diện nào đó có thể đánh giá thị trường bảo hiểm phát triển mạnh qua các năm.
§ Các loại hình bảo hiểm ngày càng đa dạng hoá, tự do hoá dịch vụ bảo hiểm thể hiện qua thị phần doanh thu phí bảo hiểm, số lượng khách hàng, chất lượng phục vụ ngày càng tăng. Năm 1994 Bảo Việt mới cung cấp được 20 sản phẩm đến nay các doanh nghiệp bảo hiểm đã khai thác tất cả 3 nhóm sản phẩm là bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm và bảo hiểm con người với hơn 90 loại sản phẩm khác nhau.
§ Thị trường bảo hiểm đã có sự thay đổi trong cấu trúc vốn, tỷ trọng tư nhân ngày càng tăng, thị phần trong công ty bảo hiểm nhà nước giảm dần nhường chỗ lại cho công ty tư nhân mới ra đời nhưng chiếm thị phần khá lớn. Chẳng hạn đến 2003 Bảo Việt chỉ còn 41,68% nhưng PTI 4,01%, PJICO 9,27%, Bảo Ngân 0,06% và Samsungvina 0,02%.Kết quả này là do việc xoá bỏ độc quyền trong nhà nước thay vào đó mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, các khu vực nhằm phù hợp tình hình chung của thế giới.
§ Thị trường bảo hiểm Việt Nam nhìn chung phát triển nhưng phát triển chưa mạnh. Công ty bảo hiểm chưa quan tâm nhiều tới việc cải thiện năng suất và hiệu quả làm tốt công tác chuyên môn cũng như quảng bá mạnh mẽ thương hiệu của họ ra công chúng. Chẳng hạn, đối với một số thành phố lớn có thể thị trường bảo hiểm phát triển song ở nông thôn, người dân có nhu cầu bảo hiểm song chưa mua bảo hiểm do họ không tin tưởng vào dịch vụ bảo hiểm và chỉ hiểu một cách mơ hồ về bảo hiểm cũng như những tác dụng của nó trong quá trình phát triển con người,phát triển KT-XH. Mặt khác, công ty bảo hiểm chưa chú trọng việc tuyên truyền và tư vấn cho người dân hiểu rõ lợi ích của bảo hiểm là bảo vệ tài chính khi rủi ro xảy ra. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân sau: chưa sử dụng tối đa nguồn vốn, khoa học kỹ thuật công nghệ còn kém,thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn. thủ tục cấp giấy phép kinh doanh của cơ quan nhà nước rườm rà.
Dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam:
ª Thị trường bảo hiểm Việt Nam là thị trường tiềm năng, nó sẽ tiếp tục phát triển nhanh và đầy đủ các yếu tố của thị trường nhằm đa dạng hoá các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm với chất lượng cao.
ª Thị trường bảo hiểm sẽ tiếp tục thu hút nguồn vốn đầu tư, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ nâng cao sức cạnh tranh và sẽ chủ động trong môi trường hội nhập. Mặt khác, thị trường trong tương lai sẽ đóng góp đáng kể vào tỷ trọng tăng GDP, tỷ trọng phí bảo hiểm nhân thọ cũng như phi nhân thọ tăng trưởng nhanh và sẽ ổn định ở một mức nhất định.
ª Bảo hiểm phát triển theo xu hướng hội nhập.
v Thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ gặp nhiều rủi ro trong quá trình hội nhập WTO. Việc gia nhập sẽ tạo ra cạnh tranh trong khi hệ thống bảo hiểm trong nước còn bộc lộ nhiều yếu kém,hệ thống luật lệ thiếu, không đồng bộ …
v Sự tác động của hiệp định thương mại Việt Mỹ tạo điều kiện thị trường bảo hiểm đa dạng hoá dịch vụ, giảm thiểu rủi ro, thu hút vốn đầu tư trong nước cũng như ngoài nước. Trái lại, công ty Mỹ sẽ mở rộng phạm vi cung cấp các dịch vụ tới khách hàng Việt Nam. Do vậy, các công ty trong nước ắt hẳn giảm thị phần.l
ª Thị trường bảo hiểm Việt Nam là thị trường năng nhưng tiềm năng chưa được các nhà bảo hiểm trong nước khai thác triệt để. Việc liên kết các tập đoàn tài chính chẳng hạn như liên kết với các ngân hàng vãn chưa phổ biến. ví dụ như công ty bảo hiểm Bảo Ngân liên kết ngân hàng Incombank và công ty bảo hiểm Á Châu Singapo chỉ chiếm 0,06% thị phần (2003).
Với dự báo trên, Thiết nghĩ thị trường bảo hiểm Việt Nam sắp bước vào cạnh tranh gay gắt hơn hiện nay do vậy thị trường bảo hiểm Việt Nam cần phải được Đầu tư nhiều hơn nữa về vốn, kĩ thuật, đội ngũ nhân viên chuyên môn nghiệp vụ, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm trong bảo hiểm, tận dụng nhiều kênh phân phối của ngân hàng, mở rộng quan hệ hợp tác và tăng cường quảng bá mạnh mẽ thương hiệu ra công chúng… Có như vậy thị trường bảo hiểm Việt Nam mới thích ứng trong quá trình hội nhập.
Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh
Ngân Hàng 2


Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  00:00:52  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM


Theo thống kê chung, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm chỉ chiếm 1.6% tổng GDP của Việt Nam. So với mức 5-6% của các nước trong khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khá giống với ta và nhất là so với các nước phát triển trên thế giới thì rõ ràng thị trường bảo hiểm Việt Nam còn khá trống trải. Mặt khác tốc độ tăng trưởng 24%/năm của bảo hiển nhân thọ và 16.5%/năm của bảo hiểm phi nhân thọ là những bằng chứng rất thuyết phục về sự hấp dãn của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Thế nhưng, nhìn vào thực trạng thị trường bảo hiểm của ta hiện nay, trong tổng số 14 công ty bảo hiểm phi nhân thọ và 5 công ty bảo hiểm nhân thọ đang hoạt động, chỉ có 3 công ty bảo hiểm tư nhân của Việt Nam, mà công ty đầu tiên (công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông) cũng chỉ mới ra đời ngày 17/02/2004, trong khi “người Việt Nam hiện có đủ sức và đủ vốn để thành lập những công ty của riêng mình” (trích lời ông Nguyễn Tiến - tổng giám đốc Viễn Đông), “chúng ta đã bỏ phí một thị trường bảo hiểm màu mỡ ngay dưới chân mình” (Vietnam Net).
Người ta hi vọng rằng, cùng với luật kinh doanh bảo hiểm, chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm với nhiều cơ chế mở mới được thủ tướng chính phủ thông qua gần đây sẽ mở đường cho sự ra đời của nhiều công ty bảo hiểm tư nhân Việt Nam trong một tương lai gần, tạo kênh huy động vốn nội địa cho quốc gia và góp phần vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
Mặc dù năm 2003 là năm có nhiều biến động trong nước cũng như nước ngoài, đặc biệt là khủng bố ở nhiều nước, đại dịch SARS đã ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường bảo hiểm và thị trường tái bảo hiểm, nhưng thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng vượt bậc.Doanh thu phí ước tính đạt 10.090 tỷ đồng, tăng 44% so với năm 2002, doanh thu phí bảo hiểm chiếm 2.3% GDP, với 24 công ty bảo hiểm đang cùng hoạt dộng kinh doanh trên thị trường bảo hiểm, và từ đầu năm 2004 đã có 25 công ty, trong đó 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giới bảo hiểm và 1 công ty tái bảo hiểm, với sự có mặt của các công ty liên doanh như Công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc , Bảo Minh-CMG,IAI và các công ty 100% vốn nước ngoài như Manulife, Prudential, Groupama, Gras Savoye… đã làm thay đổi hoạt động của ngành bảo hiểm.

Qua 10 năm phát triển, thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP. Đã xoá thế độc quyền và dần dần tự do hóa dịch vụ bảo hiểm. Thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo doanh thu phí bảo hiểm như sau:

2002
AIA 5%
Bảo Minh- CMG 2%
Bảo Việt 46%
Manulife 12%
Prudential 35%

2003
AIA 5.5%
Bảo MInh- CMG 2.2%
Bảo Việt 41.7%
Manulife 12.9%
Prudential 37.7%

Năm 2003 thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có nhiều chuyển biến, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã bước vào giai đoạn ổn định và bền vững. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ năm 2003 đạt trên 6.500 tỷ đồng.

Số lượng đại lý bảo hiểm nhân thọ trên toàn thị trường hiện đã lên tới hơn 100.000 đại lý bảo hiểm, nhưng nhìn chung năng suất khai thác trung bình của một đại lý bảo hiểm đã giảm so với năm 2001 và 2002. Điều này cho thấy ngày càng khó khăn hơn trong việc khai thác bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam.

Năm 2003 thị phần bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt vẫn lớn nhất, nhưng tốc độ tăng trưởng đang giảm dần, trong khi các công ty bảo hiểm nhân thọ của nước ngoài như Prudential đang tăng tốc với tốc độ khai thác ngày càng mạnh, Prudential đề ra chỉ tiêu năm 2004 này sẽ chiếm thị phần cao hơn cả Bảo Việt. Đây là thách thức lớn đối với Bảo Việt.

Tương lai thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ càng khó khăn hơn trong việc khai thác triệt để tiềm năng hiện có, bên cạnh đó việc mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường, sẽ dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng lớn hơn, vị thế của các công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam sẽ bị đe dọa nếu không chuẩn bị kỹ sẽ dần mất đi khả năng cạnh tranh ngay chính trên đất nước mình. Do đó đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cần nhanh chóng sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo hướng chuyên môn hóa, tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính, khuyến khích cổ phần hóa các công ty bảo hiểm. Để phát triển hơn nữa, các công ty bảo hiểm đều có quyền khai thác dịch vụ như nhau dựa trên hiệu quả phục vụ, cạnh tranh lành mạnh, chất lượng hoạt động và uy tín với khách hàng, đây là yếu tố quyết định.

Ngành bảo hiểm không thể phát triển một cách độc lập mà còn phụ thuộc vào nền kinh tế Việt Nam, các ngành và lĩnh vực khác. Tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển với tốc độ ngày càng cao, mọi thành phần kinh tế, lĩnh vực kinh tế sẽ cùng phát triển. Hiện nay kênh phân phối qua hệ thống ngân hàng cũng được các công ty bảo hiểm nhân thọ khai thác và mang lại hiệu quả không nhỏ, điển hình là đã có công ty liên doanh bảo hiểm Việt- Úc giữa Ngân hàng BIDV và tập đoàn QB của Úc, Công ty bảo hiểm Bảo Ngân giữa ngân hàng Incombank và công ty bảo hiểm Á Châu của Singapore, Ngân hàng VCB đã trở thành đại lý phân phối chính thức của Prudential và thực hiện thanh toán phí bảo hiểm thông qua hệ thống thẻ tự động ATM.

Trong chiến lược phát triển ngành bảo hiểm Chính phủ cũng đã đặt mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế và dân cư.
Sinh viên

Nguyễn Trọng Tài
NH1-K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  01:26:32  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Tên: Đỗ Thị Thu Hồng
Lớp: NH2 K27
Bài viết : đánh giá và dự báo về tình hình bảo hiểm Việt Nam
1) Đánh giá về tình hình bảo hiểm Việt Nam:
v Từ năm 1965 đến 1993 thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có duy nhất 1 công ty là Bảo Việt. Do cơ chế bao cấp, độc quyền nên quy mô bảo hiểm nhỏ sản phẩm đơn điệu, phạm vi hoạt động hạn chế.
v Từ sau Nghị Định 100/CP ra đờI 18/12/1993, thị trường bảo hiểm, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến rõ né tvà bắt đầu phát triển mạnh mẽ. NĐ 100/CP đã thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài. Bảo hiểm Việt Nam từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp mà đến nay số lượng đã lên đến 24 doanh nghiệp tạo nên một thị trường sôi động. Các doanh nghiệp được thành lập thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó;
- 4 doanh nghiệp nhà nước: Bảo Việt, Bảo Minh, PVIC, Vinare.
- 7 công ty cổ phần: PJICO, PTI, Viển Đông, Bảo Long, Việt Quốc, Á Đông, Đại Việt, UIC
- 7 công ty liên doanh: Bảo Minh- CMG, Việt- Úc,Samsung-Vina, IAI, Inchibork, VIA.
- 6 công ty 100% vốn nước ngoài: Allianz, Manulife, Prudential, AIA, Groupana, Grassavoye.
v Cùng với việc số lượng các công ty bảo hiểm tăng thì thị trường bảo hiểm Việt Nam củng sôi động với việc các công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong đó có 5 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhân thọ, 12 doanh nghiệp tham gia kinh doanh trong lĩnh vực phi nhân thọ, môi giới bảo hiểm có 5 doanh nghiệp và 1 doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm, trong đó Bảo Việt kinh doanh cả NT lẫn PNT. Nước ta thực hiện tự do hoá các dịch vụ bảo hiểm , xoá độc quyền bảo hiểm, điều này đã tạo diều kiện cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay.
v Tuy việc xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp bảo hiểm với nhiều thành phần kinh tế khác nhau nhưng nhìn chung các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước vãn giử được vị trí chủ đạo của mình.
v Thị phần của các doanh nghiệp BH phi nhân thọ trong các năm như sau:
- Bảo Việt năm 1995 chiếm 83.07%, 1997 chiếm 63.15%, 2000 là 50.9%, 2003 là 41.68%.
- Bảo Minh năm 1995 chiếm 15.4%, 1997 chiếm 21.33%, 2000 là 25.10%, 2003 là 23.52%. Năm 2003 PJICO chiếm 9.27%, PVIC chiếm 13.82%.
v Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ thể hiện qua việc doanh thu phí bảo hiểm liên tục tăng qua các năm:
- Năm 1999 tổng doanh thu đạt 2077 tỉ đồng tăng 210 tỉ so vớI 1998, tỉ lệ tăng 11.23%. Trong đó doanh thu phí BH nhân thọ là 480tỉ, phi nhân thọ là 1593tỉ
- Năm 2003 vừa qua tình hình doanh thu như sau: tổng doanh thu đạt 10400 tỉ đồng trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 6317 tỉ đồng, phi nhân thọ là 4003 tỉ đồng. Tốc độ tăng trưởng toàn thị trường là 48% trong đó tăng trưởng doanh thu phí BH NT là 53%, PNT là 40%.
v Chẳng những doanh thu phí bảo hiểm tăng nhanh mà số lượng đại lý bảo hiểm củng tăng vựơt bậc trong thời gian qua. Năm 2002 số lượng đại lý bảo hiểm nhân thọ là 69850 năm 2003 vừa qua con số đã lên đến 94447 đại lý. Điều này chứng tỏ thị trường bảo hiểm nước ta đang phát triển vô cùng mạnh mẽ. Tuy nhiên sư phát triển đó thể hiện rõ hơn nếu ta xét trong 2 thời kì:
- Trước năm 1997: thị trường bảo hiểm nước ta chỉ có loại hình phi nhân thọ hoạt động. Doanh thu phí bảo hiểm năm 1996 là 1288 tỉ đồng tăng 262 tỉ so với năm 1995 đạt tốc độ tăng 25.54%.
- Từ năm 1997 trở đi loạI hình bảo hiểm nhân thọ xuất hiện tại thị trường Việt Nam. Năm 1997 doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ chỉ đạt 11 tỉ đồng chiếm 0.81% trong tổng doanh thu nhưng năm 1998 đạt 203tỉ chiếm 10.87% tổng doanh thu. Năm 2000 doanh thu đạt 125 tỉ chiếm 41% tổng doanh thu. Năm 2003 đạt 6317 tỉ chiếm 60.74% tổng doanh thu, tổng số hợp đồng có hiệu lực lên đến 3.1 triệu hợp đồng. Bảo hiểm nhân thọ tuy xuát hiện sau nhưng phát triển với tốc dộ thần kì ở thị trường Việt Nam và tốc độ phát triển hàng năm cao hơn so với phi nhân thọ.
v Song song với việc phát triển các hoạt động kinh doanh bảo hiểm , nhà nước đã triển khai toàn diện công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động này như: ban hành luật kinh doanh bảo hiểm, từng bước hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm thiết lập một thị truờng bảo hiểm cạnh tranh lành mạnh. Mở rộng quan hệ hợp tác với các nước từng bước chuẩn hoá môi trường kinh doanh bảo hiểm . Hiệp hội bảo hiểm được thành lập phát huy vai trò của mình.
v Tuy nhiên thị trường bảo hiểm nước ta vẫn còn một số mặt tồn tại như: môi trường cạnh tranh chưa thực sự lành mạnh,. Chưa đáp ứng tốt nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế xã hội , cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế, thiếu thông tin minh bạch. Ngoài ra vãn còn một số lĩnh vực tiêm năng chưa được khai thác triệt để như: bảo hiểm đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, bảo hiểm nông nghiệp,…
v Trong 6 tháng đầu năm nay, hầu hết các nghiệp vụ đối ngoại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đều phát triển ổn định như:nghiệp vụ bảo hiểm hàng không, doanh thu phí đạt 217 tỉ đồng tăng 66% so với cùng kỳ năm 2003. Bảo hiểm hàng hoá XNK 6 tháng qua ước đạt trên 160 tỉ đ Ngược lại các nghiệp vụ đối nội của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ lại phát triển không đều điển hình như nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ gíơi. Nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp còn ảm đạm hơn nhiều , hiện nay trên thị trường chỉ có hai công ty tíến hành bảo hiểm nông nghiệp là Bảo Việt và Groupana .
2) Dư báo tình hình bảo hiểm Việt Nam:
v Trong thới gian qua thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng khả quan . Đây là nhân tố cho thấy thị truờng bảo hiểm nước ta là thị trường đầy tiềm năng. Ngoài nhân tố trên nước ta còn có nhiều điều kiện để thị trường bảo hiểm phát triểm mạnh như: nước ta có dân số đông , hiện nay dân số nước ta trên 80 triệu người. Nước ta duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong các năm qua. Năm 2003 vừa qua nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế là 7.5%. Thu nhập bình quân đầu người tăng, hiện nay con số này đạt trên 400 USD. Lạm phát tương đối ổn định và dự báo trong tương lai nước ta sẽ tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng kinh tế và duy trì lạm phát ở mức ổn định. Ngoài ra trong năm 2003 tình hình xuất nhập khẩu tiếp tục tăng trưởng. Xuất khẩu tăng 28% và nhập khẩu tăng 22% . Đầu tư nước ngoài đã được phục hồi, tăng trưởng 30% so với năm 2002 . Đầu tư từ các nguồn vốn trong nước tăng mạnh. Khi nến kinh tế phát triển, mức sống người dân ngày càng được nâng cao thì thị trường bảo hiểm càng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển.
v Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong tương lai sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hội nhập quốc tế do hiện nay xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế ngày càng được khẳng định. Đặc biệt từ khi các hiệp định về dịch vụ tài chính giữa nước ta với các nước, các tổ chức quốc tế được thông qua . Việc mở cửa thị trường và tự do hoá trong lĩnh vực dịch vụ tài chính trong đó có bảo hiểm ngày càng trở nên cấp thiết . Việc từng bườc hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm là một tất yếu khách quan..
v Thị trường bảo hiểm Việt Nam là thị trường tiềm năng. Tuy nhiên để khai thác triệt để tiềm năng đó trong cơ chế nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước phảI,co chiến lược kinh doanh thích hợp và hiệu quả, không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu và đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của mọi khách hàng. Thực hiện tốt các dịch vụ cung cấp, nâng cao sức cạnh tranh của mìng trên thị trường, mở rộng nội dung và lĩnh vực hoạt động, có như thế mới có thể giử được vị trí của mình và tiếp tục phát triển trên thị trường.
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  01:30:06  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đánh giá và dự báo tình hình thị trường Bảo Hiểm Việt Nam

1.Đánh giá thị trường Bảo Hiểm Việt Nam từ 1994 đến nay
Thị trường BH VN đã hình thành và có nhiều bước phát triển nhanh chóng:
§ Số lượng DN BH tăng nhanh , từ chỗ chỉ có một DN đến nay đã có 25 DNBH
§ Thị trường BH VN họat động ngày càng sôi động, nhộn nhịp vớI tốc độ tăng trưởng khá cao: kể từ năm 1994 đến nay tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 23% năm,doanh thu phí BH gốc năm 2002 đạt 7685 tỷ đồng tăng gấp 10,3 lần so vớI năm 1994, từ năm 1995 đến 2002 doanh thu BH phi nhân thọ tăng gấp 6 lần, nhân thọ từ 1 tỷ đồng năm 1996 đã tăng gấp vài ngàn lần.
§ DN BH từ chỗ chỉ có DN độc quyền nhà nước đến nay đã có 25 DN thuộc mọI thành phần kinh tế: DNNN,DN cổ phần, Công ty liên doanh, 100% vốn nuớc ngóài, đạI lý BH….
§ Sản phẩm BH ngày càng được đa dang hóa: thể hiện qua thị phần doanh thu phí BH và năng lực tài chính, khốI lượng khách hàngvà chất lượng phục vụ ngày càng tăng. Trước năm 1994 Bảo Việt chỉ cung cấp 20 sản phẩm, đến nay các DN BH đã khai thác tất cả 3 nhóm sản phẩm: BH tài sản, BH trách nhịêm và BH con ngườI vớI hơn 90 loạI sản phẩm khác nhau.
Tuy nhiên thị trường BH VN vẫn còn một số hạn chế như:
§ Một số lĩnh vực tiềm năng chưa được khai thác như: Nông nghiệp chỉ mớI đạt 0,08% diện tích đất trồng và 0,1% vật nuôi, BH đánh bắt thủy sản 5-8%, nuôi trồng thủy sản 1%, BH hành khách 39%, BH kỹ thuật 6-7% nguồn vốn đầu tư trong nước,BH tai nạn con ngườI,HSSV chỉ đạt khỏang 12-15%….
§ Cầu nốI giữa khách hàng và DN BH còn hạn chế, thiếu thông tin minh bạch,sự tư vấn, môi giớI chưa phổ biến….
§ Năng lực nhận tái BH và phần giữ lạI chưa cao, hiệu quả còn thấp.
§ Môi trường cạnh tranh còn chưa lành mạnh: hạ phí, tăng hoa hồng, lôi kéo đạI lý…;chưa bình đẳng gĩưa các DNBH về thuế , cơ chế tài chính
§ Hệ thống luật lệ còn thiếu, chưa đồng bộ, cơ chế giám sát vẫn chưa hình thành, trình độ quản lý còn yếu.
§ Mức độ đáp ứng nhu cầu BH của nền KT-XH đốI vớI từng loạI hình BH còn hạn chế, một số lĩnh vực có nhu cầu cao nhưng chưa được tri63n khai hoặc chỉ đạt tỉ lệ khai thác thấp như: BH thất nghiệp, y yế tự nguyện, rủI ro mùa màng,trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, tư vấn, BH huư trí cho khu vực ngoài kinh tế nhà nước…
2. Dự báo thị trường BH VN
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định 7%năm, dân số đông, thu nhập bình quân đầu ngườI ngày càng tăng, việc ổn định đồng tiền cùng vớI hệ thống pháp luật ngày càng được hòan thiện, đồng bộ hơn là môi trường thuận lợI để:
§ Thị trường BH VN sẽ tiếp tục phát triển nhanh và hiệu quả vớI đầy đủ các yếu tố của thị trường nhằm đa dạng hóa các loạI hình nghiệp vụ BH có chất lượng góp phần đảm bảo an tòan thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
§ Số lượng DN BH sẽ tiếp tục tăng thêm thích hợp vớI thờI gian và điều kiện của tình hình thị trường.
§ Trong xu hướng hộI nhập kinh tế, Hiệp định thương mai Việt- Mỹ đã được ký kết, VN tiến tớI gia nhập WTO thì vịec mở cửa thị trường BH VN là một tất yếu; các DNBH VN sẽ vừa hợp tác vớI nhau , sẽ vứa đốI mặtb vớI cạnh tranh gay gắt.
3.Một số giảI pháp cho thị trường BH VN trong tình hình mớI
Để cạnh tranh và phát triển trong hộI nhập, các DNBH VN cần quan tâm đến một số giảI pháp:
v Trước hết DNBH VN cần hòan thiện mình, quan tâm cảI thiện năng suất, hiệu quả làm tốt công tác chuyên môn cũng như quảng bá thương hiệu ra công chúng, cung cấp dịch vụ nổI trộI, kinh doanh có hiệu quả hơn
§ Xây dựng chiến lược đấu tư phù hợp
§ Nâng cao tính chyên nghiệp trong đầu tư
§ Hiện đạI hóa công nghệ
§ Kiện tòan hệ thống phục vụ khách hàng , huấn luyện nâng cao tính chuyên nghiệp của hệ thống đạI lý BH, đẩy mạnh tuyên truyền tư vấn cho ngườI dân hiểu rõ về lợI ích của BH…
v ĐốI mặt vớI cạnh tranh từ bên ngoài các DNBH cần:
§ Liên kết hợp nhất giữa các nhà BH vớI nhau ,ở Malaisia 56 công ty hợp nhất thành 10-15 công ty BH để đẩy mạnh tập trung hóa, có sức cạnh tranh trong hôi nhập
§ Liên kết vớI các tập đòan tài chính khác như Ngân Hàng, các TCTD có mạng lướI rộng khắp
§ Tập trung quản lý và phát triển nguồn nhân lực
§ Sử dụng tốI đa, có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
§ Ngay từ bay giờ phảI chiếm lĩnh được thị trường trong nước, phảI đi sâu vào khách hàng bằng các mạng lướI cung cấp sản phẩm đến từng khách hàng nhất là khách hàng có tiềm năng, ngoài những tập đòan công ty lớn thì là số đông ngườI dân, DN vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó Nhà Nước cần tạo cơ chế, môi trường pháp lý phù hợp, cạnh tranh bình đẳng, đồng thờI giám sát chặt chẽ giúp cho DNBH hoạt động và phát triển ổn định, nâng cao năng kinh doanh của DNBH để đưa thị trường BH VN ngày càng phát triển.

Nguyễn Thị Ngọc Tuyết
STT:42
Lớp NH 2- K 27

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  02:40:39  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Tính cho tới nay, Việt Nam có đến 25 công ty hoạt động trong ngành Bảo hiểm với nhiều lĩnh vực: nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giới…và hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau như Nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài…Và kể từ sau nghị định100CP ra đời ngày 18/12/1993 xóa độc quyền nhà nước về bảo hiểm thì thị trường bảo hiểm của Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng.
Bài viết này xin đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm của Việt Nam.
A. ĐÁNH GIÁ:
Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng tăng trưởng cả về số lượng lẫn chất lượng. Cụ thể là năm 1994 thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có mặt của 3 công ty: Bảo Việt, Bảo Minh, Pjico+ Bảo Long với thị phần lần lượt là 83.07%, 15.4%, 1.53% thì đến cuối năm 2003 thị trường bảo hiểm Việt Nam đã hội tụ gần 20 công ty bảo hiểm và hầu như công ty nào cũng chiếm được một thị phần nhất định: Bảo Việt 50.9%, Bảo Minh 25.1%, PJICO 6.4%, PTI 4%, PVIC 5%, Bảo Long 1.4%, Allianz- AGF 2%...Sỡ dĩ các công ty trên càng ngày càng lớn mạnh do nhiều nguyên nhân. Xin lấy ví dụ của Bảo Minh CMG, khi tách ra từ tổng công ty bảo hiểm Việt Nam_Bảo Việt, Bảo Minh đã tận dụng uy tín có sẵn và nghiệp vụ có sẵn để phục vụ khách hàng do đó thị phần của Bảo Minh không ngùng tăng trưởng. Ngòai ra, những công ty mới ra đời cũng có thị phần khá lớn và ổn định như PTI, PJICO, PVIC…bởi đây là những công ty bảo hiểm chuyên ngành, tận dụng chuyên ngành của mình để thu hút khách hàng.
Bên cạnh việc gia tăng thị phần, các công ty bảo hiểm cũng không ngừng gia tăng số lượng đại lý, các kênh phân phối sản phẩm và đặc biệt là chủng loại sản phẩm. Nếu như năm 2001 Bảo Việt chỉ có 700 đại lý với doanh thu phí bảo hiểm là 20 tỷ đồng thì đến năm 2002 dã có 1400 đại lý họat động đem lại 50 tỷ đồng doanh thu và năm 2003 đã có 2400 đại lý đem lại 130 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm. Cùng với Bảo Việt, tính đến 30/6/2004 Bảo Long có 06 chi nhánh, 09 văn phòng bảo hiểm và nhiều Tổng đại lý trên toàn quốc, hoàn thành việc tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng tính đến ngày 19/5/2004.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại ở những công ty bảo hiểm của Việt Nam . Số lượng đại lý của các công ty nhiều nhưng chất lượng hoạt động thì các công ty vẫn không thể nào kiểm soát được nguyên nhân chủ yếu là do các đại lý này phần lớn mang tính chất không chuyên nghiệp, bán thời gian. Các công ty bảo hiểm chưa có sự đa dạng hóa về chủng loại sản phẩm mà chỉ tập trung vào những sản phẩm chuyên ngành, những sản phẩm mang tính thế mạnh của mình.
B. DỰ BÁO:
· Việt Nam là một nước đang phát triển, đang trên đường hội nhập quốc tế đó thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ có cơ hội phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, các công ty bảo hiểm sẽ tăng trưởng mạnh và bền vững. Có sự xuất hiện ngày càng nhiều của các công ty bảo hiểm của nước ngoài.
· Tiềm năng lao động của nước ta vô cùng dồi dào bởi nước ta có dân số đông và cơ cấu dân số đa dạng. Nếu các công ty nắm bảo hiểm biết phân phối sản phẩm của mình thích hợp với từng độ tuổi thì thị phần cũng như doanh thu bảo hiểm sẽ không ngừng tăng mạnh.
· Và chính vì Việt Nam là một nước đang phát triển nên trong tương lai sẽ có một nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tạo dược công ăn việc làm cho người lao động dẫn đến GDP tăng nhanh. Từ đó tỷ trọng dành cho bảo hiểm từ GDP cũng tăng, chứ không còn chiếm2.3% như hiện nay.
Sinh viên: NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
Lớp: NH1 – K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  02:42:31  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam

Ngành bảo hiểm Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu kể từ năm 1965 khi Công ty Bảo hiểm Việt Nam ra đời ( Bảo Việt). Nhưng thị trường bảo hiểm thì sôi động từ sau năm 1993 khi Nghị định 100/NĐ – CP của chính Phủ về kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam và Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 9/12/2000.Nếu như trước năm 1993 chỉ có 1 công ty Bảo Việt thì đến nay đã có 18 công ty bảo hiển, 5 công ty môi giới và 1 công ty tái bảo hiểm với nhiều hình thức sở hữu khác nhau: sở hữu Nhà nước, Công ty liên doanh, Công ty cổ phần, Công ty 100% vốn nước ngoài. Qua đó cho thấy được nhành bảo hiểm Việt Nam phát triển rất nhanh trong những năm gần đây.
Tuy ngành bảo hiểm chỉ mới phát triển trong những năm gần đây nhưng đã đóng góp vào nền kinh tế rất lớn. Kể từ năm 1994 đến năm 2002 tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm đạt 23%, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường tăng từ 741 tỷ đồng (năm 1994) lên 7.685 tỷ đồng (năm 2002) tăng gấp 10,3 lần so với năm 1994 và chiếm tỷ trọng 1,3% GDP.
Đến năm 2003 với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,24%, xuất khẩu tăng 28%, nhập khẩu tăng 22%, đầu tư nước ngoài đã phục hồi và đạt mức tăng trưởng 30%, vốn đầu tư trong nước cũng tăng nhanh đã góp phàn tích cực vào việc phát triển thị trường bảo hiểm và tổng phí bảo hiểm chiếm 1,7% GDP cả nước.
Từ sự tăng trưởng của ngành bảo hiểm Việt Nam đã đóng vai trò tích cực đến việc ổn định nền kinh tế xã hội và đời sống người dân, việc giải quyết bồi thường tốt giúp các doanh nghiệp và người dân ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, tạo môi trường đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thị trường bảo hiểm thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều yếu kém tồn tại:
Công nghệ lạc hậu, năng lực đầu tư yếu: mặc dù đến năm 2003 tổng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm lên tới 6.700 tỷ đồng nhưng tỷ trọng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng chiếm tỷ lệ rất ít chỉ dưới 20%, hình thức đầu ưt còn hạn chế và chưa đa dạng chủ yếu là mua trái phiếu 32%, gửi tín dụng 51%.
Mức độ đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế xã hội đối với từng loại hình bảo hiểm còn hạn chế, môt số lĩnh vực có nhu cầu bảo hiểm cao nhưng chưa được triển khai hoặc chỉ đạt tỵ lệ khai thác thấp như: bảo hiểm hưu trí cho khu vực ngoài kinh tế Nhà nước, bảo hiểm thất nghiệp, rủi ro mùa màng…
Đôc quyền bảo hiểm cạnh tranh không lành mạnh : các công ty bảo hiểm độc quyền ( bảo hiểm chuyên ngành) chỉ quan tâm đến lôi ích của ngành mình nê không quan tâm đến việc nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh đễ nâng cao chát lương sản phẩm, chất lượng dịch vụ và mở rộng phục vụ đến đông đảo khách hàng; môi trường cạnh tranh không lành mạnh như: hạ phí, tăng hoa hồng lôi kéo đại lý…
Đội ng các đại lý bảo hiểm tuy có sự phát triển nhanh cóng ( trước năm 1996 chưa có đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp nhưng đến năm 2003 đã lên tới 70.000 đại lý) tuy nhiên chưa được đào tạo tốt.
Theo đánh giá của các nhà chuyên gia thì nguyên nhân sự tăng trưởng nhanh của ngàng bảo hiểm là do nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển tốt: vốn đầu tư na7m 2002 tăng 12,4% so với năm 2001, kim ngạch xuất khẩu tăng 10%, kim ngạch nhập khẩu tăng gần 20% , đầu tư nước ngoài tuy có giảm về vốn nhưng số lượng dự án tăng hơn 34%. nền kinh tế Việt Nam đã và đang trên đà phát triển với nhịp độ cao và ổn định, dự kiến mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm là 7,5%/năm sẽ tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh và số lượng doanh nghiệp bảo hiểm cũng sẽ tăng thêm thích hợp. các doanh nghiệp bảo hiển Việt Nam với nhiều ưu thế đã có như: Hệ thống mạng lười phân phối, cọ sở vật chất phát triển khắp toàn quốc và đã có hình ảnh đối với khách hàng trong và ngoài nước, là cơ sở quan trọng đễ các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Danh tiếng, hình ảnh, uy tín của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã được các thế hệ người lao động qua nhiều năm hoạt động tạo dựng trên thương trường, là tài sản vô hình quý giá. Gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển bền vững, an toàn của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt là những mối quan hệ không dễ gì có được giữa các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam vối những khách hàng truyền thống. Đó là những gì mà các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã có đễ tiếp tục hkẳng định vị thế và sức mạnh cạnh tranh của mình trong môi trường kinh doanh mới.
Hiện nay, có một số lĩnh vực tiềm năng của ngành bảo hiểm chưa được khai thác tốt như: Bảo hiểm nông nghiệp mới đạt 0,08% diện tích cây trồng và 0,1% vật nuôi; bảo hiểm đánh bắt htủy sản đạt từ 5%-8% và nuôi trồng thuỷ sản 1%; bảo hiểm tai nạn con người, tai nạn học sinh sinh viên chỉ đạt khỏng 12%-15%; bảo hiểm hành khách chỉ đạt có 39%; bảo hiểm xe cơ giới chỉ đạt 30%-40% với ô tô và 10% với xe gắn máy. Trong năm 2003 khi có Nghị định 15CP về phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp không mua bạo hiểm bắt buộc với xe cơ giớn nhưng số chủ xe mua bảo hiểm cũng chỉ tăng tử 30%-40%. Còn bảo hiểm nhân thọ tuy đã phát triển nhanh và tăng trưởng mạnh hơn dự kiến của nhà xây dựng chiến lược nhưng cũng chỉ đạ có 2% dân số. Nước ta có dân số đông và ngành nông nghiệp, nuôi trồng là ngành chủ yếu của đất nước nên khai thác tốt các ngành bảo hiểm nói trên se góp phần cho ngành bào hiểm Việt Nam phát triển nhanh, mạnh hon nữa.
Hiện nay, bảo hiển tiền gửi là loại hình bảo hiểm bắt buộc nhưng bảo hiểm tiền gửi chỉ mới bảo hiển tiền đồng còn ngoại tệ và vàbg vẫn chưa được bảo hiểm mặc dù lượng ngoại tệ và vàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu huy động của các tổ chức tín dụng. Hoạt động của các tổ chức tín dụng vá của ngành bảo hiểm đang trên đà phát triển nên việc bảo hiểm ngoại tệ và tiền gửi ký quỹ của các cá nhân đễ nhập khẩu hàng hoá, ký quỹ của các du học sinh nước ngoài sẽ được triển khai trong tương lai.
Trong tương lai nếu có sự kết hợp giữa tổ chức tín dụng với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì hai tổ chức kinh tế này hoà toàn hỗ trợ nhau phát triển lĩnh vực kinh doanh của mình và phục vụ khách hàng tốt hơn. Về lâu dài, các ngân hàng thương mại lớn có thể góp vốn với các doanh nghiệp bảo hiểm đễ thành lập công ty cổ phần bảo hiểm nhân thọ đễ khai thác tiềm năng mỗi bên đem lại lợi ích cho khách àhng của chính mình. Hiện nay, các quốc gia có ngành bảo hiểm phát triển đều thực hiện “ Bán bảo hiểm qua ngân hàng” và doanh số chiếm tỷ trọng lớn trong các kênh phân phối (ở Anh 12%; Đức 23%; Pháp 60%; Ý 70%; Tây Ban Nha 72%; ở Châu Á một số quốc gia chiếm khoảng 5% - 10%). Ngành bảo hiểm Việt Nam trong tương lai sẽ liên kết với các ngân hàng đễ triển khai chiến lược “ Bán bảo hiểm qua ngân hàng “ .
VÕ THỊ THANH TÂM
LỚP NH3 KHÓA 27

TAM
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  12:42:34  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Sinh viên :Nguyễn Mạnh Hùng
Lớp Ngân Hàng 2-khối 1-K27
Trường Đại Học Kinh tế

Để đánh giá và dự báo dúng thị trường bảo hiểm Việt Nam ,trước hết ta cần tiềm hiểu sơ lược về lịch sử bảo hiểm Việt Nam
Lịch sử bảo hiểm Việt Nam: có 3 thời kỳ trước năm 1954, từ 1954-1975, từ 1975 đến nay
*Trước năm 1954:
Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 , Bảo hiểm thương mại xuất hiê.n ở Việt Nam .Tuy nhiên thư.c chất đó la`đại lý của các hảng bảo hiểm nước ngoài ,có những luật lệ những quy định về bảo hiểm gần như là áp dụng của Pháp
*Từ năm 1954-1975 đất nước bị chia cắt, Miền Bắc đi lên Chủ nghĩa xã hội,ngày 17/12/1964 Hội đồng Chính Phủ ra quyết định thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Bảo Việt ra đời vào ngày 15/1/1965.Bảo Việt tiến hành các nghiệp vụ bảo hiểm về hàng hải:Bảo hiểm hàng hoá và bảo hiểm xuất nhập khẩu
Miền Nam: nền kinh tế thị trường phát triển. Bảo hiểm thương mại tương đối phát triển.
+Năm 1972, Sài Gòn có khoảng 54 công ty bảo hiểm trong và ngoài nước.
+Năm 1965, chính quyền Sài Gòn đưa ra một sắc luật 15/65 giống luật của Pháp nhưng có chỉnh sửa để phù hợp với tình hình Việt Nam.
+Trước năm 1975 đã có công ty bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hoả hoạn.
*Từ 1975 đến nay:
-1975 đến 1993:
+1975 ở Sài Gòn có 54 công ty quốc hữu hoá
+1976: BAVINA trở thành Bảo Việt của TPHCM
+1988: Bảo Việt nâng cấp lên thành tổng công ty, đây là bước phát triển của Bảo Việt
+12/1992, Bộ tài chính giao vốn cho Bảo Việt. Nghị định ĐQNN ra đời, Bảo hiềm là công cụ nằm trong tay chính phủ để diều khiển nến kinh tế
+18/12/1993: nghị định 100CP ra đời xoá bỏ độc quyền nhà nước, mở ra 1 giai đoạn mới
+11/1994 công ty Bảo Minh ra đời
+12/2000 luật kinh doanh bảo hiểm được quốc hội thông qua, bắt đầu hiệu lực 1/4/2001
+8/2003 chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2010 được Chính Phủ thông qua
*Tình hình thị trường Bảo hiểm Việt Nam từ 1994 đến nay:
Doanh nghiệp Bảo hiểm có 25 công ty, số lượng công ty tăng nhanh
-lĩnh vực kinh doanh: gồm Bảo hiểm gốc, tái Bảo hiểm, môi giớI bảo hiểm, đại lý Bảo hiềm
-Thành phần kinh tế: Nhà nước từ độc quyền nhà nước, sau khi xoá bỏ độc quyền nhà nước thì nhiều doanh nghiệp nhà nước, sau đó có sự tham gia các công ty cổ phần, rồI đến liên doanh và cuối cùng là 100% vốn nước ngoài, tư nhân
*Đánh giá và dự báo thị trường Bảo hiểm Việt Nam:
Dư.a vào lịch sử bảo hiểm Việt Nam vùa nêu ở trên thì ta thấy bảo hiểm xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 va` sau vài năm dã thành lâ.p được công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) ra đời và chính thức đi vào hoạt động.Bảo Việt ra đời đánh dấu bước khởi đầu chặng đường phát triển của Bảo hiểm Việt Nam. Va` từ năm 1975 đến 1993 là giai đoạn độc quyền Nhà nước, Bảo Việt chiếm lĩnh thị trường Bảo hiểm Việt Nam. Năm 1994, chi nhánh Bảo Việt tại Tp Hồ Chí Minh tách ra thành lập công ty Bảo hiểm Tp Hồ Chí Minh, gọi tắt là Bảo Minh, tiếp sau đó là hàng loạt các công ty Bảo hiểm khác ra đời dưới những hình thức khác nhau đã phá vỡ thế độc quyền của Bảo Việt hay nói cách khác: thế độc quyền của Nhà nước đã bị lung lay. Sự ra đời của Bảo Minh và hàng loạt các công ty khác đã mở ra giai đoạn mới cho Bảo hiểm Việt Nam: giai đoạn tự do hoá dịch vụ Bảo hiểm.Tuy có sự xuất hiện của Bảo Minh và một số công ty khác nhưng Bảo Việt vẫn còn nắm giữ thị phần rất lớn 83,07%. Nhưng điều này cũng cho chúng ta thấy đã có sự chia xẻ thị phần của Bảo Việt cho các công ty khác. Bảo Minh tuy mới ra đời nhưng thị phần năm 1995 đã chiếm 15,4%. PJICO, Bảo Long nắm giữ 1,53% còn lại. Điều này thể hiện bảo hiểm Việt Nam đang càng ngày phát triển
Và qua các năm tiếp theo, với sự xuất hiện hàng loạt các công ty BH, thị phần của Bảo Việt không ngừng giảm sút. Từ chỗ nắm giữ 100% thị phần như trước đây thì đến năm 2000 Bảo Việt chỉ còn 50,9% thị phần. Kể từ đây “đòn cân thị phần” đã trở nên ngang ngửa giữa một bên là Bảo Việt ,một bên là các công ty còn lại. Các công ty như Bảo Minh, PJICO, Bảo Long, PTI…tuy mới thành lập nhưng đã có thị phần khá lớn và ổn định.
Thị phần bị chia xẻ từ Bảo Việt cho các công ty khác là minh chứng cụ thể cho xu hướng tự do hoá dịch vụ bảo hiểm. Ngoài ra, nếu như trước đây chỉ có loại hình bảo hiểm Nhà nước độc quyền thì qua thời gian đã xuất hiện thêm nhiều loại hình doanh nghiệp bảo hiểm khác như cổ phần, liên doanh hay 100% vốn nước ngoài…Các doanh nghiệp này ngày càng lớn mạnh và đủ tiềm lực tài chính để cạnh tranh cùng các doanh nghiệp Nhà nước.
Sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại hình bảo hiểm làm cho hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam trở nên nhộn nhịp và đa dạng.Hiện nay Việt Nam có 25 công ty hoạt động trong ngành bảo hiểm, với nhiều lĩnh vực: nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giới…và dưới nhiều hình thức khác nhau: nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài.
Về bảo hiểm nhân thọ, có sự tăng trưởng mạnh và cạnh tranh mạnh mẽ giũa các doanh nghiệp. Về thị phần, Bảo Việt chiếm khoảng 40,8%, Prudential chiếm 38,5%, AIA 5,8%, BM-CMG 2,3%. Số lượng đại lý bảo hiểm nhân thọ năm 2003 là 94447 đại lý, tăng 26,04% so với năm 2002. Cụ thể Bảo Việt có 25461 đại lý, tăng 29,85% so với năm trước, Prudential có khoảng 38000 đại lý, chỉ tăng 4,2% so với năm trước, nổi trội nhất là AIA, có 15502 đại lý, đã tăng 70,32% so với năm 2002. Như vậy ta thấy, thị trường bảo hiểm Việt Nam trong 10 năm qua đã có những bước phát triển nhảy vọt cả về lượng và về chất.
Về lượng: từ 3 công ty bảo hiểm nhà nước (năm 1994) đã lên đến 25 công ty và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thuộc các hình thức sở hữu nhà nước, liên doanh,cổ phần, 100% vốn nước ngoài.
Về chất: thông qua các lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm ta thấy chất lượng cũng như sản phẩm dịch vụ của các công ty bảo hiểm ngày càng cao, đáp ứng hầu hết nhu cầu của khách hàng.
Nói tóm lại, trong 10 năm phát triển ta thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đang từng bước chuyển biến từ độc quyền nhà nước sang tự do hoá doanh nghiệp bảo hiểm,ngoài ra ta cũng thấy có sự tham gia của các tổ chức tài chính đặc biệt là ngân hàng vào lĩnh vực bảo hiểm. Điều này làm cho loại hình doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng đa dạng và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Đây chính là động lực để cho thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển và tạo được nền tảng vững chắc cho hội nhập cũng như quá trình toàn cầu hoá.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển nhanh trong thời gian qua, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề chưa giải quyết tốt, như là phát triển không đồng đều trong các lĩnh vực, ngành nghề. Có nhiều hình thức bảo hiểm rất cần thiết cho cuộc sống người dân như là bảo hiểm xe cơ giới ,bảo hiểm nhân thọ…tuy rất cần thiết nhưng mo.i người vẫn không chịu mua bảo hiểm cho bản thân mình vì các công ty bảo hiểm chưa cho họ thấy dược những lợi ích mà họ có dược từ những dịch vụ này mang lại,chính những diều này dã cản trở 1 phần nào bước phát triển của bảo hiểm Việt Nam ,và khi tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì nó khai thác triệt để tiềm năng Bảo hiểm của thị trường Việt Nam, tạo lợi thế cho ngành Bảo hiểm,bên cạnh dó nó cũng đem lại nhiều tác hại là các công ty Bảo hiểm chuyên ngành tạo ra sự độc quyền ngành, làm xáo động thị trường.
Dự báo
Qua những phân tích ở trên ta dã thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua đã phát triển nhanh,tuy còn chưa phù hợp với tiềm năng hiện có của Việt Nam.Nhưng theo em nghĩ thì trong tương lai thị trường bảo hiểm nước ta sẽ phát triển mạnh hơn nữa do xu hướng hội nhập quốc tế,mở của giao lưu rộng rãi với tất cả các nước mà dặt biệt là các nước có ngành bảo hiểm phát triển mạnh mẽ .Điều này có nghĩa là trong tương lai cùng với sự hội nhập kinh tế của đất nước, thị trường bảo hiểm ở nươc ta cũng sẽ co cơ hội phát triển thông qua sự mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Để làm dược diều dó thì nhà nước ta cần tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường, sẽ dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng lớn hơn,do đó các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cần nhanh chóng sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo hướng chuyên môn hóa, tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính,dể ngày càng phát triển mạnh mẽ,bên cạnh dó thì nhà nước còn phải chú trọng phát triển nền kinh tế ,các lĩnh vực cũng như các ngành nghề vì ngành bảo hiểm không thể phát triển một cách độc lập mà còn phụ thuộc vào nền kinh tế Việt Nam, các ngành và lĩnh vực khác. Tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển với tốc độ ngày càng cao, mọi thành phần kinh tế, lĩnh vực kinh tế sẽ cùng phát triển. Hiện nay kênh phân phối qua hệ thống ngân hàng cũng được các công ty bảo hiểm nhân thọ khai thác và mang lại hiệu quả không nhỏ, điển hình là đã có công ty liên doanh bảo hiểm Việt- Úc giữa Ngân hàng BIDV và tập đoàn QB của Úc, Công ty bảo hiểm Bảo Ngân giữa ngân hàng Incombank và công ty bảo hiểm Á Châu của Singapore, Ngân hàng VCB đã trở thành đại lý phân phối chính thức của Prudential và thực hiện thanh toán phí bảo hiểm thông qua hệ thống thẻ tự động ATM.T óm lại trong những năm tới thì bảo hiểm Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  15:04:40  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Họat động kinh doanh bảo hiểm đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia. Trong hơn 10 năm qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao về nhiều mặt. Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng nhanh từ 4938 tỷ đồng năm 2001 lên 7685 tỷ đồng năm 2002. Tỷ trọng doanh thu dịch vụ bảo hiểm trong GDP cũng tăng nhanh từ 0.37% (1993) lên 1.3% (2002), 2.3%(2003). Có thể nói, năm 2003 là năm có nhiều biến động trong nước cũng như nước ngoài như khủng bố, dịch SARS nhưng thị trường bảo hiểm việt nam vẫn phát triển với tốc độ cao.
Trên thị trường việt nam hiện nay có 25 công ty bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau: nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, tư nhân ..gồm 18 doanh nghiệp gốc, 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 6 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Cấu trúc vốn của các công ty trên thị trường bảo hiểm thay đổi dần theo hướng xóa độc quyền nhà nước, tiến đến tự do hóa dịch vụ bảo hiểm Năm 2004 sẽ là năm mà ngành bảo hiểm Việt Nam phải đối đầu với nhiều thử thách. Việc mở cửa hơn nữa thị trường bảo hiểm Việt Nam đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào thị trường tức sự cạnh tranh sẽ càng lớn. Đặc biệt việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2005 cũng mở ra những thuận lợi và thách thức mới cho thị trường bảo hiểm trong nước. Trong thời gian tới, Nhà nước sẽ không can thiệp hành chính vào hoạt động bảo hiểm của các doanh nghiệp dược nhà nước giao vốn, đồng thời bộ tài chính cũng đang nghiên cứu thiết kế ra đời một số sản phẩm mới như loại hình bảo hiểm tương hỗ.Tiếp đến Nhà nước gia tăng sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường không tạo đặc quyền cho các doanh nghiệp như trước đây. Tất cả các công ty bảo hiểm đều có quyền khai thác dịch vụ ngang nhau dựa vào hiệu quả phục vụ, chất lượng hoạt động và uy tín đối với khách hàng. Bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm vẫn còn tồn tại kiểu cạnh tranh không lành mạnh, với các trường hợp này Bộ tài chính sẽ có nhiều biện pháp xử lý để khắc phục. Để có thể tự do hoá bảo hiểm, vấn đề mấu chốt đối với các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là nhanh chóng tổ chức và sắp xếp lại các hoạt động kinh doanh theo hướng chuyên môn hoá nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính dưới nhiều hình thức, đa dạng hoá các cơ cấu sở hữu, các thành phần kinh tế tham gia vào ngành bảo hiểm. Bởi vì, Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng: dân số trẻ, tốc độ gia tăng dân số nhanh, tỉ lệ tai nạn giao thông cao, tình hình kinh tế, chính trị , xã hội ổn định. Đặc biệt trong xu thế hòa nhập kinh tế quốc tế thì tự do hóa bảo hiểm là xu thế tất yếu để mở rộng thị trường bảo hiểm ra các nước khác nhằm tận dụng triệt để các cơ hội và phát huy tối đa tiềm năng của ngành bảo hiểm quốc gia. Do đó, mục tiêu đặt ra đến năm 2010 là phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam toàn diện, an toàn, lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế, dân cư và tiến đến phát triển thị trường bảo hiểm ra nước ngoài. Như vậy, chúng ta có thể nhìn nhận rằng Việt Nam là thị trường có nhiều tiềm năng để phát triển ngành bảo hiểm. Tuy nhiên, có tận dụng được nguồn tiềm năng đó hay không ….cũng như làm thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong tiến trình tự do hoá bảo hiểm lại là một vấn đề nan giải đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay .

Đặng Trúc Chi
Lớp NH3K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  15:57:41  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐỀ BÀI : ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Bảo hiểm phát triển từ rất sớm trên thế giới, hiện nay đây là một thị trường không những phát triển rất mạnh về chất và lượng mà còn đóng vai trò không thể thiếu đối với cuộc sống mỗi con người, mỗi lĩnh vực kinh doanh, …..nói chung bảo hiểm có mặt để giảm sự rủi ro, sự tổn thất:gồm các loạibảo hiểm :bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm y tế…….
Ở Việt Nam ,bảo hiểm chỉ xuất hiện trước năm 1945, nhằm đảm bảo cho các công chức Pháp. Đến17/12/1964 thành lập cty bảo hiểm Việt Nam. 1972 ở Miền Nam có 54 cty bảo hiểm trong và ngoài nước.
Sau 1975 cùng với sự phát triển của nền kinh tế từ nến kinh tế bao cấp trở thành nền kinh tế thị trường, nền kinh tế phát triển theo hình thức nhiều thành phần với các loại hình sở hữu khác nhau, vì thế đã kéo nhiều nhiều lĩnh khác cùng phát triển trong đó có bảo hiểm.Trong giai đoạn (1972-1992) được gọi là giai đoạn độc quyền nhà nước, trong năm 1994 xoá bỏ độc quyền nhà nước .12/2000 luật bảo hiểm được quốc hội thông qua.
Đến đây ta có thể nói bảo hiểm Việt Nam đang dần được mở rộng ra và sẽ được phát triển với các hình thức sỡ hữu và lĩnh vực kinh doanh phong phú và đa dạng, từ đó sẽ thúc đẩy nền kinh tế càng phát triển.
Từ 1994-nay, sau khi xoá bỏ độc quyền nhà nước, cùng với đất nước ngày càng mở cửa, bảo hiểm cũng đang phát triển với các hình thức sỡ hữu :nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100%vốn của nước ngoài, và các loại hình kinh doanh:nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm.
Hiện nay, số lượng cty bảo hiểm là 25, trong đó mỗi cty phát triển phong phú về các loại thị phần:bảo hiểm tài sản& thiệt hại, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, bào hiểm hàng không, bào hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm nông nghịêp …Bảo hiểm ngày nay không những phát triển về số lượng mà chất lượng cũng được nâng cao:trong năm 2003 số lượng đại lý bảo hiểm :94447. Biểu hiện cụ thể cho việc gia tăng này:(%)
Tên cty
bảo hiểm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2003
bảo Việt 83.07 69.06 63.15 59.71 56.86 50.9 45.9 41.68
Bảo Minh 15.04 20.28 21.33 23.10 24.52 25.10 23.77 23.52
PJICO 1.53 4.08 5.94 5.76 5.78 6.4 5.759 9.27
PVIC 4.96 6.69 6.89 4.8 5 12.89 13.82
Bảo Long 1.49 1.78 1.38 1.52 1.4 1.66 1.42
VIA 0.13 1.11 1.18 1.69 2.4 1.505 1.58
UIC 1.69 1.94 2.4 2.48 2.23
PTI 0.29 2.8 4 3.808 4.01
Việt-Úc 0.09 0.4 0.533 0.43
Allianz 2 2.31
Grouppama 0.05
Bảo Ngân IAI 0.06
SamSung Vina 0.2

Qua bảng số liệu trên ta thấy bảo hiểm Việt Nam tăng nhanh vể mặt số lượng, thu hút được vốn nhàn rỗi trong dân cư tạo ra một thị trường sôi động trong quá trình phát triển của nền kinh tế, chính điều này cũng góp phần giúp Việt Nam đang dần đứng vững trên thị trường toàn cầu hoá .Thị trường bảo hiềm phát triển như vậy là do quá trình tự do hoá dịch vụ bảo hiểm, ví dụ như cty bảo hiểm Bảo Việt với hình thức sỡ hữu của nhà nước, được thành lập từ rất sớm, cho tới hiên nay nguồn vốn đang giảm, có nhiều người hỏi đây là tốt hay xấu, là điều đáng buồn của bảo hiểm Việt Nam? Nhưng thực tế đây cũng chưa hẳn là điều đáng buồn bởi trong cơ chế thị trường như hiện nay với nhiều dịch vụ phát triển, nhiều loại hình kinh doanh, các loại hinh này ngày cang phong phú và đa dạng : bảo hiểm thương mại, bảo hiểm tai nạn và con người ….vì vậy thị phần của các cty dần thay đổi, các công ty cạnh tranh rất mạnh.
Mặt khác, chúng ta cũng phải nói tới nhu cầu ngày càng cao của xã hội, khi xã hội càng phát triển luôn có những rủi ro không thể lường trước được, và mọi người luôn phải đối mặt với những rủi ro đó, cùng với nó là những tổn thất về con người và vật chất :trong tai nạn, trong kinh doanh, như vụ hoả hoạn AIA, điển hình là bệnh cúm gà gây ra rất nhiều tổn thất mà mỗi chúng ta phải thật sự kinh hoàng, người dân sẽ như thế nào nếu bệnh cúm gà vẫn còn tràn lan mà không có sự bồi thường cho những tổn thất đó.
Đồng thời chúng ta cũng có thể dự báo rằng ngành bảo hiềm có tiềm năng phát triển rất mạnh với xu hướng ngày càng tăng như hiện nay. Ví Việt Nam chúng ta có dân số đông điều này đã thu hút được một số lượng vốn rất lớn, cũng dựa vào lợi thế này mà ngành bảo hiểm sẽ có tiêm năng rất lớn, có khả năng mở rộng được các loại hình bảo hiểm. Bên cạnh đó là kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển vào (2004) GDP: 7.5%, khả năng chi trả tăng bởi thu nhập của người dân tăng từ đó khả năng chi trả bảo hiểm ngày càng tăng. Hiện nay , Việt Nam cũng đang trong xu thế hội nhập quốc tế, thu hút các nguồn vốn từ các doanh nghiệp từ bênngoài,nhưAIA(Mỹ),Allianz(Pháp)….góp phần làm phong phú thêm cho ngành bảo hiểm Việt Nam.
Ngành bảo hiểm ở nước ta hiện nay không chỉ được đầu tư bởi các nhà kinh doanh bảo hiểm mà bảo hiểm còn được mở rộng vào các ngân hàng như: công ty IAI giữa ngân hàng công thương và cty TNHH bảo hiểm Châu Á, đây là hình thức kinh doanh ngày phát triển bởi ngân hàng là một định chế trung gian tạo ra lợi thế kinh doanh trong ngành bảo hiểm, người dân có niềm tin hơn vào loại hinh kinh doanh do cty này đưa ra
Tóm lại, mặc dù ngành bảo hiểm Việt Nam còn rất nhiều những khó khăn trên con đường phát triển của mình bởi nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong và ngoài nước làm ảnh hưởng đến nền kinh tế:lạm phát, chỉ số giá, thu nhập ….nhưng bảo hiểm cũng đóng vai trò quan trọng trong xu thế hội nhập nền kinh tế như hiện nay. Trong một thời gian không xa bảo hiểm sẽ có sự vượt bậc về chất lượng lẫn số lượng .
NGUYỄN LÊ ANH THƯ
NH3-K27

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  17:13:56  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
TÌNH HÌNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

I. ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG 10 NĂM QUA

Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 ra đời và đặc biệt là luật Bảo hiểm ra đời đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Nếu trước năm 1993, chúng ta chỉ có Bảo Việt thì đến nay đã có khoảng 25 công ty với các hình thức sở hữu khác nhau: sở hữu nhà nước, liên doanh, cổ phần, 100% vốn cổ phần. Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm cũng đa dạng: bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm.

TÊN DOANH NGHIỆP NĂM CẤP GIẤY PHÉP HÌNH THỨC SỞ HỮU LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG
Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) 1964 Nhà nước Nhân thọPhi nhân thọ
Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare) 1994 Nhà nước Tái bảo hiểm
Công ty bảo hiểm TP.HCM (Bảo Minh) 1994 Nhà nước Phi nhân thọ
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) 1995 Cổ phần Phi nhân thọ
Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) 1995 Cổ phần Phi nhân thọ
Công ty bảo hiểm dầu khí (PVIC) 1996 Nhà nước Phi nhân thọ
Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam(VIA) 1996 Liên doanh Phi nhân thọ
Công ty môi giới bảo hiểm INCHIBROK 1993 Liên doanh Môi giới bảo hiểm
Công ty bảo hiểm liên hiệp (UIC) 1997 Liên doanh Phi nhân thọ
Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI) 1998 Cổ phần Phi nhân thọ
Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Chinfon-Manulife 1999 100% vốn nước ngoài Nhân thọ
Công ty TNHH bảo hiểm Allianz/AGF (Việt Nam) 1999 100% vốn nước ngoàu Phi nhân thọ
Công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc 1999 Liên doanh Phi nhân thọ
Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG 1999 Llliên doanh Nhân thọ
Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential UK 1999 100% vốn nước ngoài Nhân thọ
Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIA) 2000 100% vốn nước ngoài Nhân thọ
Công ty TNHH bảo hiểm tổng hớp GROUPAMA Việt Nam 2001 100% vố nước ngoài Phi nhân thọ
CTCP môi giới bảo hiểm Việt Quốc 2001 Cổ phần Môi giới bảo hiểm
SAMSUNG VINA 2002 Liên doanh Phi nhân thọ
IAI 2002 Liên doanh Phi nhân thọ
Công ty môi giới bảo hiểm Gras Sovoye Việt Nam - - -
Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông Cổ phần -
Công ty cổ phần môi giới Bảo hiểm Á Đông - Cổ phần Môi giới bảo hiểm
Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt - Cổ phần Môi giới bảo hiểm

Tuy bảo hiểm chỉ mới phát triển gần đây nhưng đã đóng góp rất lớn vào nền kinh tế. Doanh thu bảo hiểm toàn thị trường tăng từ 741 tỉ đồng vào năm 1994 lên 7685 tỉ đồng vào năm 2002 và chiếm tỉ trọng 1,3% GDP. Tốc độ tăng doanh thu trung bình trong giai đoạn 1994-2002 hơn 23%. Số tiền bồi thường năm 2002 là 1200 tỉ gấp 2,8 lần so với 1994. Số tiền nộp ngân sách Nhà nước tăng từ hơn 181 tỉ vào năm 1994 lên 300 tỉ năm 2002. Lực lượng lao động ngành bảo hiểm tăng, năm 2002 số đại lý là trên 70000 tạo công ăn việc làm cho người lao động.

II. DỰ BÁO BẢO HIỂM VIỆT NAM :

Ø Ngành bảo hiểm ở Việt Nam là một ngành tiềm năng vì:
· Việt Nam có dân số đông: 1991 dân số Việt Nam chỉ có 67,5 triệu người nhưng đến nay dân số Việt Nam đã hơn 80 triệu người. Dân số đông là một thị trường hứa hẹn cho ngành BH.
· Khả năng tăng trưởng của kinh tế VN: theo dự báo của World Bank năm 2004 tỷ lệ tăng trưởng kinh tế VN khoảng 7,5%. Và khi VN mở rộng quan hệ với các nước, nền kinh tế VN sẽ có những bước phát triển hơn nữa. Lúc đó BH sẽ có nhiều cơ hội phát triển hơn.
· Chính sách ổn định tiền tệ cũng góp phần tạo ra sự ổn định của BH. Hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện tạo tâm lý ổn định và sự tin tưởng của khách hàng đối với BH.

Ø Ngành BH VN phát triển theo xu hướng hộp nhập quốc tế:
Nước ta mở cửa hội nhập thị trường thế giới sẽ tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức với ngành BH. Khi hoạt động thương mại giữa ta và các nước được tăng cường thì nhu cầu BH tăng lên. Mặt khác, các công ty BH VN chưa đủ sức cạnh tranh với các công ty BH thế giới (hầu hết các công ty có vốn điều kệ dưới 70 tỷ). Xu hướng sắp tới các công ty cần tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh một khi mở cửa thị trường tiền tệ.

SVTH: CAO THỊ THU LAN – NH3/K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  17:14:16  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
 ĐÁNH GIÁ:
 Thị trường bảo hiểm Việt Nam tăng nhanh:
 Số công ty hoạt kinh doanh bảo hiểm tăng dần qua các năm, từ năm 1988 đến 2002 là từ 1 đến 20 công ty. Hiện nay là 25 công ty.
 Tổng doanh thu bảo hiểm tăng qua các năm như sau:
1991 207 1997 1352
1992 307 1998 1867
1993 471 1999 2077
1994 741 2000 3048
1995 1026 2001 4933
1996 1288 2002 7685
Phí bảo hiểm tăng (tỷ VNĐ):
NAM PNT NT
1997 1341 11
1998 1664 203
1999 1593 484
2000 1789 1250
2001 2158 2775
2002 3070 4615
Như vậy, thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng trở nên sôi động vớI sự tham gia của các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước. NgườI dân Việt Nam từ chổ xa lạ vớI bảo hiểm cũng ngày càng quen dần vớI khái niệm bảo hiểm và đã bắt đầu tìm mua các dịch vụ bảo hiểm.
Theo số liệu trên, ta thấy bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng tăng nhanh hơn bảo hiểm nhân thọ, có thể do các nguyên nhân sau:
1. Những năm gần đây nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng khá cao, nên đã kéo theo sự tăng trưởng của các loạI hình bảo hiểm liên quan đến kỷ thuật, hàng hoá, nhà cửa, xe, tàu…
2. Do giá phí bảo hiểm trên thị trường thế giớI tăng cao sau sự kiện ngày 11/9.
3. Nhà nước ban hành qui định về việc xử phạt các chủ xe không có giấy chứng nhân bảo hiểm trách nhiệm xe cơ giới.
 Có sự thay đổI cấu trúc vốn: thị trường bảo hiểm phi nhân thọ của các công ty, doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng rất cao. Chiếm 68,47%, còn các công ty bảo hiểm thuộc nhóm các cong ty cổ phần, liên doanh, nước ngoài chiếm 31,53%. Con số 31,53% là một cảnh báo cho sự cạnh tranh, sự lớn dần lên theo thờI gian của nhóm này.
Kết luận: thị trường bảo hiểm nước ta gần đây phát triển rất sôi động và đa dạng theo nhịp độ phát triển của kinh tế.
 DƯ ĐOÁN:
 Việt Nam có dân số đông, mà bảo hiểm là ngành dựa vào số đông, như vậy tiềm năng để bảo hiểm phát triển mạnh hơn vẫn còn.
 Theo xu hướng kinh tế Việt Nam, kinh tế đã không ngừng phát triển trong những năm qua. Tốc độ tăng GDP rất khả quan:( % )
1999 (4,8%)
2000 (6,7%)
2001 (6,8%)
2002 (7%)
VớI nhịp độ kinh tế trên, khả quan về bảo hiểm sẽ tăng cao.
 Kinh tế Việt Nam đang từng bước phát triển và phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá, bảo hiểm sẽ là thị trường tiềm năng và hoàn toàn khả thi đốI vớI một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Và vớI đà phát triển này, thị phần bảo hiểm trong tương laisẽ thay đổi. Các công ty bảo hiểm thuộc nhóm liên doanh, cổ phần và nước ngoài sẽ phát triển nhanh và sẳn sàng cạnh tranh vớI các công ty bảo hiểm nhà nước. Như vậy, tương lai một phần lớn GDP của Việt nam sẽ rơi vào tay các công ty này. Các công ty bảo hiểm nhà nước sẽ đứng trước nguy cơ mất thị phần nếu không có phương hướng khắc phục để phát triển tốt hơn.

CAO THỊ KIM NGÂN – LỚP NH 1 – K 27




ngan
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  18:05:49  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đánh giá và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Các dịch vụ về bảo hiểm đã xuất hiện rất sớm ở VN, nhưng mãi cho đến những năm gần đây mới phát triển. Sự phát triển của bảo hiểm vẫn chưa cao, trong một số năm thị trường bảo hiểm gần như bảo hòa. Nguyên nhân chính là do các chiến dịch quảng cáo, quảng bá thương hiệu bị giảm sút…
Thị trường bảo hiểm VN mặc dù có tiềm năng nhưng vẫn còn tiềm ẩn chưa được khai thác tốt. Sản phẩm còn nghèo nàn chưa đa dang, chất lượng các dịch vụ còn yếu kém, chưa được phổ biến rộng rãi. Chưa quảng bá về vùng nông thôn nhiều, những người dân cày trình độ kém có nhu cầu mua bảo hiểm nhưng không biết mua ở đâu nơi nào đáng tin cậy. Bên cạnh đó trên thị trường có một số người đã lợi dụng tên tuổi của các công ty bảo hiểm để lừa dối khách hàng làm cho mọi người nghi ngờ không còn lòng tin đối với bảo hiểm.
Mặc dù thị trường bảo hiểm VN phát triển mạnh từ 0,3% GDP năm 1995 lên đến 1,8% GDP năm 2003 nhưng bên cạnh mặt tích cực và những thành quả này, hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém, tồn tại mà nếu không sớm khắc phục thì sẽ khó phát triển, khó cạnh tranh khi hội nhập thị trường khu vực và quốc tế.
VN sẽ mở cửa thị trường bảo hiểm, các công ty bảo hiểm trong nước sẽ phải đối đầu với sự cạnh tranh hết sức gay gắt trên tất cả các mặt.
Chính phủ còn quản lý quá chặt chẽ thị trường bảo hiểm nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh nhưng có thể đây là nguyên nhân đã kiềm hãm sự phát triển của thị trường bảo hiểm.
Hiện tại 85% thị phần bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu đang rơi vào tay các công ty nước ngoài, còn trong nước chỉ có 7 công ty duy trì hoạt động về lĩnh vực này. Các công ty nước ngoài có vốn lớn, giải quyết vấn đề nhanh chóng, có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cao hơn.
Mặc dù được đánh giá là phát triển khá nhanh nhưng nếu đem cạnh tranh với nước ngoài thì thị trường bảo hiểm VN bị rung chuyển, không thể đứng vững. Tâm lý của người dân VN thì chuộng đồ ngoại hơn mà nước ngoài xâm nhập vào thị trường VN mở công ty 100% vốn nước ngoài thì thị trường VN thật đáng lo sợ. Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ thì thế cạnh tranh vẫn nghiêng về các công ty nước ngoài, vì các công ty này có công nghệ tốt và nó đã đầu tư vào việc tung ra các dịch vụ hấp dẫn khách hàng.
Do vậy khi mở cửa, hội nhập thì thị trường bảo hiểm VN vẫn phải giữ được lợi thế cạnh tranh và ổn định ngành.
Mặt khác sự bất ổn của nền kinh tế, vật giá leo thang làm cho đồng tiền VN ngày càng bị mất giá làm ảnh hưởng lớn thị trường bảo hiểm VN, mà bảo hiểm không phát triển một mình riêng lẻ, giá trị của bảo hiểm tăng khi các ngành khác phát triển. Cuộc sống của người dân thì ngày càng tồn hóa từ đó cho ta thấy bảo hiểm đang trong tình thế khó khăn.
Tóm lại thị trường bảo hiểm của VN vẫn còn đang ở dạng tiềm năng chưa khai thác được và còn bị cạnh tranh quá nhiều .

SV: Huỳnh Ngọc Tuyền
Lớp: NH3
Lên đầu trang

n/a
deleted

4 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  18:17:39  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Họ tên: Đào Thị Minh Phượng
Lớp: NH1-K27
Đề tài: Đánh giá và dự báo tình hình Bảo hiểm Việt Nam.
----------------------------------------
Hoạt động bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, là công cụ rất quan trọng để tạo môi trường đầu tư. Thị trừơng BHVN cần được xem xét trên hai khía cạnh:
1. Thị trường BHVN nói chung
2. Các doanh nghiệp BHVN
I.NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI:
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam hứa hẹn nhiều triển vọng, hàng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1,5 tỷ $. chưa kể đến các hoạt động đầu tư ồ ạt trong nước, với những đô thị mới, khu chế xuất và khu công nghiệp không ngừng được hình thành, thì cơ hội cho bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, hàng không, vận tải xăng dầu...phát triển. Mặt khác, sự phát triển các hoạt động kinh tế, xã hội và quá trình hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện phát sinh và phát triển các nhu cầu bảo hiểm. Các lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng, thương mại, đầu tư quốc tế, viễn thông đều là những lĩnh vực rất tiềm năng cho dịch vụ bảo hiểm trong tương lai.
II.THỊ TRƯỜNG BHVN NÓI CHUNG:
Thị trường BHVN nói chung hiện nay khá sội động, các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài đã nhìn thấy rõ môi trường tiềm năng ở Việt Nam. Cho đến nay, đã có 5 công ty Bảo hiểm 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, trong đó có 3 công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
Theo dự báo của các chuyên gia trong ngành bảo hiểm thì từ nay cho đến 2010, số doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục tăng theo xu thế tăng trưởng của ngành. Bên cạnh đó, Việt Nam 13 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 4 công ty bảo hiểm nhân thọ, 5 công ty môi giới, 1 công ty tái bảo hiểm và khoảng 40 văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam cũng đang tích cực cạnh tranh nhằm giữ vị thế của mình.

III.DOANH NGHIỆP BHVN
1.Những tiến bộ nhất định:
Từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất 100% vốn Nhà nước là Bảo Việt, đến nay ngành bảo hiểm đã có đủ các loại hình doanh nghiệp và đa dạng về hình thức sở hữu, nguồn vốn, tổng quĩ dự phòng về nghiệp vụ và sản phẩm dịch vụ bảo hiểm ngày càng đa dạng phong phú. Hiện mức tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm Việt Nam 23-25% trong đó 16-18% /năm với bảo hiểm phi nhân thọ và khoảng 35-40% với bảo hiểm nhân thọ- được đánh giá là khá cao.
Bên cạnh đó, từ Hội nghị lần thứ 5 nay đã có những bước tiến trong lĩnh vực hợp tác tài chính nói chung và bảo hiểm giữa Việt Nam với các nước trong khu vực đến tham gia. Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp lý cho phát triển thị trường bảo hiểm phù hợp với các chuẩn mực của ASEAN, tham gia vào chương trình đào tạo bảo hiểm ASEAN, tham gia vào việc triển khai chương trình bảo hiểm xe cơ giới trong ASEAN. Đặc biệt, liên doanh bảo hiểm giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam và Công ty bảo hiêm ASIA của Singapore đã được thành lập. Đây là những tín hiệu đáng mừng, thể hiện sự hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm giữa Vi ệt Nam với các nước trong khu vực.
2.Những cản trở trong phát triển của doanh nghiệp BHVN:
Phạm vi hoạt động của các DNBHVN mới diễn ra chủ yếu ở trong nước, công nghệ quản lý, kinh nghiệm quản lý và năng lực cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ còn thiếu và yếu. Hoạt động nghiên cứu thị trường và sử dụng các công cụ Marketing chưa đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động kinh doanh, còn nhiều bất cập và thường là đi sau các đối thủ là các công ty bảo hiểm nước ngoài. Khả năng tài chính của các DNBHVN khi so sánh với các tập đoàn bảo hiểm của nước ngoài thì vẫn còn quá nhỏ bé.
Khả năng cạnh tranh và tính chuyên nghiệp trong kinh doanh bảo hiểm của các DNBHVN chưa cao. Các DNBHVN còn thua kém doanh nghiệp nước ngoài về khả năng, tính chuyên nghiệp, kỹ thuật và tài chính. Nguồn nhân lực chưa được đào tạo chuyên sâu, đặc biệt trong lĩnh vực actuary, đầu tư và các chuyên gia cao cấp trong các lĩnh vực quản lý nghiệp vụ. Hiện cả ngành bảo hiểm Việt Nam đang thu hút được hơn 8.000 cán bộ và trên 80.000 đại lý chuyên nghiệp, nhưng số được đào tạo cử nhân đúng chuyên ngành bảo hiểm mới chỉ chiếm 10% trong khi yêu cầu đặt ra cho các DNBHVN khi tham gia hội nhập phải có trình độ kỹ năng cao và có tính chuyên nghiệp. Một số lĩnh vực mới triển khai còn thiếu nhiều kinh nghiệm như đầu tư, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm chi phí y tế, bảo hiểm cho các nhu cầu, hạng mục đặc biệt. Hệ thống marketing quốc tế chưa phát triển, hệ thống mạng lưới nội địa chưa được củng cố vững chắc, cơ sở khách hàng chưa ổn định. Hệ thống thông tin, tin học chưa đồng bộ; thông tin về các sản phẩm bảo hiểm rất khó đến được với khách hàng; phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm cũng là vấn đề đặt ra cần phải giải quyết thì mới có khả năng đứng vững được trên thương trường. Hệ thống quản lý còn cồng kềnh, kém hiệu lực, tính linh hoạt không cao, nhiều đầu mối, khó tinh giản. Quan hệ dọc, ngang phức tạp, điều hành gặp nhiều khó khăn, sự giám sát, kiểm soát bị hạn chế; đầu tư bị phân tán, thiếu tập trung, dẫn đến sự lãng phí hoặc không có hiệu quả và chi phí quản lý cao.
Sự bảo hộ của Nhà nước trong một thời gian dài đã đề lại những hậu quả chưa thể thay đổi ngay được như: tư duy, nhận thức đến phong cách ứng xử, thói quen kinh doanh theo cơ chế cũ của một số bộ phận, một số cán bộ nhân viên vẫn còn, dẫn đến sự trì trệ, bảo thủ, máy móc, ỷ lại trong hành động; số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động không phù hợp; cơ chế quản lý cứng nhắc, quan liêu thời bao cấp vẫn còn rơi rớt lại.
Đối với bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm còn ít chủng loại, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, tính linh hoạt của sản phẩm chưa cao, sức hút của các sản phẩm đối với khách hàng còn hạn chế.

3.Những giải pháp:
oĐứng trước những cơ hội mới, đòi hỏi các tổ chức Bảo hiểm nhà nước cùng các cơ quan hữu quan phải có giải pháp thiết thực:
oTriệt để áp dụng những tiến bộ của mạng lưới thông tin liên lạc, công nghệ thong tin nhằm cung cấp tư vấn và thông tin cho khách hàng, đồng thời với quảng cáo tạo hình ảnh tốt đẹp của BHVN trong con mắt người dân Việt nam và thế giới.
oTinh giản bộ máy làm việc, đào tạo chuyên môn kĩ thuật cho nhân viên.
oGiáo dục tác phong làm việc đúng giờ giấc, linh hoạt, loại bỏ thói quen kinh doanh theo cơ chế cũ có ở một số bộ phận, cá nhân trong công ty BH.

oNâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc năng động hoá và mở rộng mạng lưới đại lý,
oNâng cao chất lượng dịch vụ
oGiáo dục ý thức đối với mọi tầng lớp nhân dân về tầm quan trọng của Bảo hiểm.
oXây dựng các giải pháp đầu tư hợp lý, tránh lãng phí trong sử dụng đồng vốn của doanh nghiệp.
Chất lượng cuộc sống là vấn đề quan trọng nhất, một khi đã có cuộc sống ổn định, con người có xu hướng quan tâm đến sức khỏe, tuổi thọ và thu nhập trong tương lai. Ở Việt Nam, dân số tuy đông nhưng lượng dân cư có mức sống đủ tốt để tích góp cho tương lai bằng bảo hiểm không nhiều, phần lớn dân cư tham gia BHXH thông qua hoạt động của doanh nghiệp, sinh viên học sinh mua sản phẩm BHYT, BHTN của Bảo hiểm Bảo Minh qua sự vận động của nhà trường mà không có nhiều sự chọn lựa. Bên cạnh đó, tôi cho rằng sự rườm rà trong thủ tục thanh toán giữa Các tổ chức bảo hiểm nhà nước và bệnh viện, phòng y tế trường học còn rườm rà nhiều yếu kém dẫn đến sự phân biệt đối xử, tạo cái nhình không tốt đối với Bảo hiểm trong khi thật sự nó rất cần thiết cho cá nhân mỗi con người.
%%%
Lên đầu trang

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 08/10/2004 :  20:09:16  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
CHỦ ĐỀ: Nhận định và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam

Theo thống kê chung, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm chỉ chiếm 1.6% tổng GDP của Việt Nam. So với mức 5-6% của các nước trong khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khá giống với ta và nhất là so với các nước phát triển trên thế giới thì rõ ràng thị trường bảo hiểm Việt Nam còn khá trống trải. Mặt khác tốc độ tăng trưởng 24%/năm của bảo hiển nhân thọ và 16.5%/năm của bảo hiểm phi nhân thọ là những bằng chứng rất thuyết phục về sự hấp dãn của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Thế nhưng, nhìn vào thực trạng thị trường bảo hiểm của ta hiện nay, trong tổng số 14 công ty bảo hiểm phi nhân thọ và 5 công ty bảo hiểm nhân thọ đang hoạt động, chỉ có 3 công ty bảo hiểm tư nhân của Việt Nam, mà công ty đầu tiên (công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông) cũng chỉ mới ra đời ngày 17/02/2004, trong khi “người Việt Nam hiện có đủ sức và đủ vốn để thành lập những công ty của riêng mình” (trích lời ông Nguyễn Tiến - tổng giám đốc Viễn Đông), “chúng ta đã bỏ phí một thị trường bảo hiểm màu mỡ ngay dưới chân mình” (Vietnam Net).
Người ta hi vọng rằng, cùng với luật kinh doanh bảo hiểm, chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm với nhiều cơ chế mở mới được thủ tướng chính phủ thông qua gần đây sẽ mở đường cho sự ra đời của nhiều công ty bảo hiểm tư nhân Việt Nam trong một tương lai gần, tạo kênh huy động vốn nội địa cho quốc gia và góp phần vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
Mặt khác, trong thời gian qua, các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ trên thị trường Việt Nam đã đẩy mạnh việc xúc tiến một kênh phân phối sản phẩm tương đối mới ở Việt Nam, đó là việc bán bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng. Các công ty bảo hiểm hàng đầu như Bảo Việt, Prudential, AIA, đã kết hợp với 1 số ngân hàng như Vietcombank, Incombank, ACB, HSBC để bán các sản phẩm của mình cho các khách hàng đến giao dịch tại các ngân hàng. ở châu Âu, việc bán bảo hiểm qua ngân hàng đã xuất hiện từ đầu thập niên 70 và rất phát triển trong thời gian qua, đến nay 60% phí bảo hiển nhân thọ và hưu trí thu được là thông qua ngân hàng, đó là nhờ vào mối quan hệ rất tốt của ngân hàng với người dân, những qui định luật pháp chặt chẽ, vai trò của công đoàn..sự kết hợp giữa bảo hiểm với ngân hàng tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho cả hai. ở Việt Nam nói riêng cũng như ở Đông Nam á nói chung, việc phát triển dịch vụ bán bảo hiểm thông qua ngân hàng còn chậm, song tiềm năng được đánh giá là rất lớn bởi các ngân hàng có số lượng khách hàng đông đảo, thị trường bảo hiểm lại đang phát triển nhanh. Bởi vậy, xu hướng kết hợp giữa bảo hiểm với ngân hàng trong thời gian qua ở Việt Nam có thể nói là đã đi rất đúng hướng trong việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, khai thác thị trường còn nhiều trống trải. Dự báo trong những năm sắp tới, cùng với sự ra đời của nhiều công ty bảo hiểm tư nhân, các dịch vụ bán bảo hiểm thông qua ngân hàng trên thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng sẽ phát triển rất mạnh.


Ngô Thị Thuỳ Trang
Lớp: NH3K27


Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  02:23:16  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đề tài thảo luận trên diễn đàn: “Đánh giá và dự báo tình hình bảo hiểm Việt Nam”.
Đầu tiên em xin đánh giá chung về tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua.
Nhận định về thị trường Việt Nam, Việt Nam là một thị trường rộng lớn với khoảng trên 80 tr dân và là một quốc gia có dân số trẻ, kinh tế đang trên đà phát triển, chính trị lại ổn định từ đặc điểm này đã tạo cho Việt Nam có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó hiện nay các không chỉ có các công ty bảo hiểm trong nước hoạt động mà các công ty nước ngoài cũng đang lấn sân vào thị trường bảo hiểm Việt Nam. Nếu như trước năm 1993 chúng ta chỉ có một công ty bảo hiểm thì tính đến năm 2004 đã có tới 25 công ty đã đang hoạt động với nhiều hình thức khác nhau từ doanh nghiệp nhà nước, cổ phần, liên doanh đến những công ty có vốn 100% nước ngoài. Với sự có mặt đầy đủ các loại hình bảo hiểm như nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm,…,…
Về thị phần, thì nhìn chung trong thời gian qua có những thay đổi như sau:
J Bảo Việt giảm thị phần rõ rệt nhất, từ ban đầu là 83,07% (năm 1995) đến nay là 41,68% (năm 2003).
J Bảo Minh đang tăng thị phần lên dần và hiện nay là 23,52% (năm 2003).
J BVIC từ lúc mới ra chiếm 4,96% đến nay tăng lên 13,82%.
J PJICO tăng lên hiện nay là 9,27%.
J Còn lại thị phần chia nhỏ cho các công ty khác như PTI, VIA, ALLIANZ, Bảo Long,Việt_Úc,…
Qua tình hình trên ta nhận thấy được :
Thứ nhất, với ngày càng nhiều công ty tham gia hoạt động trên thị trường thị thị phần ngày càng bị chia nhỏ nhiều hơn. Điều này tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty bảo hiểm, việc cạnh tranh này diễn ra với nhiều hình thức khác nhau từ các sản phẩm bảo hiểm tung ra thị trường đến sự thuận lợi cho người tham gia hay cạnh tranh về mức phí bảo hiểm ,….,nhưng cuối cùng người dược hưởng quyền lợi cao nhật chính là người sử dụng các sản phẩm bảo hiểm.
Thứ hai,các công ty bảo hiểm chuyên ngành ngày một gia tăng thị phần của mình.
Thứ ba, thị phần của Bảo Việt giảm mạnh trong vòng 10 năm qua, điều này đã xoá bỏ sự độc quyền bảo hiểm trong thời gian trước đây, từ đó tạo thế cạnh tranh lạnh mạnh, bình đẳng giữa các công ty với nhau.
Nhận định về tăng trưởng, trong 10 nãm qua thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP. Tổng doanh thu phí toàn thị trường tăng bình quân 29%/năm.Trong những năm gần đây, doanh thu phí bảo hiểm tăng nhanh: năm 2001 là 4.843 tỷ đồng; năm 2002 là 6.992 tỳ đồng, tăng 44%.Cơ cấu tỳ trọng doanh thu dịch vụ bảo hiểm cũng tăng nhanh từ 0.37%/GDP năm 1993 lên 1.3%/GDP năm 2002.Tổng số tiền bảo hiểm các doanh nghiệp bảo hiểm đã giải quyết bồi thường trong 10 năm qua là 7.600 tỷ đồng.
Trong năm 2003, ngành bảo hiểm Việt Nam tiếp tục có bước phát triển ổn định và vững chắc với tổng doanh thu phí toàn thị trường ước đạt khoảng trên 10.040 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2002. Trong đó phí bảo hiểm phi nhân thọ khoảng 3.999 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2002 và doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khoảng 6.500 tỳ đồng, tăng gần 41% so với năm 2002. Các doanh nghiệp bảo hiểm đã củng cố các nghiệp vụ mới, nâng cao chất lượng phục vụ, sự hợp tác giữ các doanh nghiệp với nhau đã được cải thiện.
Đánh giá trong thời gian qua, thị trường bảo hiểm đã có những bước ngoặc lớn, thay đổi từ thị phần đế sự đa dạng trong các loại hình bảo hiểm hay các sản phẩm bảo hiểm hiện nay,.. làm tăng thêm quy mô hoạt động cuả ngành. Đồng thời trong những năm qua, mặt dù với nền kinh tế ngày càng phát triển với tốc độ nhanh nhưng những rủi ro bất trắc xảy ra hằng ngày vẫn không thể nào lường trước được, con người ngày càng nhận ra những mất mát có thể xảy ra cho chính mình và gia đình, cũng chính từ đó có một cái nhìn lạc quan hơn về bảo hiểm so với trước đây. Người dân Việt Nam đã và đang quen dần với bảo hiểm, ngày càng có nhiều người tham gia bảo hiểm, do đó doanh thu phí bảo hiểm ngày một tăng.
Vậy chúng ta sẽ dự báo một tương lai như thế nào?
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập WTO vào năm 2005, ngành bảo hiểm nằm trong những điều kiện quyết định Việt Nam có được gia nhập hay không, do vậy lộ trình mở của thị trường bảo hiểm, phá bỏ độc quyền bảo hiểm cuả các công ty nhà nước và tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm có một thế đứng vững chắc trên thị trường hiện nay,… đó là những vấn đề tiên quyết.
Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các ngành nghề ngày càng được đa dạng hoá, cuộc sống trở nên khá giả hơn. Nhưng đi kèm với những điều đó là rủi ro xảy ra ngày càng nhiều, chẳng hạn như bệnh tật, tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp,…; trong vấn đề sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ thì càng không thể lường trước được vì ai cũng mong muốn đạt lợi nhuận thật cao, nhưng lợi nhuận càng cao rủi ro càng lớn. Do vậy sẽ có thêm nhiều sản phẩm bảo hiểm cung cấp cho thị trường trong tương lai.
Tóm l ại, bảo hiểm Việt Nam sẽ không ngừng lớn mạnh và phát triển hơn. Trong vài năm tới sẽ xuất hiện thêm một số các công ty bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam. Bảo hiểm phi nhân thọ sẽ có tốc độ phát triển nhanh hơn bảo hiểm nhân thọ cùng với xu thế hội nhập hiện nay. Doanh thu phí sẽ tiếp tục tăng, do ngày càng nhiều người tham gia. Dự báo đến năm 2010, hầu hết tất các cá nhân hay doanh nghiệp trong các thành phố đang phát triển ở Việt Nam đều tham gia bảo hiểm.


SV làm bài :Hoàng Ngọc Mai Khanh
Lớp :NH3_K27


khanh
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  02:31:45  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[blue][size=6][size=3]DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
TRONG TƯƠNG LAI [/size=3][/size=6][/blue]
Như chúng ta đã biết trong những năm gần đây, sau khi nền kinh tế Việt Nam chính thức mở cửa ra thế giới thì tình hình phát triển nền kinh tế Việt Nam diễn ra rất khả quan. Đi cùng với sự phát triển đó là sự tăng trưởng và phát triển của ngành Kinh Doanh Bảo Hiểm ( KDBH) trong những năm gần đây. Thực sự thì ngành này còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam và đó chính là một ngành kinh tế đầy tiềm năng chưa được khai thác hết. Chính vì lẽ đó mà trong đại hội đảng gần đây rất quan tâm đến sự phát triển của ngành này trong hiện tại và tương lai.
Như đã nói trên, ngành KDBH là một ngành kinh tế tương đối mới mẻ và đầy tiềm năng ở Việt Nam. Bên cạnh đó thì có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành KDBH tại Việt Nam. Do đó, thị trường BH tại ở Việt Nam sẽ phát triển rất khả quan trong tương lai gần đây. Tại sao chúng ta lại khẳng định như vậy? Có vài cơ sở để khẳng định cho lời nói trên:
• Thứ nhất, nhân tố đầu tiên mà tôi muốn đề cập đến là dân số Việt Nam. Như ta đã biết, Việt Nam là một nước có số dân đông cơ cấu dân số trẻ, tỷ lệ gia tăng dân số hiện nay tuy đã giảm so với các năm trước nhưng vẫn ở mức tương đối cao so với các nước trên thế giới. Đó chính là điều kiện đầu tiên để phát triển ngành BH với các loại hình BH cụ thể là : BH nhân thọ, BH an sinh giáo dục, BH y tế … và các loại hình BH khác. Bên cạnh đó, tỷ lệ người tham gia vào thị trường BH hiện nay còn khiêm tốn so với quy mô dân số của chúng ta hiện nay, do đó thị trường này vẫn còn khả năng để khai thác thêm đối với các doanh nghiệp kinh doanh BH ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để khai thác một cách triệt để thị trường còn đầy tiềm năn này.
• Nhân tố thứ hai góp phần vào sự tăng trưởng nhanh ngành KDBH là tốc độ tăng trưởng nền kinh tế của Việt Nam trong vài năm gần đây ( gần bằng 7%/ năm ). Việt Nam là một nước đang phát triển, theo dự báo thì trong vài năm tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam sẽ duy trì ổn định ở mức độ tương đối cao (7%/ năm). Với mức độ tăng trưởng này thì tương lai rất khả quan cho sự phát triển KDBH. Ta đã biết với đặc thù của ngành KDBH là phụ thuộc vào sự phát triển của các ngành khác như: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải ….và các ngành khác. Nhưng trong tương lai gần thì các ngành này có sự tăng trưởng rất đáng kể nhất là trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn dần dần ngày càng hoàn thiện chính mình. Vì lẽ đó mà các doanh nghiệp KDBH tại Việt Nam đứng trước một cơ hội lớn để hoàn thiện mình và vươn ra ngoài khu vực. Bên cạnh các loại hình BH truyền thống của mình thì các doanh nghiệp cần phát triển thêm nhiều loại hình BH khác có tính thực tế thu hút thêm nhiều đối tượng tham gia hơn.
Thêm vào đó khi nền kinh tế có sự phát triển tốt thì nó sẽ kéo theo nhiều sự thay đổi rất khả quan khác- điển hình là đời sống của người dân được nâng cao, nó thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người. Theo thống kê thì năm 1991 GDP bình quân đầu ngươi ở Việt Nam là 122USD/người nhưng con số đó vào năm 2000 là 380USD/người , điều đó chứng tỏ là tỷ lệ tăng từ 1991 đến 2000 là 211,48%- một tốc độ rất nhanh và theo dự đoán thì con số này sẽ tăng lên hơn 400USD/người vào năm 2004 và sẽ tăng cho các năm tiếp theo. Một khi đời sống của người dân được cải thiện và ý thức về sự rủi ro mà họ mắc phải trong tương lai thì nhu cầu bảo hiểm cho chính bản thân họ là điều rất cần thiết. Điều đó lý giải vì sao BH từ chỗ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong GDP ở những năm trước nhưng gần đây là 2,5% và nó sẽ tăng lên cùng với sự ngày càng cải thiện đời sống của người dân và sự nhận thức về chính bản thân họ.
Từ những điều kiện đã nêu trên, các doanh nghiệp KDBH Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để khai thác thị trường đầy tiềm năng nay. Thông qua đó, một câu hỏi lớn được đặt ra cho họ là làm thế nào để khai thác triệt để thị trường đầy tiềm năng này. Câu trả lời này được thể hiện thông qua quá trình hoạt động có hiệu quả hay không của mỗi doanh nghiệp trong tương lai.

Tuy nhiên, một khả năng có thể xảy ra trong tương lai đối với thị trương bảo hiểm Việt Nam là sự cạnh tranh rất khốc liệt giữa những doanh nghiệp BH Việt Nam với những tập đoàn BH nước ngoài. Một khi Việt Nam thực sự mở cửa cho các tập đoàn BH nước ngoài vào và với tiềm lực tài chính hùng hậu của họ có thể sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp BH Việt Nam. Khi họ sang Việt Nam- một thị trường đầy tiềm năng- đối với họ và họ sẽ tận dụng tất cả những gì họ có để chiếm lĩnh toàn bộ thị trường này, có thể thế mạnh của họ là nguồn tài chính dồi dào và đặc biệt là vốn kinh nghiệm phong phú mà họ đã có được trong suốt thời kỳ khai thác triệt để thị trường ở chính quốc và những nước khác trước khi đến Việt Nam. Còn đối với những doanh nghiệp Việt Nam, ngành này còn tương đối mới mẻ, với nguồn tài chính không mạnh và vốn kinh nghiệm ít ỏi thì khi so sánh với các tập đoàn BH nước ngoài thì chênh lệch quá lớn, rõ ràng sự bất lợi sẽ nghiêng về phía các doanh nghiệp Việt Nam. Dù muốn hay không thì đó chính là xu hướng hiện nay. Như ta đã biết, hội nhập thế giới chính là xu hướng hiện nay và ngành KDBH cũng không phải là một ngoại lệ. Khi đó sự cạnh tranh gay gắt là không thể nào tránh khỏi và theo quy luật của thị trường sự đào thải những gì kém hiệu quả sẽ diễn ra là điều tất yếu. Trong cuộc chơi này thì phần ưu thế sẽ nghiêng về các tập đoàn BH nước ngoài nhưng chúng ta cũng có thể hy vọng vào sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc chơi đầy khó khăn này. Để chống chọi với khó khăn này thì các doanh nghiệp BH Việt Nam có nên cổ phần hóa hay sát nhập lại với nhau để giành lấy phần thắng? Câu trả lời sẽ giành cho họ trong suốt cuộc chơi đầy khốc liệt này.

HỌ TÊN : THÁI PHỤNG TIẾN
LỚP : NH1 K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  03:03:12  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail

[size=2]Lịch sử của thị trường bảo hiểm Việt Nam :[/size=2]
Trước 1954, bảo hiểm áp dụng theo những qui định, luật lệ của Pháp. Từ 1954, đất nước bị chia cắt, do đó, thị trường bảo hiểm ít có điều kiện phát triển. Đến 17/12/1964, Công ty Bảo Hiểm Việt Nam thành lập với tên gọi Bảo Việt, chính thức hoạt động 15/1/1965. Bảo Việt có trụ sở chính đặt tại Hà Nội. Từ năm 1964-1993, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có duy nhất Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam hoạt động kinh doanh và đồng thời thực hiện chức năng quản lý Nhà nước. Lúc này, thị trường bảo hiểm Việt Nam chưa thu hút các nhà đầu tư do cơ chế bao cấp, độc quyền.

18/12/1993, nghị định 100/NĐ-CP do chính phủ ban hành ra đời, đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam. Việc xóa bỏ cơ chế độc quyền chuyển sang nền kinh tế thị trường đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Từ đó, thị trường bảo hiểm Việt Nam cứ liên tục phát triển.

Năm 1993, Việt Nam mới chỉ có 1 công ty bảo hiểm là Bảo Việt thì đến năm1994 đã có thêm 2 công ty nữa là Bảo Minh và Vinare thành lập. Số doanh nghiệp bảo hiểm cứ tiếp tục tăng lên qua mỗi năm. Năm 1993 Bảo Việt hoạt động với hình thứclà doanh nghiệp nhà nước thì đến năm1995, đã có 2 công ty cổ phần xuất hiện, đó là Bảo Long và Pjico. Năm 1996, công ty liên doanh bảo hiểm đầu tiên ra đời - Công ty bảo hiểm quốc tế Việt Nam. Đến năm 2004, 25 công ty bảo hiểm chính thức hoạt động ở Việt Nam, với các hình thức khác nhau như: doanh nghiệp nhà nước(Bảo Việt, Vinare, Bảo Minh…), công ty cổ phần(Bảo Long, PIJICO…), công ty liên doanh(VIA, UIC…) và công ty 100% vốn nước ngoài(Prudential, Manulife…), hoạt động trên các lĩnh vực nhân thọ, phi nhân thọ và tái bảo hiểm. Ngoài ra, số lượng đại lý bảo hiểm cũng ngày càng nhiều, hiện nay đã có hơn 100000 đại lý bảo hiểm, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động.

Thị phần của các công ty cũng thay đổi qua từng năm. Năm1993, Bảo Việt chiếm thị phần 100%, qua năm 1994, còn 83.07%, đến 2003 chỉ còn 41.68%, nhường chỗ cho các công ty khác trên thị trường. Bảo Việt đã không còn vị trí độc quyền, nhờ đó, các công ty bảo hiểm khác ra đời, cạnh tranh với nhau, làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng nhộn nhịp hơn. Sản phẩm của ngành kinh doanh bảo hiểm cũng đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của khách hàng. Năm 2003, thị phần của của các công ty bảo hiểm như sau: Bảo Việt 41.68%, Bảo Minh 23.52%, PVIC 13.82%, PJICO 9.27%, PTI 4.01%...... Thị phần của các công ty sẽ còn thay đổi do sẽ có những công ty mới được thành lập và các công ty nước ngoài mở chi nhánh tại Việt Nam. Cũng chính vì lý do đó, các công ty bảo hiểm càng phải cố gắng năng cao chất lượng sản phẩm của mình nếu muốn giữ vững chỗ đứng của mình trên thị trường cạnh tranh hiện nay.

Kể từ 1994 đến nay, tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm đạt 23%/năm, doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2002 đạt 7685 tỷ đồng, tăng gấp 10.3 lần so với doanh thu bảo hiểm 1994.

[size=2][/size=2]Danh sách các công ty Bảo Hiểm có tại Việt Nam:
Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) 1964 Nhà nước Nhân thọPhi nhân thọ
Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare) 1994 Nhà nước Tái bảo hiểm
Công ty bảo hiểm TP.HCM (Bảo Minh) 1994 Nhà nước Phi nhân thọ
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) 1995 Cổ phần Phi nhân thọ
Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) 1995 Cổ phần Phi nhân thọ
Công ty bảo hiểm dầu khí (PVIC) 1996 Nhà nước Phi nhân thọ
Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam(VIA) 1996 Liên doanh Phi nhân thọ
Công ty môi giới bảo hiểm INCHIBROK 1993 Liên doanh Môi giới bảo hiểm
Công ty bảo hiểm liên hiệp (UIC) 1997 Liên doanh Phi nhân thọ
Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI) 1998 Cổ phần Phi nhân thọ
Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Chinfon-Manulife 1999 100% vốn nước ngoài Nhân thọ
Công ty TNHH bảo hiểm Allianz/AGF (Việt Nam) 1999 100% vốn nước ngoàu Phi nhân thọ
Công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc 1999 Liên doanh Phi nhân thọ
Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG 1999 Llliên doanh Nhân thọ
Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential UK 1999 100% vốn nước ngoài Nhân thọ
Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIA) 2000 100% vốn nước ngoài Nhân thọ
Công ty TNHH bảo hiểm tổng hớp GROUPAMA Việt Nam 2001 100% vố nước ngoài Phi nhân thọ
CTCP môi giới bảo hiểm Việt Quốc 2001 Cổ phần Môi giới bảo hiểm
SAMSUNG VINA 2002 Liên doanh Phi nhân thọ
IAI 2002 Liên doanh Phi nhân thọ
Công ty môi giới bảo hiểm Gras Sovoye Việt Nam - - -
Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông Cổ phần -
Công ty cổ phần môi giới Bảo hiểm Á Đông - Cổ phần Môi giới bảo hiểm
Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt - Cổ phần Môi giới bảo hiểm
[size=2][/size=2]Tình hình thị trường Bảo Hiểm Việt Nam:
Năm 2003, Thị trường bảo hiểm Việt Namtăng trưởng 48%
Thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng khả quan trong năm 2003. Tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 10400 tỷ đồngtrong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 6317 tỷ đồng, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ là 4003 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng toàn thị trường đạt 48%, trong đó, tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 53%, của bảo hiểm phi nhân thọ là 40%. Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 12500 tỷ đồng. Tổng số lượng đại lý đã lên tới con số 96 nghìn đại lý bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng 40%.
- Phát triển kinh tế ổn định là nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ. Trong năm 2003, Việt nam tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam ổn định ở mức 7,5% năm, lạm phát ổn định, xuất nhập khẩu tăng trưởng 28% và 22%. Đầu tư nước ngoài đã được phục hồi, tăng trưởng 30%so với năm 2002. Đầu tư từ các nguồn vốn trong nước tăng mạnh. Các nhân tố trên đã tạo điều kiện cho các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đạt tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2003.
- Xét về thị phần bảo hiểm, năm 2003, Bảo Việt là doanh nghiệp lớn nhất với thị phần chiếm khoảng 42%. Bảo Việt đã đạt tốc độ tăng trưởng cao trong bảo hiểm phi nhân thọ, đạt 31%. Một số nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng cao của Bảo Việt là bảo hiểmxe cơ giới, tăng trưởng 57%, bảo hiểm con người, tăng trưởng 21%.
- Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ là 3262 tỷ đồng trong đó Bảo Việt đã chiếmhơn 50% tổng số tiền đầu tư.
- Các doanh nghiệp bảo hiểm đã rất chú trọng phát triển kênh phân phối gián tiếp qua đại lý. Tổng số đại lý phi nhân thọ toàn thị trường là 16200 người. Trong đó số đại lý của Bảo Việt đã chiếm lới 75%. Bảo Việt cũng đã phát huy hiệu quả việc bán hàng chéo của hệ thống đại lý bảo hiểm nhân thọ.

Bảo hiểm nhân thọ:Tăng trưởng cao và cạnh tranh mạnh:
Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 6317 tỷ đồng. Tổng số hợp đồng có hiệu lực lên tới khoảng 3,1 triệu hợp đồng. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt đạt 2652 tỷ đồng, chiếm 40,8% thị phần; Prudential đạt 2435 tỷ đồng, chiếm 38,5% thị phần; Manulife đạt 975 tỷ đồng, chiếm 12,6% thị phần; AIA đạt 368 tỷ đồng, chiếm 5,8% thị phần, Bảo Minh-CMG đạt 139 tỷ, chiếm 2,3% thị phần. Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 9193 tỷ đồng, trong đó Bảo Việt chiếm khoảng 55% tổng số tiền đầu tư
SV thực hiện:NGUYỄN PHƯỚC PHU BẢO NH3-K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  03:21:01  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Trong thời gian qua thị trường bảo hiểm Việt Nam đã trãi qua rất nhiều thăng trầm, bắt đầu hoạt động vào năm 1964 với sự ra đời của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Tuy nhiên thị trường bảo hiểm Việt Nam chính thức hoạt động vào năm 1994 với sự ra đời của các công ty bảo hiểm như: Bảo Minh, VINARE, Bảo Long, PJICO,...
Cho tới nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 25 công ty, trong đó 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giới bảo hiểm và 1 công ty tái bảo hiểm, với sự có mặt của các công ty liên doanh như Công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc , Bảo Minh-CMG,IAI và các công ty 100% vốn nước ngoài như Manulife, Prudential, AIA ...và hơn 76000 đại lý bảo hiểm.
Từ trước năm 1993 hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam dưới hình thức độc quyền nhà nước (công ty Bảo Việt). Đến năm 1994 thế độc quyền nhà nước này bị lung lay bởi sự ra đời của các công ty trên, mở đầu giai đoạn "tự do hoá bảo hiểm".
Trong 10 năm, kể thừ năm 1994 ta đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của Bảo Minh. Ngay từ khi mới ra đời Bảo Minh đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, cụ thể là sau một năm kể từ ngày thành lập, Bảo Minh đã chiếm được 15,4% thị phần, tuy nhiên Bảo Việt vẫn còn nắm giữ thị phần rất lớn 83,07% ( phần còn lại là của PJICO và Bảo Long). Cho tới năm 1999 Bảo Minh đã chiếm tơi 24,52% thị phần, Bảo Việt còn 56,86% và đến năm 2003 Bảo Minh đã chiếm được 23,52% thị phần và Bảo Việt còn lại 41,68% thị phần. Qua đó ta cũng có thể thấy được thị phần của Bảo Minh đã dần dần chia sẻ cho các công ty khác, chứng tỏ sự lớn mạnh của PJICO, PVIC, PTI,...
Như vậy trong mười năm qua thị trường bảo hiểm Việt Nam những bước tiến triển cả về lượng lẫn về chất, thể hiện ở số lượng các công ty bảo hiểm và chất lượng phục vụ. Tuy nhiên thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển. Do nhu cầu về bảo hiểm của người Việt Nam chưa cao (thu nhập con thấp),thế độc quyền nhà nước vẫn chưa thực sự xoá bỏ, thể hiện cơ cấu vốn và các quỹ của các công ty nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ cao(70,9%).

DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
Thông qua những đánh giá trên ta có thể dự báo tình hình bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới như sau:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường bảo hiểm Việt Nam là một thị trường tiềm năng và đang trên đà phát triển, điều này thể hiện việc các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều.
Thế độc quyền nhà nước sẽ bị phá vỡ nhường đường cho các công ty liên doanh và các công ty cổ phần.
Đồng thời cùng với xu hướng hội nhập quốc tế, thị trường bảo hiểm nước ta sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, điều này có nghĩa là cùng với sự hội nhập kinh tế của đất nước, thị trường bảo hiểm ở nước ta cũng sẽ có cơ hội phát triển thông qua sự mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.
Việc mở cửa sẽ mang đến những cơ hội và thách thức mới cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, theo cùng với nó sẽ là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong và các công ty nước ngoài. Điều này dẫn tới chất lượng của dịch vụ bảo hiểm ngày càng cao và ngày càng đáp ứng nhu cầu của nhân dân.

PHAN QUỐC HẢI
LỚP NH1 - K27



Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  05:20:04  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
Đánh giá và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Các dịch vụ về bảo hiểm đã xuất hiện rất sớm ở VN, nhưng mãi cho đến những năm gần đây mới phát triển. Sự phát triển của bảo hiểm vẫn chưa cao, trong một số năm thị trường bảo hiểm gần như bảo hòa. Nguyên nhân chính là do các chiến dịch quảng cáo, quảng bá thương hiệu bị giảm sút…
Thị trường bảo hiểm VN mặc dù có tiềm năng nhưng vẫn còn tiềm ẩn chưa được khai thác tốt. Sản phẩm còn nghèo nàn chưa đa dang, chất lượng các dịch vụ còn yếu kém, chưa được phổ biến rộng rãi. Chưa quảng bá về vùng nông thôn nhiều, những người dân cày trình độ kém có nhu cầu mua bảo hiểm nhưng không biết mua ở đâu nơi nào đáng tin cậy. Bên cạnh đó trên thị trường có một số người đã lợi dụng tên tuổi của các công ty bảo hiểm để lừa dối khách hàng làm cho mọi người nghi ngờ không còn lòng tin đối với bảo hiểm.
Mặc dù thị trường bảo hiểm VN phát triển mạnh từ 0,3% GDP năm 1995 lên đến 1,8% GDP năm 2003 nhưng bên cạnh mặt tích cực và những thành quả này, hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém, tồn tại mà nếu không sớm khắc phục thì sẽ khó phát triển, khó cạnh tranh khi hội nhập thị trường khu vực và quốc tế.
VN sẽ mở cửa thị trường bảo hiểm , các công ty bảo hiểm trong nước sẽ phải đối đầu với sự cạnh tranh hết sức gay gắt trên tất cảc ác mặt.
Chính phủ còn quản lý quá chặt chẽ thị trường bảo hiểm nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh nhưng có thể đây là nguyên nhân đã kiềm hãm sự phát triển của thị trường bảo hiểm.
Hiện tại 85% thị phần bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu đang rơi vào tay các công ty nước ngoài, còn trong nước chỉ có 7 công ty duy trì hoạt động về lĩnh vực này. Các công ty nước ngoài có vốn lớn, giải quyết vấn đề nhanh chóng, có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cao hơn.
Mặc dù được đánh giá là phát triển khá nhanh nhưng nếu đem cạnh tranh với nứớc ngoài thì thị trường bảo hiểm VN bị rung chuyển, không thể đứng vững. Tâm lý của người dân VN thì chuộng đồ ngoại hơn mà nước ngoài xâm nhập vào thị trường VN mở công ty 100% vốn nước ngoài thì thị trường VN thật đáng lo sợ. Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ thì thế cạnh tranh vẫn nghiêng về các công ty nước ngoài, vì các công ty này có công nghệ tốt và nó đã đầu tư vào việc tung ra các dịch vụ hấp dẫn khách hàng.
Do vậy khi mở cửa, hội nhập thì thị trường bảo hiểm VN vẫn phải giữ được lợi thế cạnh tranh và ổn định ngành.
Mặt khác sự bất ổn của nền kinh tế, vật giá leo thang làm cho đồng tiền VN ngày càng bị mất giá làm ảnh hưởng lớn thị trường bảo hiểm VN, mà bảo hiểm không phát triển một mình riêng lẻ, giá trị của bảo hiểm tăng khi các ngành khác phát triển. Cuộc sống của người dân thì ngày càng tồn hóa từ đó cho ta thấy bảo hiểm đang trong tình thế khó khăn.
Tóm lại thị trường bảo hiểm của VN vẫn còn đang ở dạng tiềm năng chưa khai thác được và còn bị cạnh tranh quá nhiều .

SV: Huỳnh Ngọc Tuyền
Lớp: NH3
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  05:20:59  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
Tình hình bảo hiểm Việt Nam


Sự ra đời của thị trường Bảo Hiểm Việt Nam gắn với sự ra đời và phát triển của các Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước.
Bảo Việt 15/01/1965
Công ty bảo hiểm quốc gia Vinare 17/09/1994
Bảo Minh 28/11/1994
Dầu khí 23/01/1996


Tính đến 31/12/2003 có 19 doanh nghiệp bảo hiểm và 5 công ty môi giới nước ngoài.
Doanh nghiệp Bảo hiểm nhà nước đóng vai trò quan trọng, là lá chắn kinh tế, ổn định nền kinh tế xã hội và đời sống nhân dân thông qua việc bồi thường trả tiền bảo hiểm và hổ trợ thực hiện các biện pháp phòng tránh.
Năm 2002: Bảo Việt bồi thường, trả tiền bảo hiểm là 898 tỉ.
Bảo Minh bồi thường trả tiền bảo hiểm là 283 tỉ.
Các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước như Bảo Việt, Bảo Minh còn có các mối quan hệ rộng với các nhà bảo hiểm hàng đầu của thế giới như AIG, CIGNA ...
Tuy nhiên doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn có những hạn chế như: yếu kém về vốn, cơ cấu cồng kềnh, tỷ lệ lực lượng lao động đã tốt nghiệp từ đại học trở lên thấp, khả năng cạnh tranh hạn chế, phương thức quản lý thụ động. . .
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng đa thay đổi và phát triển nhanh chóng. Từ chổ chỉ có 1 doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất với 100% vốn của nhà nước(Bảo Việt), đến nay nghành bảo hiểm đã có đủ các loại hình doanh nghiệp và đa dạng về hình thức sở hửu nguồn vốn,. . .
Hiện nay mức tăng trưởng của thị trường bảo hiểm được đánh giá cao với mức tăng trưởng bình quân từ 23% đến 25% trong đó 16% đến 18% trên 1 năm với bảo hiểm phi nhân thọ, 30% đến 40% là bảo hiểm nhân thọ.
Cùng với việc tạo ra cơ hội, doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải đương đầu với những khó khăn và thách thức. Trước hết là sức ép cạnh tranh trong bảo hiểm sẽ ngày càng lớn. Thị trường Bảo Hiểm Việt Nam với tiềm năng và tốc độ tăng trưởng của ngành.
Cho đến nay có 5 công ty 100% vốn nước ngoài hoặt động tại Việt Nam, trong đó có 3 công ty hoặt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Trong khi chúng ta chỉ có 13 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 4 công ty bảo hiểm nhân thọ, 5 công ty môi giới, 1 công ty tái bảo hiểm và khoảng 40 văn phòng đại diện ở nước ngoài.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam còn thiếu lành mệnh, hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh, cùng với sự đa dạng hoá và việc tham gia thị trường của các công ty bảo hiểm đã gây ra tình trạng chia cắt thị trường.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển với tốc độ cao và đáng khích lệ nhưng so với tiềm lực của nền kinh tế thì quá nhỏ bé, khả năng cạnh tranh và tính chuyên nghiệp trong kinh doanh bảo hiểm chưa cao. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam thua các doanh nghiệp nước ngoài về tính chuyên nghiệp, kỷ thuật và tài chính. Đối với bảo hiểm nhân thọ, thị trường bảo hiểm việt nam còn ít chủng loại, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, tính linh hoặt của sản phẩm chưa cao, sức hút của sản phẩm đối với khách hàng còn hạn chế.



Sinh viên: Đặng Ngọc Hiền Nhơn
Lớp: NH2-K.27
Lên đầu trang

tienhung
Vì Sự Phát Triển BHVN

Vietnam
1295 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  05:25:27  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail  Send tienhung a Yahoo! Message
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia . Kinh doanh bảo hiểm được coi như một tấm lá chắn kinh tế bảo vệ cho các tổ chức , cá nhân đồng thời huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
Ở Việt Nam trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước , hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã có sự phát triển vượt bậc với tốc độ thần kỳ và sự trưởng thành về nhiều mặt . Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa vối tốc độ cao, sức ép mở cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn . Mặt khác xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế đang ngày càng được khẳng định. Đặc biệt từ khi các hiệp định về dịch vụ tài chính giữa nước ta với các nước , các tổ chức quốc tế và khu vực được thông qua . Việc mở cửa thị trường và tự do hóa trong lĩnh vực tài chính trong đó có bảo hiểm ngày càng trở nên cấp thiết . Việc từng bước hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm là nột yếu tố khách quan.
Từ khi Nhà nước ta chuyển đổi nền kinh tế kề hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường nhằm thu hút đầu tư nước ngòai , ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng , cơ chế quản lý hệ thống văn bản pháp quy được thiết lập , tâo môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển thuận lợi và có hiệu quả ; Hiệp hội bảo hiểm được thành lập và đi vào hoạt động bước đầu đã phát huy được vai trò nhất định trong việc hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm và là cầu nối tập hợp tiếng nói chung của các doanh nghiệp trong việc tham gia xây dựng cơ chế chính sách với các cơ quan quản lý Nhà nước. Từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất đến nay đã phát triển thành một thị trường với sự tham gia của 21 doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế bao gồm 3 doanh nghiệp Nhà nước , 3 doanh nghiệp cổ phần , 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài , 10 liên doanh và hơn 70000 người làm đại lý bảo hiểm . Kể từ năm 1994 đến nay tốc dộ tăng trưởng bình quân củq thị trường bảo hiểm đạt 23%/năm , doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 7685 tỷ đồng , tăng gấp 10,3 lần so với doanh thu bảo hiểm 1994.Trong đó , tốc dộ tăng trưởng của lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ mạnh hơn lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm dịch chuyển theo hướng tăng dần tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ trên tổng doanh thu phí bảo hiểm của toàn thị trường .Đặc biệt , công tác giải quyết quyền lợi bảo hiểm đã được thực hiện đầy đủ và kịp thời , các doanh nghiệp vẫn đảm bảo được khả năng thanh toán của mình.
Thị trường bảo hiểm đã đóng góp tích cực vào việc ổn định sản xuất và đời sống dân cư , huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước. Nó góp phần tích cực vào việc hinh thành thị trường vốn lên tới hơn 4000 tỷ đồng . Từ chỗ không được đầu tư vốn nhàn rỗi , đến nay các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế hàng năm với tốc độ tăng bình quân 180%/năm , chỉ riêng năm 2002 đạt 4500 tỷ đồng. Tính đến hết năm 2003, tổng số vốn nhàn rỗi các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế đã lên tới 13800 tỷ đồng với các hình thức đầu tư đa dạng : đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu chính phủ , giử tiền tại các tổ chức tín dụng , đầu tư vào các công trình , dự án .Vai trò của bảo hiểm đối với nền kinh tế xã hội tiếp tục được nâng lên , thể hiện qua sự hiểu biết cũng như việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm tăng , lực lượng lao động trong ngành bảo hiểm ngày càng đông , làm tăng số tiền đóng góp cho ngân sách Nhà nước ; điển hình đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hơn 70000 lao động , và nộp ngân sách Nhà nước lên đến 300 tỷ đồng.
Trong bối cảnh cạnh tranh của cơ chế thị trường ngày nay, các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước vẫn duy trì được vai trò chủ đạo của mình , thể hiện qua thị phần doanh thu phí bảo hiểm và năng lực tài chính , số lượng khách hàng và chất lượng phục vụ ngày càng tăng . Công tác thiết kế , phân phối sản phẩm bảo hiểm cũng đã được chú trọng và từng bước đa dạng hóa phù hợp với nhu cầu thực tế , phí bảo hiểm mang tính cạnh tranh.Trước năm 1994, Bảo Việt mới cung cấp được 20 sản phẩm, đến nay các doanh nghiệp đã khai thác tất cả 4 nhóm sản phẩm là bảo hiểm tài sản và kỹ thuật, bảo hiểm trách nhiệm và bảo hiểm con người , bảo hiểm nhân thọ với hơn 500 loại sản phẩm khác nhau thuộc hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.Số lượng đại lý bảo hiểm trên phạm vi cả nước đã lên gần 100000 đại lý.Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm cùng với việc thành lập công ty tái bảo hiểm quốc gia (VINARE) thực hiện công tác tái bảo hiểm đã giúp cho việc nâng cao mức giữ lại của toàn thị trường từ 581 tỷ năm 1994 lến 1700 tỷ đồng năm 2002.
Sự phát triển của thị trường bảo hiểm cũng đã có những tác động tích cực đến thị trường khác trong nền kinh tế vốn còn rất sơ khai như thị trường vốn , thị trường chứng khoán , thị trường kế toán và kiểm toán , là động lực thúc đẩy sự phát triển của các thị trường này , tạo ra sự phát tiển cân bằng tổng thể trong toàn bộ nền kinh tế, làm tăng vai trò của bảo hiểm là dịch vụ tài chính liên kết toàn cầu nhằm giảm thiểu rủi ro cho các ngành kinh tế thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế , tăng cường trao đổi thương mại song phương và đa phương của Việt Nam .
Tuy nhiên , thị trường bảo hiểm cũng chỉ mới đáp ứng được một phần nhu cầu về bảo hiểm và mới khai thác được một phần thị trường . năng lực quản lý , kinh doanh , tiềm lực về vốn , hiệu quả và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm chưa mạnh , mức độ đáp ứng nhu cầu bảo hiểm nền kinh tế-xã hội của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế , một số lĩnh vực mới chỉ được khai thác ở mức dộ thấp như bảo hiểm nông nghiệp , bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng , y tế… Các loại hình sản phẩm bảo hiểm đang triển khai còn chậm được cải tiến , một số lĩnh vực tiềm năng bảo hiểm còn lớn nhưng chưa được khai thác triệt để như bảo hiểm cho người lao động , học sinh , hàng hóa xuất nhập khẩu … chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế có được , ảnh hưởng chung đến hiệu quả chung của toàn bộ ngành bảo hiểm.Môi trường cạnh tranh còn chưa lành mạnh , chưa bình đẳng giữa càc tổ chức bảo hiểm , giữa các thành phần kinh tế . Năng lực nhận tái và phần giữ lại chưa cao , hiệu quả thấp. Cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế , thiếu thông tin minh bạch , sự tư vấn , môi giới chưa phổ biến , khách hàng thiếu những quyết định đúng.
Năm 2004 là năm bản lề của công tác đàm phán để thực hiện được mục tiêu Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2005, nên nhiệm vụ đặt ra là hết sức khó khăn , đòi hỏi phải có sự nỗ lực không ngừng của ngành Bảo hiểm , sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng , Chính phủvà sự phối hợp giữa các bộ ngành. Vì vậy , chủ trương, định hướng , kế hoạch , chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đã được phê duyệt nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế , chính sách đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường , phù hợp với lộ trình hội nhập , cam kết quốc tế và những nguyên tắc , chuẩn mự quốc tế . Đồng thời , tập trung củng cố sắp xếp lại các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước , công ty bảo hiểm cổ phần; tănbg cường công tác kiểm tra , giám sát tài chính và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm. Mặt khác , mở rộng quan hệ hợp tác với các nước , khu vực từng bước chuẩn hóa môi trường kinh doanh bảo hiểm phù hợp vơiù tình hình chung của khu vực và quốc tế. Những chính sách đó sẽ tạo đà cho sự tiếp tục phát triển mạnh và bềnh vững của ngành Bảo hiểm trong những năm tới.


HọÏ và tên: NGUYỄN NGỌC NHÃ THƯ.
Lớp:NH3-K27

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  05:39:13  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail

Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua:
Hơn 17 năm đổi mới(1986-2004), bảo hiểm Việt Nam(BHVN)đã có sự phát triển rõ nét về cả số lượng và chất lượng.Từ thuở sơ khai ban đầu chỉ với 1 công ty BH duy nhất thuộc quốc doanh,đến nay đã có 25 doanh nghiệp tham gia kinh doanh bảo hiểm(life & non-life), với đầy đủ hinh thức sở hữu. Tăng trưởng của thị trường BHVN được đánh giá cao khoảng 10%/năm.
Hiện nay thị trường BH nhân thọ đang được xem là thị trường có tốc độ tăng trưởng "nóng" gần 30%. Các công ty đã kí kết được hàng triệu hợp đồng bảo hiểm trong nước. Tổng số vốn đầu tư và dự phòng nghiệp vụ của các công ty BH ngày càng tăng, cụ thể dự phòng nghiệp vụ là 8330 tỷ, tiền tái đầu tư khoảng 7000 tỷ. trong xu thế phát triển ngay nay luôn đi kèm với cạnh tranh gay gắt do đó họ luôn phai dổi mới, đa dạng hoá sản phẩm: BH tiền gửi, BH tài sản thế chấp ngân hàng sẽ là những sản phẩm mới. Hoặc nâng cao dịch vụ như Bảo Việt đưa ra quyền nộp phí Bh đặc biệt. Ngoài tahm gia thi trường trong nước DNBH trong nước còn liên kết với các công ty Bh trên thế giới nhằm thực hiện các nghiệp vụ đa dạng như tái đầu tư, bồi thường, giám định... góp phần đưa BHVN hội nhập với BH thế giới và khu vực.
Tuy nhiên BHVN vẫn tồn tại những vấn đền cần được khắc phục:
+ Thị trường vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội do quy mô và năng lực tài chính thấp.Ngoài Bảo Việt và Prudential thi các cty còn lai chỉ đủ số vốn pháp định khoảng 1515 tỷ.
+ Khả năng đầu tư của các cty vẫn còn hạn chế chủ yếu vào tiền gửi NH, đầu tư vào cơ sở hạ tầng còn thấp.
+ Tình trạng độc quyền cạnh tranh vẫn tồn tại. Còn tồn tại nhiều công ty BH chuyên ngành như: cty BH dầu khí, cty BH cổ phần Bưu Điện ...Các cty BH chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ bằng những dịch vụ có sẵn ko nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh, mở rộng phục vụ đông đảo khách hàng.Ko những thế còn tồn tai hình thức cạnh tarnh ko lành mạnh như: giảm phí, tăng phí hoa hồng...
+ Khung pháp lý vẫn tồn tai những bất cập cản trở đến việc kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Hoạt động môi giới BH còn yếu, chỉ có 2 cty tham gia AONINCHIBROK và Việt Quốc.

Viễn cảnh của ngành BH:
+ Phát triển một hạt nhân then chốt trong những cty BH trong nước trở thành người dẫn đầu thị trường và đáp ứng hầu hết những nhu cầu của thị trường.
+ Đưa ra những sản phẩm mới tiên tiến để thâm nhập vào thị trường.
+ Phát triển những kênh phân phối trực tiếp như TMĐT, Marketing...đảm bảo giảm chi phí tăng hiệu quả phân phối đến tay khách hàng.
+ Cải tiến việc nâng cao chất lượng dịch vụ đối với hợp đồng, áp dụng những công nghệ mới nhất để nâng cao chất lượng dịch vụ.

Nguyễn Mạnh Quân - NH3

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  07:34:49  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Thị trường bảo hiểm Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đến nay đã có những bước phát triển đáng kể. Sự tăng trưởng về số lượng các công ty bảo hiểm , chất lượng dịch vụ cũng như về sản phẩm bảo hiểm đã giúp các công ty bảo hiểm tiếp cận và thu hút nhiều khách hàng hơn.Cụ thể đến tháng 2/2004 có tổng cộng 23 công ty bảo hiểm với xấp xỉ 100000 đ ại lý hoạt động trong nhi ều lĩnh vực khác nhau : nhân thọ , phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm.., giải quyết 170000 việc làm cho người lao động, đóng góp gần 1.7% GDP.Bảo hiểm nhà nước không còn chiếm vị trí độc quyền như trước mà đã phải chia sẻ thị phần của mình với các loại hình doanh nghiệp khác : liên doanh, cổ phần, TNHH… Các doanh nghiệp này tuy mới xuất hiện nhưng đã nhanh chóng có được thị phần riêng của mình do hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm chuyên ngành. Điều này đã chứng tỏ xu hướng tự do hoá dịch vụ bảo hiểm ngày càng rõ rệt ở Việt Nam. Ngoài một số đóng góp tích cực như trên, thị trường đầy tiềm năng này còn bộc l ộ một số yếu điểm chủ yếu sau:
Số doanh nghiệp trong nước đầu tư vào bảo hiểm nhân thọ còn quá ít, cụ thể là chỉ có công ty Bảo Việt, mặc dù bảo hiểm nhân thọ là lĩnh vực có doanh thu phí bảo hiểm cao nhất. Điều này gây hạn chế trong việc huy động vốn, làm cho các doanh nghi ệp trong nước thiếu tính cạnh tranh so với các loại hình doanh nghiệp kh ác, không tận dụng được tiềm năng dân số vốn có của nước ta. Nếu để mất dần thị phần này vào tay các doanh nghiệp nước ngoài thì việc lấy lại là một điêu cực kỳ khó, nhất là trong điều kiện toàn cầu hoá như hiện nay.
Trình độ của đội ngũ nhân viên bán hàng còn yếu kém, chưa đi sâu nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của từng khách hàng mà họ tư vấn, hầu như chỉ quan tâm đến việc làm sao bán đ ược nhiều chứ chưa thực sự nghĩ đ ến lợi ích của khách hàng, tìm hiểu xem sản phẩm nào phù hợp với họ. Điều này phản ánh các công ty bảo hiểm ch ưa đầu tư một cách mạnh mẽ vào chính sách đào tạo nhân lực tiếp thị, kênh chủ yếu để giúp cho sản phẩm của mình tiếp cận đến khách hàng. Điều này phản ánh rõ nét trong đợt bắt buộc mua bảo hiểm xe cơ giới năm vừa qua.
Trong việc chi trả bảo hiểm, người dân còn gặp nhiều khó khăn, nh ất là trong lĩnh vực bảo hiểm y tế. Có nhiều trường hợp còn lợi dụng từ ngữ chuyên môn bắt bí khách hàng để từ chối thanh toán, điều này sẽ dần làm mất lòng tin của khách hàng đối với dịch vụ bảo hiểm.
Sản phẩm dịch vụ bảo hiểm chưa nhiều, trình độ chuyên môn của cán bộ chưa cao. Thêm vào đó, việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm chưa đa dạng và linh hoạt, chưa tận dụng hết khả năng sinh lời của nguồn vốn huy động được từ doanh thu phí bảo hiểm.. Đồng thời các công ty bảo hiểm còn chưa chú trọng đến công tác tiếp thị,nâng cao uy tín thương hiệu của mình, nhất là các công ty hoạt động trong lĩnh vực phi nhân thọ.
Dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm tới tuy còn rất nhiều tiềm năng (về dân số, khi mức sống ngày càng nâng cao) chưa khai thác hết nhưng cũng gặp phải không ít khó khăn và thử thách, nhất là trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, khi mà ngày một nhiều các công ty bảo hiểm nước ngoài đổ xô vào thị trường màu mỡ béo bở này, với đủ các chiêu thức tiếp thị quảng cáo chuyên nghiệp và hiệu quả. Việc các doanh nghiệp trong nước có đủ khả năng cạnh tranh và giữ vững vị thế của mình hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Nhà nước giữ vai trò quan trọng thông qua việc ban hành cơ chế chính sách, hành lang pháp lý an toàn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu triển khai các loại hình bảo hiểm mới như : bảo hiểm nông lâm nghiệp.. phù hợp với xu hướng hội nhập và định hướng XHCN. Đồng thời tự bản thân các công ty bảo hiểm phải nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao trình độ cán bộ chuyên môn, học hỏi và tiếp thu công nghệ từ các nước phát triển, tạo thêm nhiều kênh phân phối, mở rộng phạm vi hoạt động trong và ngoài nước…Nếu thực hiện tốt những vấn đề trên, cùng với việc tìm ra những biện pháp khắc phục những yếu điểm vốn có, thị trường bảo hiểm Vi ệt Nam có quyền hy vọng vào một tương lai sáng sủa hơn, với những đóng góp thiết thực hơn vào tốc độ phát triển chung của kinh tế xã hội .

SV: BÙI THỊ HỒNG
NH1 K27




Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  20:53:03  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[size=3][/size=3]
Đề tài:Hãy đánh giá &dự báo thụ trường bảo hiểm Việt Nam.

*TÌNH HÌNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Ở Việt Nam trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước , hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã có sự phát triển vượt bậc với tốc độ thần kỳ và sự trưởng thành về nhiều mặt .Ngành bảo hiểm nước ta từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất (năm 1964 là năm đánh dấu sự ra đời của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam -BẢO VIỆT )đến nay đã phát triển thành một thị trường với sự tham gia của 25 doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế bao gồm 4 doanh nghiệp nhà nườc ,7 doanh nghiệp cổ phần ,6 doanh nghiệp 100% vốn nước ngòai,7 liên doanh và khỏang100.000 người làm đại lý bảo hiểm .Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm cũng đa dạng: bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm.Các lọai hình bảo hiểm cũng ngày càng đa dạng: trước năm 1994, Bảo Việt mới cung cấp được 20 sản phẩm ,đến nay các doanh nghiếp đã khai thác tấc cả 3 nhóm sản phẩm là bảo hiểm tài sản ,bảo hiểm trách nhiệm ,và bảo hiểm con người.
Từ năm 1994 dến 2002 tốc dộ tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm đạt 23%/năm ,doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 7.685 tỷ đồng tăng 10.3 lần so với doanh bảo hiểm 1994.Sang năm 2003, là năm tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của ngành bảo hiểm Việt Nam với doanh thu xấp xỉ 10.090 tỷ đồng ,bằng khỏang 1.8%GDP và tăng tới44% so với năm 2002.Tính dến thời điểm hiện nay(năm 2004) ,con số doanh thu của ngành bảo hiểm Việt Nam là trên 10.400 tỷ đồng ,trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 6317 tỷ đồng, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ là 4003 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng toàn thị trường đạt 48%, trong đó, tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 53%, của bảo hiểm phi nhân thọ là 40%. Tổng số vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 12500 tỷ đồng.
Năm 2003,khối doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngòai có doanh thu phí đạt 4.015 tỷ đồng,bằng 39% tổng doanh thu phí tòan thị trường .Phần còn lại (khỏang 6.080 tỷ đồng ,bằng 61% tổng doanh thu phí) là doanh thu phí của các công ty bảo hiểm trong nước.Như vậy so với năm 2002,doanh thu phí của khối doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngòai tăng ở mức cao hơn so với khối doanh nghiệp bảo hiểm trong nước (khỏang 64% so với 33%.Điều này đã nâng tỷ lệ doanh thu phí của các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngòai so với tổng doanh thu phí tòan thị trường từ mức 35% trong năm 2002 lên thành 39% năm 2003. Trong năm 2003,đã có 4 doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập , đó là Công ty môi giới bảo hiểm Grassavoye, công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông , công cổ phần môi giới bảo hiểm Á Đông,công ty cổ phần môi giới Đất Việt.
Thị phần của các công ty cũng thay đổi qua từng năm. Năm1993, Bảo Việt chiếm thị phần 100%, qua năm 1994, còn 83.07%.Năm 2003, thị phần của của các công ty bảo hiểm như sau: Bảo Việt 41.68%, Bảo Minh 23.52%, PVIC 13.82%, PJICO 9.27%, PTI 4.01%......Như vậy,Bảo việt không còn giữ vị trí độc quyền ,các công ty bảo hiểm khác ra đời cạnh tranh với nhau,làm cho Bảo Việt mất dần thế độc tôn .Bên cạnh đó chúng ta đã thấy được sự phát triển vượt bậc của Bảo Minh. Ngay từ khi mới ra đời (năm1994),Bảo Minh đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, cụ thể là sau một năm kể từ ngày thành lập, Bảo Minh đã chiếm được 15,4% thị phần, Bảo Việt vẫn nắm giữ thị phần lớn 83,07% ( phần còn lại là của PJICO và Bảo Long). Đến năm 2003 Bảo Minh đã chiếm được 23,52% thị phần và Bảo Việt còn lại 41,68% thị phần. Qua đó chúng ta cũng có thể thấy được thị phần của Bảo Minh đã dần dần chia sẻ cho các công ty khác, chứng tỏ sự lớn mạnh của PJICO, PVIC, PTI,...,Điều đó chứng tỏ hơn nữa thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng trở nên sôi động hơn.
Theo một quan chức Bộ Tài chính , thị trường bảo hiểm đạt được sư phát triển mạnh mẽ và liên tục như vậy là do nước ta đã có những bước đi đúng đắn trong việc thực hiện đường lối đổi mới và mở cửa trong lĩnh vực bảo hiểm,từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.Tuy nhiên,thị trường bảo hiểm vẫn còn một số vấn đề tồn tại:
+Cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế,thiếu thông tin minh bạch, sự tư vấn, môi giới chưa phổ biến.
+Mức độ đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế xã hội đối với từng lọai hình bảo hiểm còn hạn chế,một số lĩnh vực có nhu cầu bảo hiểm cao nhưng chưa được triển khai hoặc chỉ đạt tỉ lệ thấp(rủi ro mùa màng,bảo hiểm thất nghiệp...)
DỰ BÁO:
Chúng ta cũng có thể dự báo rằng ngành bảo hiềm có tiềm năng phát triển rất mạnh với xu hướng ngày càng tăng như hiện nay. Vì Việt Nam chúng ta có dân số đông (trên 80triệu người)điều này đã thu hút được một số lượng vốn rất lớn, cũng dựa vào lợi thế này mà ngành bảo hiểm sẽ có tiêm năng rất lớn, có khả năng mở rộng được các loại hình bảo hiểm. Bên cạnh đó là kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển vào (2004) GDP: 7.5%, khả năng chi trả tăng bởi thu nhập của người dân tăng từ đó khả năng chi trả bảo hiểm ngày càng tăng,đời sống con người ngày càng được nâng cao(GDP bình quân đầu người hiện nay là trên 400dola/người/năm),chính diều đó làm cho bảo hiểm càng trở nên tất yếu trong nhận thức con ngườiđể bảo đảm phát triển cuộc sống tương lai của họ . Hiện nay , Việt Nam cũng đang trong xu thế hội nhập quốc tế, thu hút các nguồn vốn từ các doanh nghiệp từ bênngoài,nhưAIA(Mỹ),Allianz(Pháp)….trong đó phải kể đến việc mở cửa thị trường ,tự do hóa trong lĩnh vực bảo hiểm là một tất yếu khác quan.Xu hướng kết hợp giữa bảo hiểm với ngân hàng trong thời gian qua ở Việt Nam có thể nói là đã đi rất đúng hướng trong việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, khai thác thị trường còn nhiều trống trải. Dự báo trong những năm sắp tới, cùng với sự ra đời của nhiều công ty bảo hiểm tư nhân, các dịch vụ bán bảo hiểm thông qua ngân hàng trên thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng sẽ phát triển rất mạnh.

ÂU BẢO HÒANG ANH
NH2-K27

aubaohoanganh
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  20:54:08  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[blue]NHAN XET VA DU BAO THI TRUONG BAO HIEM VIET NAM[/blue]

Như chúng ta đã biết ngày 17/12/1964 sự ra đời của một công ty bảo hiểm Việt Nam trên thị trường Bảo hiểm Việt Nam –công ty bảo hiểm Bảo việt ,mà trước đó chủ yếu là các đại lý bảo hiểm nước ngoài , với sự ra đời của Bảo việt chính thức mở ra ngành kinh doanh mới- ngành kinh doanh bảo hiểm . Từ năm 1975 nhà nước tiến hành quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm vào một công ty bảo hiểm BAVINA, ngày 18/12/1993 nghị định 100CP ra đời đã xoá bỏ thế độc quyền nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia vào ngành bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm theo thời gian đã được thành lập và phát triển nhanh chóng, nhiều danh nghiệp bảo hiểm ra đời dưới nhiều hình thức:liên doanh , cổ phần , 100% vốn nước ngoài , tư nhân và đã có hơn 100 ngàn đại lý bảo hiểm . Hiện tại trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 25 công ty tham gia, các công ty này tham gia trên nhiều lĩnh vực bảo hiểm như: bảo hiểm gốc , tái bảo hiểm , mô giới bảo hiểm , đại lý bảo hiểm, số liệu thống kê năm 2003 là năm ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của ngành bảo hiểm Việt Nam, với doanh thu phí bảo hiểm đạt được là 10.327 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 6.442 tỷ đồng và doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ là 3.885 tỷ đồng, bằng khoảng 1,8 % GDP và tăng 44 % so với năm 2002. Cụ thể là tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ tính hết năm 2003 tăng 26,2 % so với năm 2002. Lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ lại có mức tăng trưởng là 38,7 % so với năm 2002, hiện nay Bảo việt vẫn chiếm vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực bảo hiểm chiếm thị phần 41,68% năm 2003, tuy thị phần bảo hiểm của bảo việt giảm dần qua các năm :năm1995 (83,07%), năm 1996(69,06%), năm 1997 (63,15%) và cho đến nay năm 2003 chỉ còn 41,68%, đó không phải là dấu hiệu cho rằng bảo hiểm Việt Nam đang tuột dốc, nó cho thấy rằng ngày càng có nhiều danh nghiệp tham gia vào thị trường bảo hiểm, làm cho thị trường bảo hiểm hiểm trở nên sôi động, có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp, vì vậy làm cho thị ttrường bảo hiểm hoạt động một cách hiệu quả hơn , tốt hơn, đó là dấu hiệu đáng mừng cho thị trường bảo hiểm việt Nam, từ đó tự mỗi doanh nghiệp thấy được mình phải đổi mới hoàn thiện hơn để có thể đứng và tồn tại trong thị trường mới mẻ này với sự cạnh tranh không kém gì các thị trường khác.

Thị trường bảo ohiểm Việt nam trong tương lai còn rất nhiều tìm năng để khai thác, vói dân số trân 80 triệu người, một đất nước được coi là nước có dân số đông, tuy hiện nay số người tham gia vào bảo hiểm chưa nhiều bởi do khái niệm về bảo hiểm còn khá mới mẻ đối với người dân, họ thực sự chưa hiểu rõ bảo hiểm là gì và lợi ít của bảo hiểm mang lại khi họ tham gia, ,tuy nhiên cùng với thông tin hiện đại cũng như sự quãng bá rộng rãi như ngày nay, dần dần dân chúng cũng đã thấy được tác dụng của bảo hiểm, cùng với đời sống đang được nâng lên 400USD/năm/người, họ đã có điều kiện nhiều hơn để có thể tham gia bảo hiểm. Mặt khác nền kinh tế nước ta đang trong quá trình phát triển ổn định và bền vững, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây đạt 7% năm và trong năm 2003 tốc độ tăng trưởng này là 7,5%, đó là kết quả thật đáng mừng cho nền kinh tế nước ta,, với sự phát triển kinh tế như vậy tất nhiên thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển, làm cho quá trình giao thuơng mua bán ngày một nhiều hơn, từ đó nhiều hợp đồng bảo hiểm về hàng hoá cũng sẽ được ký kết. Đứng trước những tiềm năng lớn lao như vậy các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đòi hỏi phải có những biện pháp, chiến lược như thế nào để có thể khai thác tìm năng đó, khi mà trong điều kiện kinh tế nước ta đang dần dần tiến đến mở cửa tự do hoá thương mại, năm 2005 Việt nam sẽ tham gia vào thị trường WTO, khi đó các doanh nghiệp nước ngoài trong đó có các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm,họ với những kinh nghiệm vốn có từ lâu về bảo hiểm và nguồn tài chính dồi dào, các dịch vụ và sản phẩm đa dạng đó sẽ là thách thức lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.Vì vậy để có thể tồn tại và đứng vững đòi hỏi ngay từ bây giờ các doanh nghiệp nghiệp bảo hiểm Việt Nam phải chuẩn bị thật kỷ về nguồn vốn lẫn quá trình tổ chức hoạt động sao cho chuyên nghiệp hơn sản phẩm đa dạng hơn, phục vụ tốt hơn nửa để có thể đáp ứng một cách đầy đủ và kịp thời nhu cầu về bảo hiểm làm cho người dân thấy được rằng các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng rất chuyên nghiệp không hề thua kém các doanh nghiệp nước ngoài.

HO TEN : QUACH DAI CAN
LOP : NH1 K27

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  22:25:20  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
I- Đánh giá thị trường Bảo Hiểm Việt Nam (BHVN)
Nhìn trên tổng thể , trong những năm qua , thị trường BHVN ngày càng phát triển
_Xét về số công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Năm 2001 :15 công ty BH
Năm 2003 :24 công ty BH
Năm 2004 :25 công ty BH
Công ty BH ngày càng tăng
_Xét về thị phần BH đặc biệt BH phi nhân thọ giữa Bảo Việt và Bảo Minh từ 1995 đến nay :
Bảo Minh ngày càng tăng thị phần
1995 :15.4%
1997 :21.33%
2000 :25.1%
2001 :23.77%
2002 :28.08%
2003 :23.52%
Đồng thời một số công ty BH như là PJICO , PVIC , PTI tuy mới ra đời nhưng thị phần cũng ngày càng tăng và phát triển ổn định.Từ đó ta thấy thị trường BHVN ngày càng tự do hoá . Trong khi đó , Bảo Việt ngày càng giảm thị phần
1995 :83.07%
1997 :69.09%
2000: 50.09%
2001 :45.97%
2002 :40.39%
2003 :41.68%
Thế độc quyền của Bảo Việt bị phá vỡ .Tuy vậy , xét về từng loại hình BH thì Bảo Việt vẫn chiếm ưu thế .
_Xét về doanh thu phí BH từ 1993 – 2003 được chia làm 2 giai đoạn:
1993-1997 : sự tăng trưởng của thị trường BH phi nhân thọ
1993 tổng doanh thu phí =471 tỷ ,trong đó phí BH PNT =471 tỷ , phí BH NT = 0
1997 tổng doanh thu phí =1352 tỷ , trong đó phí BH PNT =1341 tỷ , phí BH NT =11 tỷ
1998 – nay : sự tăng trưởng của thị trường BH nhân thọ
1998 tổng doanh thu phí =1867 tỷ , trong đó phí BH PNT =1664 tỷ , phí BH NT =203 tỷ
2002 tổng doanh thu phí =7685 tỷ , trong đó phí BHPNT =3070 tỷ , phí BHNT =4615 tỷ
Từ ba gốc độ trên ,ta thấy thị trường BHVN ngày càng phát triển nhưng phát triển chưa đủ mạnh .Các công ty BH chưa khai thác hết tiềm năng của Việt Nam .
II- Dự báo thị trường BHVN
Trong tương lai ,Thị trường BHVN sẽ phát triển nhanh chóng do dân số Việt nam ngày càng đông và GDP bình quân đầu người ngày càng tăng ( Hiện nay GDP trên 400 USD / 1 người . Con số này so với trên thế giới tuy là thấp nhưng đối với Việt Nam có chiều hướng tốt hy vọng trong tương lai sẽ cao hơn . Từ đó mọi người sẽ có nhu cầu về Bảo hiểm nhiều hơn . Đặc biệt kinh tế - xã hội Việt Nam càng phát triển thì sẽ xuất hiện nhiều rủi ro và tổn thất , lúc đó con người sẽ nhận thức được tầm quan trọng của bảo hiểm nhiều hơn .Hiện nay ,sản phẩm của BH phát triển ngày càng đa dạng . Không chỉ bảo hiểm y tế , bảo hiểm xe cơ giới ,bảo hiểm tai nạn …v…v….nay bảo hiểm tiền gửi mới ra đời .Do thói quen của người dân không tin tưởng vào Ngân hàng làm cho ngành ngân hàng tuy phát triển nhưng chậm .Nếu như có sự xuất hiện của bảo hiểm tiền gửi để đảm bảo Ngân hàng sẽ đủ khả năng chi trả khi có rủi ro thì người dân sẽ tin tưởng vào Ngân hàng nhiều hơn .Lúc đó Ngân hàng và Bảo hiểm sẽ cùng phát triển nhanh chóng .
Hiện nay , Việt Nam là thành viên của ASEAN và trong tương lai sẽ gia nhập WTO .Khi đó Việt Nam sẽ mở cửa cho nước ngoài vào và tự do mậu dịch . Dự báo ngành BHVN sẽ phát triển theo hướng toàn cầu hóa.
SVTH : LUU HUE DUNG
NH1-K27






Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  22:28:52  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đề tài 3
TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Kể từ khi nghị định 100CP 18/12/1993 ra đời đã xóa độc quyền bảo hiểm nhà nước làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển nhộn nhịp với nhiều lọai hình bảo hiểm như quốc doanh ,tư nhân ,liên doanh với nước ngòai ,100% vốn nước ngòai .Các công ty bảo hiểm ngày càng nhiều với số lượng 25 công ty (cả nhân thọ và phi nhân thọ ).Các công ty bảo hiểm nhà nước ra đời sớm đã dần nhường thị phần cho các công ty mới ra đời sau này như Bảo Việt (phi nhân thọ)từ 83,07% năm 1995 còn 41,68% năm 2003 ,Bảo Minh thành lập năm 1994 từ 15,4% lên 23,52%(2003),Bảo Việt(nhân thọ)là 38,09% nam 2002,Bảo Minh CMG là 2,34%,Prudential là 45,52%.Qua đó cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển với tốc độ chóng mặt .Ngành bảo hiểm chiếm 2,3% GDP .Nguyên nhân do Việt Nam là đất nước có dân số đông với cơ cấu dân số trẻ,trình độ dân trí tăng lên đáng kể do đó ý thức được vai trò của bảo hiểm đối với cuộc sống .Trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ cao và ổn định ,năm 2003 đạt 7,3%,lạm phát được kiềm chế ,GDP bình quân đầu người tăng .Các ngành kinh tế phát triển mạnh làm cho ngành bảo hiểm phát triển theo .Điển hình ngành XNK phát triển mạnh làm cho bảo hiểm hàng hải phát triển theo trong đó 5,6% hàng xuất và 23,6% hàng nhập được bảo hiểm trong nước và hiện có 11 công ty bảo hiểm về lĩnh vực này .Các ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam ngày càng vững mạnh đã thành lập nên các công ty bảo hiểm chuyên ngành ngày càng phát triển mạnh và chiếm thị phần đáng kể như PJICO Chiếm 9,27% năm 2003,PVIC chiếm13,82%(2003) .Các lọai hình bảo hiểm ngày càng đa dạng ,xuất hiện các lọai hình bảo hiểm mới khó như bảo hiểm nông nghiệp .Thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển theo hướng tự do hóa dịch vụ bảo hiểm .Tỷ trọng bảo hiểm các công ty bảo hiểm liên doanh,100% vồn nước ngòai ngày càng tăng.Các lọai dịch vụ bảo hiểm đang được hòan thiện và phục vụ công chúng rộng rãi và tốt hơn .Các dịch vụ bảo hiểm được mở từ thành thị đến tận nông thôn với mạng lưới đại lí dày đặc lên đến 69850 năm 2003.
Tuy nhiên một số lĩnh vực bảo hiểm còn chậm phát triển như bảo hiểm ngành nông nghiệp ,nguyên nhân do có nhiều rủi ro và lợi nhuận thấp ,nông dân chưa có thói quen mua bảo hiểm .Trong bảo hiểm hàng hải vẫn còn nhiều doanh nghiệp XNK mua bảo hiểm nước ngòai mà không mặn mà với bảo hiểm hàng hải trong nước làm ngành này phát triển chậm do nhà nước chưa có chính sách cho việc mua bảo hiểm hàng hải trong nước .Thủ tục hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập doanh nhgiệp bảo hiểm rườm rà phức tạp nằm rải rác trong từng văn bản pháp luật gây khó khăn cho nhà đầu tư tìm hiểu và áp dụng .Luật bảo hiểm chưa đầy đủ và còn nhiều thiếu sót .
Nhìn chung thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển với tốc độ cao và ngày càng được tự do hóa với đa dạng các lọai hình doanh nghiệp bảo hiểm
.
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn tiềm năng rất nhiều .Dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2004 là 7,5%,dân số Việt Nam gần 80tr người là những nguyên nhân làm cho ngành bảo hiểm tăng trưởng và phát triển .Nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp còn rất lớn .Ngành nông nghiệp ngày càng được hiện đại hóa ,đời sống người nông dân ngày càng được cải thiện ,đây là bộ phận chiếm gần 80% dân số .Vì vậy bảo hiểm ngành nông nghiệp sẽ phát triển .Khu vực nông thôn với 80% dân số là thị trường rộng lớn ,hấp dẫn cho các công ty bảo hiểm mở rộng và phát triển .Đời sống nông thôn ngày càng được cải thiện,cơ sở hạ tầng đươc phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ bảo hiểm xuống tận thôn ấp .Nhiều trung tâm kinh tế ngày càng phát triển trở thành đô thị lớn ,người dân có thu nhập cao ngày càng nhiều .Họ quan tâm hơn đến chất lượng cuộc sống ,đến tưong lai .Chính vì vậy các dịch vụ bảo hiểm với mức thi phí cao sẽ ngày càng được mở rộng và phát triển hơn ,nhất là bảo hiểm nhân thọ.
Với xu hướng hội nhập quốc tế làm cho nền kinh tế phát triển theo hướng hội nhập ,vì vậy tất yếu ngành bảo hiểm Việt Nam cũng phát triển theo hướng hội nhập quốc tế .Ngày càng có nhiều công ty bảo hiểm đa quốc gia vào Việt Nam và chiếm thị phần lớn như Prudential ,AIA, ALLIAN-AG F.Vì vậy nhiều lọai dịch vụ bảo hiểm sẽ ngày càng phong phú đa dạng hơn .Từ đó thúc đẩy các công ty bảo hiểm Việt Nam ngày càng to lớn ,phát triển vững mạnh vàa vươn tới các quốc gia trong khu vực và thế giới.

Sinh viên: HOA NGỌC LAM
Lớp : NH2 K27


Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  22:46:51  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Thị trường bảo hiểm Việt Nam thực sự còn rất non trẻ, chỉ mới thực sự đi vào hoạt động vào năm 1994, tuy nhiên cũng đạt được một số thành quả nhất định. Cho đến nay đã có 25 công ty, trong đó 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giới bảo hiểm và 1 công ty tái bảo hiểm, với sự có mặt của các công ty liên doanh như Công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc , Bảo Minh-CMG ,..và các công ty 100% vốn nước ngoài như Manulife, Prudential,...tham gia vào nhiều lĩnh vực bảo hiểm như: bảo hiểm gốc , tái bảo hiểm , môi giới bảo hiểm,...và hơn 100.000 đại lý trên toàn quốc.
Năm 2003, bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 48%, trong đó doanh thu bảo hiểm nhân thọ tăng 53%, phi nhân thọ tăng 40% so với năm trước, doanh thu phí bảo hiểm đạt được là 10.327 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 6.442 tỷ đồng và doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ là 3.885 tỷ đồng, bằng khoảng 1,8 % GDP.Điều này thể hiện sự lớn mạnh của bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua tuy thị trường chỉ mới hình thành. Hiện nay Bảo việt vẫn chiếm vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực bảo hiểm với thị phần là 41,68% năm 2003,tuy nhiên năm 1995 thị phần bảo hiểm của bảo việt là 83.07%, sự giảm sút về thị phần của Bảo Việt đồng nghĩa với sự tăng thị phần của các công ty bảo hiểm khác như: Bảo Minh, PJICO, PVIC,...điều này cho ta thấy sự cạnh tranh đã dần hình thành và thế độc quyền nhà nước đang bị lung lay mở đầu cho giai đoạn tự do hoá bảo hiểm, giai đoạn mở cửa hội nhập.
Như vậy trong thời gian 10 năm qua thị trường bảo hiểm Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, đây sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong tương lai.

DỰ BÁO TÌNH HÌNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

Theo những đánh giá về thị trường bảo hiểm trong thời gian qua ta có thể đưa ra những dự báo về thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới như sau:
Như ta đã biết sự phát triển của thị trường bảo hiểm đi đôi với sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy cùng với sự phát triểm của nền kinh tế thị trường bảo hiểm Việt Nam là một thị trường tiềm năng và đang trên đà phát triển,điều này thể hiện ở sự tăng trưởng cả về số lượng lẫn chất lượng phục vụ của các công ty bảo hiểm.
Cùng với sự mở cửa và hội nhập nền kinh tế, thị trường bảo hiểm cũng sẽ có điều kiện phát triển. Đây là cơ hội tuy nhiên nó cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Nó yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam phải nỗ lực hơn nữa về việc tăng chất lượng cũng như các loại hình phục vụ.
Như vậy ta có thể hy vọng một tương lai tốt đẹp hơn của thị trường bảo hiểm Việt Nam


Bùi Thị Mỹ Hạnh
Lớp NH1 -K27


Lên đầu trang

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  22:47:18  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[font=Times New Roman][/font=Times New Roman][size=2][/size=2][black][/black]
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  22:54:12  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail

Sinh viên : HOÀNG THỊ HÀ GIANG
Lớp NH1- K27

ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Đánh giá về thị trường Bảo Hiểm Việt Nam
Thị trường Bảo hiểm Việt Nam sau 10 năm hoạt động có thể nói có sự phát triển vượt bậc với đầy đủ các loại hình Bảo hiểm: Bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm.Sau Nghị định 100CP(18/12/1993) xóa bỏ độc quyền Nhà nước về Bảo hiểm đã giúp đẩy mạnh quá trình tự do hóa doanh nghiệp bảo hiểm.Số công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, các chi nhánh bảo hiểm của nước ngoài được thành lập tại Việt Nam ngày càng nhiều, cũng như sự liên kết tham gia của các tổ chức như Bưu điện, ngân hàng,…vào lĩnh vực bảo hiểm ngày càng nhiều. Điều này làm cho thị trường bảo hiểm ngày càng đa dạng, cạnh tranh gay gắt hơn, là động lực để nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm, cũng như phí bảo hiểm sẽ phù hợp hơn với thu nhập của người dân Việt Nam. Đồng thời nó sẽ là nền tảng cho quá trình toàn cầu hóa hội nhập kinh tế.
Mặc dù thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển nhanh chóng trong thời gian qua, nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định như phát triển không đồng đều trong các lĩnh vực, ngành nghề.Chẳng hạn như ngành Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế trọng điểm mang lại thu nhập lớn cho nền kinh tế Việt Nam, vậy mà trên thị trường bảo hiểm chỉ có duy nhất một doanh nghiệp nước ngoài làm loại bảo hiểm này, đó là Groupama.Nhưng Nhà nước lại giành rất ít chế độ ưu đãi cho doanh nghiệp này.
Với sự phát triển của thị trường bảo hiểm , hiện nay ở Việt Nam có 25 công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực:nhân thọ, phi nhân thọ…làm cho số đại lý bảo hiểm không ngừng gia tăng.Tuy nhiên các đại lý này phần lớn không mang tính chuyên nghiệp, đối tượng chủ yếu được đào tạo không có chuyên môn, họ dựa vào sự quen biết để bán hợp đồng và như thế thì hợp đồng sẽ không kéo dài lâu được.
Dự đoán về thị trường bảo hiểm ở Việt Nam
Việt nam là một quốc gia đông dân, dân số trẻ.Nếu như trước đây người ta chỉ cần ăn no, mặc ấm,thì bây giờ với thu nhập ngày càng cao thì họ đòi hỏi ăn phải ngon, mặc phải đẹp và nhu cầu về bảo hiểm được chú ý hơn.Do đó có thể nói thị trường bảo hiểm ở Việt Nam đang là một thị trường màu mỡ.
Tuy nhiên, người dân Việt Nam không có thói quen mua bảo hiểm, trừ những loại bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm xe cơ giới.Và do chất lượng dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng còn hạn chế như bảo hiểm y tế. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm dể thu hút đông đảo khách hàng tham gia.
Bên cạnh việc tự do hóa các doanh nghiệp bảo hiểm, cũng như mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam đã tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam làm cho quá trình cạnh tranh ngày càng gay gắt. Đây là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt nam ,bởi vì nếu họ không có biện pháp hữu hiệu sẽ bị mất thị phần và có thể dẫn đến phá sản.Tuy nhiên,các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có được những lợi thế: uy tín, hình ảnh quen thuộc đối với khách hàng trong nước trong nhiều năm. Đây là lợi thế mà các doanh nghiệp Việt Nam cần phải phát huy.



Hoang Thi Ha Giang
NH1-K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  23:26:13  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đề tài : Hãy đánh giá và dự báo tình hình bảo hiểm Việt nam.


1. Đánh giá tình hình Bảo hiểm Việt Nam.

Việt Nam, một cái tên không còn xa lạ đối với các nhà đầu tư quốc tế. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt nam đang từng bước phát triển không ngừng hội nhập vào thị trường quốc tế với nhiều ngành kinh tế, lĩnh vực phát triển khác nhau. Một trong số đó là ngành bảo hiểm đ.

a.Khái quát lịch sữ phát triển ngành bảo hiểm Việt nam.
•Trước năm 1954 :
- Nam kỳ : Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Bảo hiểm Thương mại đã có mặt tại Việt Nam (đại lý Bảo hiểm nước ngoài ) với luật lệ và quy định Bảo hiểm của Pháp.
•Từ năm 1954 đến 1975 :
- Miền Bắc : Đất nước bị chia cắt Ngày 17/12/1964 đánh dấu sự ra đời của Bảo Việt (Chính thức hoạt động từ ngày 15/01/1965 ) với 2 trụ sở với sản phẩm là Bảo hiểm hàng hải.
- Miền Nam : Năm 1965 Chính quyền Sài Gòn đưa ra Sắc lệnh 15/65 ( Về cơ bản có những qui định giống Pháp nhưng đã có sữa đổi để phù hợp với điều kiện bây giờ ) đã tạo ra sự nhộp nhịp về hoạt động Bảo hiễm. Năm 1972 Sài gòn đã có 54 công ty Bảo Hiểm trong nước và ngoài nước.
•Từ năm 1975 đến nay :
- Từ năm 1975 đén 1993 :
+ Đất nước thống nhất, Với chế độ bao cấp nhà nước quản lý kinh doanh Bảo hiểm cùng với sự ra đời của BAVINA.
+ Năm 1976 BAVINA trở thành Bảo Việt của Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Năm 1988 Bảo Việt được nâng lên thành Tổng công ty.
+ Năm 1992 Bộ Tài Chính bàn giao vôn cho Bảo Việt.
- Từ năm 1994 đến nay :
+ Ngày 18/12/1993 Ngị định 100CP ra đời, xoá bỏ độc quyền Nhà nước.
+ Tháng 11/1994 Bảo minh ra đời, sau đó la PJICO.
+ Tháng 12/2000 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm được thông qua có hiêu lực từ 01/04/2001.
+ Tháng 8/2003 Chiến lược phát triển Bảo hiểm đến năm 2010 được quốc hội thông qua.
b.Đánh giá .
- Với chính sách tự do hoá thị trường Bảo hiểm, trong 10 năm phát triển (1994 – 2004) thị trường Bảo hiểm Việt nam đã có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng cũng như chất lượng, đó là sự tăng về số lượng công ty Bảo hiểm từ 1 đến 25 cùng với mạng lưới phân phối sản phẩm Bảo hiểm trên 64 Tỉnh, Thành phố, bên cạnh đó là đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động từ Bảo hiểm gốc phi nhân thọ, đấn tái Bảo hiểm Môi giới Bảo hiểm, Bảo hiểm nhân thọ, vì vậy sản phẩm bảo hiểm ngày càng nhiều và phong phú, đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm khách hang, bên cạnh đó là sự cạnh tranh giữa các hãng Bảo hiểm nhằm dành được thị phần trong thị trường Bảo hiểm Việt nam đã làm cho các hãng bảo hiểm ngày càng hòn thiện mình hơn bằng cách nâng cao trình động nghiệp vụ ( từ quản lý đến kỷ thuật ) và cũng làm số lượng lao động trong ngành bảo hiểm tăng ( hơn 78,800 ) và có trình độ chuyên môn cao.
- Hiện nay, thị trừơng bảo hiểm Việt nam là miếng bánh hấp dẫn đối với các nhà kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước đã có những chính sách về :
* Về pháp luật : + Khung pháp luật cho hoạt động Bảo hiểm ngày càng cao (Luật kinh doanh Bảo hiểm 9/12/2000).
+ Pháp chế bảo hiểm ngày càng được nâng cao.
* Về chuyên môn : Ngày càng được hoàn thiện hơn.

2.Dự báo tình hình thị trường bảo hiểm Việt nam :
* Nhìn chung
- Cùng với xu hướng hội nhập(WTO,AFTA), thị trường bảo hiểm Việt nam tiếp tục tăng trưởng mạnh. Bởi vì :
+ Kinh tế phát triển cao và ổn định ( trung bình 7.5% mỗi năm)
+ Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế .
+ Thu nhập đầu người tăng ( năm 2003 :410 USA/ người )
- Thị trường Việt nam là một thị trường tiềm năng bởi vì Việt nam là nước có dân cố đông (hơn 80 triệu người ), dân số trẻ, bân cạnh đó là do lịch sữ hình thành và phát triển có sự giao thoa văn hoá giữa phương Đông và phương Tây, dân trí phát triển.
- Trong một tương lai không xa thị trường Bảo hiểm Việt nam sẽ xuất hiện nhiều sản phẩm Bảo hiểm mới .
- Bao hiểm nông nhiệp được phát triển mạnh cùng nhiều chính sách ưu đãi của nhà nước .
* Bảo hiểm nhân thọ
Năm 2004 tiếp tục hứa hẹn sự phát triển nhanh chóng của thị trường bảo hiểm nhân thọ, đồng thời sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mạnh mẽ hơn.. Bên cạnh đó là sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài và sự giãm xuống của các doanh nghiệp nhà nước ( như Bảo Việt, …). Đây là cuộc cạnh tranh mạnh mẽ về sản phẩm cũng như dịch vụ và trình độ chuyên môn của người bán bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm như Bảo Việt cần phải có những sản phẩm mới cũng như dịch vụ hậu mãi đối với khách hàng tốt hơn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm khác thêm vào đó là đội ngũ. nhân viên năng động có chuyên môn cao và cùng với tác phong làm việc công nghiệp và từ đây có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.
* Bảo hiểm phi nhân thọ .
Cũng nhu thị trường bảo hiểm nhân thọ, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng phát triển cả về số lượng cũng như chất lượngTuy nhiên bên cạnh đó là dịch vụ của thị trường này chưa được hoàn thiện cụ thể như bảo hiểm y tế một loại hình bảo hiểm rất phổ biến ở Việt nam nhưng dịch vụ đi sau của loại hình này cần phải sữa đổi.
Loại hình bảo hiểm nông nhiệp tuy mới ra đời nhưng vẫn chưa có một đóng góp nào là mới mẽ chỉ mới có một công ty nước ngoài Goupama kinh doanh, nhà nước cần có chính sách khuyến khích loại hình bảo hiểm này.

Họ tên : Lưu Bằng - STT 04
Lớp NH2 - khoá 27
Lên đầu trang

nguyen thi phuong thanh
Thành Viên Mới

Vietnam
2 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  23:28:13  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
díc
A. ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM:
Hoạt động bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, là công cụ rất quan trọng để tạo môi trường đầu tư, thông qua môi trường này, nó cũng góp phần ngăn ngừa, hạn chế những rủi ro trong đời sống xã hội và đầu tư nói chung.
Trên thế giớI, hoạt động bảo hiểm đã xuất hiện từ rất lâu, ý niệm về bảo hiểm đã xuất hiện từ thờI cổ đại và ngành bảo hiểm đã ra đời tù thế kỷ 13. Ở Việt Nam, do điều kiện lịch sử và những nhân tố khách quan như chế độ phong kiến kéo dài, chiến tranh… không tạo ra những điều kiện cho ngành bảo hiểm hình thành và phát triển. Xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng cuốI thế kỷ 19, đấu thế kỷ 20, ngành bảo hiểm còn non trẻ, hầu hết chỉ là đạI lý cho các công ty nước ngoài, luật lệ quy định về bảo hiểm áp dụng theo luật của Pháp. Sau năm 1954, HộI đồng chính phủ Việt Nam lập công ty Bảo hiểm Việt Nam vào ngày 17/12/1964. Đến ngày 15/01/1965, công ty chính thức đi vào hoạt động.
Sau năm 1975, đất nước được thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hộI, Nhà nước ta đã tiến hành quốc hữu hoá các công ty bảo hiểm tập trung vào công ty bảo hiểm Việt Nam. Mãi đến tháng 12/1992, Bộ tài chính giao vốn cho Bảo Việt, và đến năm 1993, nghị định 100CP ra đời xoá bỏ giai đoạn độc quyền nhà nước tạo điề kiện cho hoạt động bảo hiểm phát triển. Tháng 12/2000, Luật kinh doanh bảo hiểm được quốc hộI thông qua. 8/2003, Chiến lược phát triển thị trường Bảo Hiểm Việt Nam đến năm 2010 do bộ tài chính biên soạn được Quốc HộI thông qua.
Từ năm 1994 đến nay, hoạt động bảo hiểm ớ Việt Việt Nam phát triển rõ rệt, số lượng các công ty bảo hiểm đã tăng lên đáng kể. Nếu vào năm 1994, chỉ có 3 công ty bảo hiểm là Bảo Việt, Bảo Minh, và công ty tái bảo hiểm Vinare thì đến nay số lượng các công ty bảo hiểm là 25 công ty với các hình thức đa dạng là công ty nhà nước, công ty cổ phấn, công ty liên doanh và 100% vốn nước ngoài. Nếu vào giai đoạn đầu, hoạt động bảo hiểm còn rất sơ khai về nghiệp vụ chủ yếu là bảo hiểm Phi Nhân Thọ (PNT) thì bây giờ lĩnh vực bảo hiểm mở rộng ra gồm bảo hiểm Nhân thọ (NT), Phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giớI bảo hiểm.
Doanh thu bảo hiểm toàn thị trường liên tục tăng qua các năm, nếu vào những năm 91, doanh thu chỉ đạt 207 tỷ, thì đến năm 1995 khi nhà nước ta xoá bỏ độc quyền bảo hiểm, tổng doanh thu đã tăng lên đến 1026 tỷ, và năm 2003 là 10490 tỷ, Qua đó ta thấy, tiềm năng của thị trường bảo hiểm còn rất lớn và trong tương lai sẽ phát triển mạnh hơn nữa.
I.BẢO HIỂM NHÂN THỌ:
Trong năm 2003, số hợp đồng khai thác mớI đạt trên 2 triệu hợp đồng, tăng 15% so vớI năm 2002, và tổng số phí bảo hiểm khai thác mớI đạt gần 2300 tỷ đồng, nâng tổng số hợp đồng đang có hiệu lực trên thị trường đến nay đạt con số gần 5.7 triệu hợp đồng. Tính đến 6 tháng đầu năm 2004, thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao về doanh thu phí bảo hiểm và số lượng hợp đồng bảo hiểm mớI khai thác, trong đó doanh thu phí ước tính đạt 3400 tỷ đống, tăng 21% so vớI cùng kỳ năm ngoái.
Về thị trường, các công ty bảo hiểm NT vẫn tiếp tục mở rộng thị trường và địa bàn khai thác, phát triển và hoàn thiện mạng lướI phân phốI bảo hiểm vớI các hình thức như đạI lý bảo hiểm, công ty đạI lý bảo hiểm NT…để mở rộng thêm thị phần, các công ty bảo hiểm cũng đã liên kết vớI các ngân hàng, ngân hàng làm đạI lý cho các công ty bảo hiểm nhân thọ và thanh toán phí cho các công ty bảo hiểm, điển hình như VCB làm đạI lý chính thức cho Prudenial và thực hiện thanh toán phí bảo hiểm qua hệ thống thẻ tự động ATM, Manulife hợp tác vớI Ngân hàng Đông Á, Bảo Việt hợp tác vớI ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn….
Tính đến năm 2003, số lượng đại lý bảo hiểm nhân thọ đã lên đến 95000 người, tăng khoảng 36% so với năm 2002.Tuy số lượng đạI lý bảo hiểm NT tăng, nhưng tình hình khai thác ngày càng khó khăn, năng suất khai thác trung bình (tính trên số sản phẩm chính và sản phẩm phụ) của một đạI lý đã giảm từ 2.12đơn/tháng trong năm 2002 xuống 1.75đơn/tháng năm 2003. Tình trạng cạnh tranh trong việc tuyển mớI đại lý đã diễn ra ngay trong các công ty bảo hiểm NT, các công ty bảo hiểm cũng đã chú trọng hơn trong việc nâng cao chất lượng và sắp xếp lạI đội ngũ đại lý.
Về sản phẩm bảo hiểm, thị trường bảo hiểm NT rất đa dạng các sản phẩm như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 -10 năm, bảo hiểm an sinh giáo dục, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm thương tật… Các công ty bảo hiểm NT luôn đưa ra những sản phẩm mớI thích ứng với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, như trong năm 2003, Bảo Việt đã đưa ra sản phẩm mớI như An Bình Hưu Trí, Prudential đưa ra sản phẩm bảo hiểm mớI “Phú Hoàn Mỹ”,”Phú thành tài ”, “Phú bình an”Manulife cũng đưa ra loạI hình bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí và giá trị hoàn lạI, bảo hiểm bổ trợ quyền lợI các bệnh lý quan trọng. Năm 2004, Bảo Việt cũng đưa ra sản phẩm mớI là “Quyền lợI miễn nộp phí bảo hiểm” và “Quyền lợI miễn nộp phí bảo hiểm đặc biệt”.
Như vậy ta thấy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có gần 9 năm hoạt động và bước đầu đã mang lạI những kết quả đáng khích lệ:quy mô hoạt động và doanh thu của thị trường liên tục tăng, sản phẩm đa dạng…số ngườI tham gia bảo hiểm liên tục tăng. Tuy nhiên nếu so vớI các nước có thị trường BHNT phát triển và các nước trong khu vực thì con số 4% ngườI tham gia bảo hiểm NT ở Việt Nam còn rất khiên tốn so vớI các nước như Nhật (90%), Singapore (50%), Indonesia(10%)….
III. BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
Nếu như trong loạI hình bảo hiểm NT có 5 công ty tham gia, thì trong loại hình bảo hiểm PNT có khoản 20 công ty tham gia.
Doanh thu phí bảo hiểm PNT liên tục tăng qua các năm, đây là xu hướng tốt. Nghiệp vụ bảo hiểm PNT rất đa dạng với các dạng như bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con ngườ, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xe cơ giớI, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm hàng hảI, bảo hiểm tín dụng rủI ro tài chính, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm xây dựng…
Nhìn chung trong thờI gian qua, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đều nỗ lực đáng kể trong việc khai thác những tiềm năng của thị trường còn bỏ ngỏ, mở rộng thị trường mớI, vận động chiến dịch tuyên truyền nhằm khuyến khích ngườI dân tham gia. Tuy nhiên theo đánh giá của Công ty tái Bảo hiểm quốc gia Vinare, thị trường bảo hiểm PNT Việt Nam có phát triển chưa cơ bản, chưa vững chắc, chưa đồng đều.
Các nghiệp vụ đốI ngoạI của thị trường bảo hiểm PNT phát triển ngày càng ổn định như nghiệp vụ bảo hiểm hàng không, trong 6 tháng đầu năm 2004 phí của nghiệp vụ này đạt trên 217tỷ VND, tăng 66% so vớI cùng kì năm ngoái. sở dĩ có kết quả như vậy là do trong năm 2003, hãng hàng không Việt Nam mua và thuê thêm 4 máy bay Boeing 777 nâng số lượng máy bay của hãng lên 34 chiếc. Trong thờI gian tớI, hàng không Việt Nam sẽ bổ sung thêm một chiếc Boeing 777, và 4 chiếc Airbus A312, số lương hành khách dự kiến rong năm là gần 5 triệu khách vớI trên 45000 chuyến bay. Việc này tạo điều kiện cho bảo hiểm hàng không ở Việt Nam phát triển hơn nữa trong tương lai.
Về nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ,trong 6 tháng đầu năm 2004, nghiệp vụ này đạt mức tăng trưởng 15% so vớI cùng kỳ, vớI doanh thu ước tính đạt 200 tỷ đồng mặc dù chưa triển khai quy định bảo hiểm bắt buộc đốI vớI cháy nổ. Mức độ bồI thường bảo hiểm cũng tăng cao, theo thống kê năm 2003, đã xảy ra hàng trăm vụ cháy lớn nhỏ, 6 tháng đầu năm 2004 đã xảy ra nhiều vụ cháy gây thiệt hạI cho ngườI và tài sản và đặc biệt có những trường hợp gây ra những tổn thất lớn cho bảo hiểm, điển hình là cháy nhà máy KhảI Hoàn (Đài Loan) ngày 27/03/2004 tổn thất tính khoản 50 tỷ VND, cháy nhà máy dệt PUYEN (Đài Loan ) ngày 3/3/2004 thiệt hạI khoản 60 tỷ, cháy nhà máy nhực TIUCO(Đài Loan) ngày 6/6/2004 thiệt hạI khoản 60 tỷ VND, …
Tình hình cháy nổ phức tạp như trên làm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình bồI thường nghiệp này, ước tính tỷ lệ tổn thất của nghiệp vụ trong 6 tháng đấu năm 2004, là 60% - đây là tỷ lệ tổn thất cao nhất kể từ năm 1989 đến nay. Nguyên nhân cơ bản là do vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy, sự cố đa phần tập trung ở các doanh nghiệp tư nhân, do thiếu mặt bằng sản xuất nên họ đã tận dụng triệt để diện tích đặt máy móc, thiết bị, khoảng lưu không hẹp nên rất dễ cháy. Do đó các nhà bảo hiểm hoả hoạn Việt Nam khi bảo hiểm cho các doanh nghiệp tư nhân, công ty vừa và nhỏ phảI hết sức cẩn trọng nhất là khi bảo hiểm cháy đã trở thành bắt buộc trong thờI gian tới.
Về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải,Trong những năm qua, thị trường bảo hiểm hàng hảI Việt Nam có mức tăng trưởng khá cao ở cả 3 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu. Chính sự phát triển kinh tế, trong đó là sự gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu và việc tập trung đầu tư trẻ hóa độI tàu biển là những tác nhân quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường,
Trong năm 2003, danh thu phí bảo hiểm hàng hoá vận chuyển của thị trường năm 2003 ước tính đạt trên 17 triệu USD, tăng khoảng 14% so vớI năm 2002. Sự gia tăng này có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước tăng cao, kim ngạch hàng nhập khẩu đạt 25 tỷ USD tăng 26.7% so vớI năm 2002, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng chủ yếu như máy móc, thiết bị, xăng dầu…Kim ngạch xuất khẩu đạt 19.9 tỷ USD tăng 19% so vớI năm 2002 chủ yếu ở các mặt àang dệt may, gạo, thủy sản…
Tổng kim ngạch bảo hiểm cho hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu và vận chuyển nộI địa hơn 10 tỷ USD, chiếm hơn 22% giá trị kim ngạch hàng xuất nhập khầu. Cụ thể giá trị hàng nhập khẩu tham gia bảo hiểm chiếm khoản 23%-25% tổng kim ngạch hàng nhập khẩu, đốI vớI hàng nhập khẩu, tỷ lệ này vào khoảng 5%-7% kim ngạch xuất khẩu.Tuy nhiên trong năm 2003, phí bảo hiểm hàng xuất khẩu chỉ vào khoảng 70-80% năm 2002, nguyên nhân là do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh ở Irac khíân cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang khu vực Trung đông như gạo, chè, café…bị cắt giảm trong khi đây lạI là thị trường mà các công ty bảo hiểm Việt Nam đã bảo hiểm được hầu như toàn bộ kim ngạch.
Một thực tế nữa ta nhận thấy rằng, gần đây kim ngạch xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Mỹ tăng nhưng bảo hiểm hàng xuất khẩu Việt Nam lạI không tăng tương ứng.Các nhà nhập khẩu Mỹ thường giành quyền mua bảo hiểm và các công ty Việt Nam lạI mua bảo hiểm của các công ty Mỹ vì nhà nhập khẩu Mỹ đòi hỏI rất cao dốI với bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm để có vấn đề phát sinh thì giảI quyết dễ dàng hơn. Do đó vấn đề là các nhà nhập khẩu Việt Nam phảI ủng hộ các công ty bảo hiểm trong nước mớI có thể tạ điều kiện cho bảo hiểm vận chuyển hàng hóa ngày càng phát triển.Có một kinh nghiệm cho các nhà bảo hiểm Việt Nam, đó là vừa qua, Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông đã ký biên bản hợp tác vớI một công ty bảo hiểm của Mỹ trong đó mỗI công ty khai thác triệt để khách hàng ở từng thị trường, liên doanh liên kết trong lĩnh vực bán bảo hiểm là hướng đi thích hợp của các doanh nghiệp bảo hiểm trong bốI cảnh hiện nay.
Về bảo hiểm thân tàu, trong những năm qua tình hình thị trường bảo hiểm thân tàu ở Việt Nam không được cảI thiện. Tỷ lệ bồI thường toàn thị trường liên tục ở mức cao qua các năm: 99% năm 1999,63% năm 2000, 93% năm 2001, 190% năm 2002 trong khi tỷ lệ phí bảo hiểm áp dụng cho các độI tàu hầu như không tăng hoặc có tăng cũng không đáng kể. Điển hình nhất là tổn thất bảo hiểm vớI số tiền sữa chữa lên đến 1.5 triệu USD vụ chìm tàu BACH DANG GIANG ngày 31/01/2003 ở Quảng Ninh. Ta thấy nguyên nhân chủ yếu là do đội tàu của Việt Nam có tuổi thọ trung bình khá cao, lạI ít được bảo dưỡng và thay thế trang thiết bị mới nên dễ phát sinh ra tổn thất cao.
Về nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp,cho đến thời điểm hiện nay, Groupma là nhà bảo hiểm nông nghiệp duy nhất của Việt Nam đang phảI ngừng các hoạt động khai thác mới. Trước đây, Bảo Việt cũng đã tham gia loạI hình bảo hiểm này nhưng tổn thất quá lớn (5 năm bù lỗ 2.5 tỷ đồng), còn Groupma 6 tháng đầu năm 2004 doanh thu chỉ đạt 5 triệu đồng. Như vậy khó khăng lớn nhất đối với loạI bảo hiểm này là tổn thất quá lớn trong kinh doanh, do đây là lĩnh vực có rất nhiều rủi ro nhất là trong hoàn cảnh có nhiều thiên tai dịch bệnh như ở Việt Nam.Trong trường hợp Groupma cũng ra đi thì bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam sẽ trở thành mảnh đất bỏ trống hoàn toàn. Đây là vấn đề nan giảI đặt ra cho các cấp quản lý, bộ tài chính nước ta trong thờI gian tới.
III.MÔI GIỚI BẢO HIỂM
Tại Việt Nam, hoạt động của các công ty môi giớ bảo hiểm vẫn chưa theo kịp vớI tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp bảo hiểm gốc. 5 công ty môi giớI (2 doanh nghiệp100% vốn nước ngoài và 3 công ty cổ phần) trên tổng số 20 công ty bảo hiểm còn quá khiêm tốn trong khi ở các nước trong khu vực, tỷ lệ giữa công ty môi giớI bảo hiểm trên công ty bảo hiểm gốc là singapore 36/158, malaysia 65/53, Indonesia 66/169.
Tại thị trường nước ngoài, những dịch vụ bảo hiểm do công ty môi giớI bảo hiểm thu xếp chiếm tớI 90% tổng phí bảo hiểm toàn thị trường, tạI Việt Nam tỷ lệ này rất thấp khoảng 1% trong đó tỷ lệ phí môi giớI bảo hiểm trên tổng phí bảo hiểm PNT của toàn thị trường mớI chỉ đạt 5%.Qua đó ta thấy, hoạt động môi giớI bảo hiểm ở Việt Nam còn khá mớI mẻ, môi giớI bảo hiểm vẫn còn đứng ngoài thị trường, do đó kết quả thu được từ lĩnh vực này chưa nhiều.
IV.TÁI BẢO HIỂM
Thị trừơng bảo hiểm Việt Nam chỉ có một công ty tái bảo hiểm duy nhất là Vinare,từ năm 1996 đến 2003, tổng phí bảo hiểm của Vinare vẫn tăng tương đốI ổn định, cụ thể năm 1996, phí tái bảo hiểm là 174 tỷ VND, năm 1997 là 204 tỷ, năm 1998 là 240 tỷ, năm 2000 là 263 tỷ, năm 2001 là 418 tỷ, năm 2003 là 619 tỷ. Trong bốI cảnh hiện nay, khi tình hình tái bảo hiểm trên thị trường thế giớI gặp nhiều khó khăn thì việc Vinare duy trì tốc độ tăng trưởng phí tái bảo hiểm như vậy hết sức đáng khích lệ.
B. DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI:
Xu hướng toàn cầu hoá trong mọI lĩnh vực của đời sống kinh tế đang ngày càng được khẳng định. Đặc biệt là từ khi các hiệp định về dịch vụ tài chính giữa nước ta vớI các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực được thông qua. Việc mở cửa thị trường và tự do hoá trong lĩnh vực tài chính trong đó có bảo hiểm ngày càng trở nên cấp thiết. Việc từng bước hộI nhập trong lĩnh vực bảo hiểm là một tất yếu khách quan, điều này càng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có nhiều cơ hộI phát triển tuy nhiên cũng đặt ra nhiều khó khăn thách thức trong thờI gian tới. Do đó, dự báo trong tương lai, thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ có những nét cơ bản như sau:
- Thị trường giàu tiềm năng.
Trong thờI gian nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng vớI tốc độ cao khoảng 7% /năm, cùng định hướng phát tiển nền kinh tế nhiều thành phần, môi trường kinh tế ngày càng được cảI thiện tạo ra nhiều cơ hộI đầu tư cho các ngành các lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ đó tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm phát triển. Cụ thể hơn, chính sự phát triển của của các hoạt động kinh tế xã hộI và quá trình hộI nhập quốc tế tạo ra nhiều nhu cầu cần bảo hiểm trong lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng, thương mạI, đầu tư quốc tế, viễn thông…
Thu nhập mức sống ngườI dân ngày càng được nâng cao dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm y tế cũng ngày càng được nâng cao. Mặt khác trình độ dân trí cũng như nhận thức của đạI đa số các tầng lớp dân cư về bảo hiểm được nâng cao, điều đó tạo ra tiền đề thuận lợI để phát triển các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.
Thị trường bảo hiểm PNT tạI Việt Nam hứa hẹn nhiều triển vọng, hàng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1.5 tỷ USD, chưa kể đến các hoạt động đầu tư ồ ạt trong nước hình thành những khu đô thị mớI, khu chế xuất, khu công nghiệp mớI … tạo cơ hộI mớI cho bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xây dựng, hàng không, xăng dầu, vận tảI phát triển.
Quan hệ hợp tác quốc tế phát triển, các quá trình chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực, việc ứng dụng các quy trình quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế được khuyến khích. Cùng vớI quá trình đó, các hoạt động tái bảo hiểm, đống bảo hiểm, hợp tác liên doanh trên phạm vị quốc tế sẽ không ngừng được mở rộng. Sự phát triển của thị trường ốn và chứng khoán sẽ mở ra những hướng phát triển mớI cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm vốn gắn liền vớI việc hình thành các quỹ tài chính có khả năng đầu tư. Cơ hộI này cho phép các công ty bảo hiểm đa dạnh hoá các hoạt động và tham gia theo hướng chuyên môn hoá vào lĩnh vực này.
- Thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ tiến tớI dần xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh tiến tớI thị trường cạnh tranh lành mạnh.
Hiện nay, tình trạng độc quyền trong kinh doanh bảo hiểm vẫn còn. Việc tồn tạI nhiều công ty Bảo hiểm dầu khí (PVI), công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO), cong ty bảo hiểm cổ phần Bưu điện (PTI)… đang tạo ra tình trạng độc quyền trong các ngành dầu khí, xăng dầu, bưu chính viễn thông. Điều này làm hạn chế quyền tự do lựa chọn tham gia bảo hiểm của các doanh nghiệp, tổ chức ngành không phù hợp vớI chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của nhà nước. Thực tế cho thấy,một số doanh nghiệp bảo hiểm và công ty cổ phần bảo hiểm chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợI ích cục bộ của ngành vớI sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính, mà không quan tâm đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, nâng cao năng lực tài chính, mở rộng phục vụ đến đông đảo khách hàng. Do đó trong bốI cảnh hộI nhập trong thời gian tớI, tình trạng trên phảI được cả thiện thì mớI có thể giúp thị trường bảo hiểm phát triển bền vững.
- Tạo điều kiện kêu gọI các công ty bảo hiểm đầu tư vào những lĩnh vực còn bỏ ngõ như bảo hiểm nông nghiệp.
- Thị trường bảo hiểm sẽ cạnh tranh khốc liệt hơn giữa các công ty bảo hiểm vớI nhau, giữa các công ty bảo hiểm Việt Nam và công ty bảo hiểm nước ngoài
Theo dự báo của các chuyên gia, từ nay đến năm 2010, số doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục tăng theo xu thế phát triển của ngành. Lộ trình của Việt Nam về lĩnh vực bảo hiểm đã được quy định rõ trong Hiệp định thương mại Việt Mỹ cho thấy, đến tháng 12/2005, phía Mỹ sẽ được thành lập các liên doanh về bảo hiểm và sau đó 2 năm sẽ thành lập các công ty 100% vốn nước ngoài. Cùng với quá trình đó là việc giảm bớt và đi đến xoá bỏ bảo hộ của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, tiến tớI cổ phần hoá các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, lúc đó sức ép cạnh tranh đốI vớI các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam tăng lên đáng kể khi phải cạnh tranh với những đốI thủ có tiềm lực mạnh về tài chính, Ngoài ra còn cạnh tranh về các mặt như chất lượng phục vụ, sự đa dạng hóa các dịch vụ bảo hiểm, giá cả dịch vụ,..trong khi đối với các doanh nghiệp bảo hiểm việt Nam công nghệ quản lý, kinh nghiệm quản lý, nguồn nhân lực vẫn còn yếu và thiếu. Do đó để có thể hội nhập, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cần đổi mới nhanh hơn nữa, tạo nguồn tài chính vững mạnh, tăng cường năng lực kinh doanh, ứng dụng công nghệ quản lý hiện đại, không ngừng xây dựng độI ngũ cán bộ, kỹ năng và phong cách làm việc chuyên nghiệp để phát triển lên những tầm cao mới.
SV: Lê Thị Vân Anh – NH3 K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 09/10/2004 :  23:51:16  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

A. ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM:
Hoạt động bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, là công cụ rất quan trọng để tạo môi trường đầu tư, thông qua môi trường này, nó cũng góp phần ngăn ngừa, hạn chế những rủi ro trong đời sống xã hội và đầu tư nói chung.
Trên thế giớI, hoạt động bảo hiểm đã xuất hiện từ rất lâu, ý niệm về bảo hiểm đã xuất hiện từ thờI cổ đại và ngành bảo hiểm đã ra đời tù thế kỷ 13. Ở Việt Nam, do điều kiện lịch sử và những nhân tố khách quan như chế độ phong kiến kéo dài, chiến tranh… không tạo ra những điều kiện cho ngành bảo hiểm hình thành và phát triển. Xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng cuốI thế kỷ 19, đấu thế kỷ 20, ngành bảo hiểm còn non trẻ, hầu hết chỉ là đạI lý cho các công ty nước ngoài, luật lệ quy định về bảo hiểm áp dụng theo luật của Pháp. Sau năm 1954, HộI đồng chính phủ Việt Nam lập công ty Bảo hiểm Việt Nam vào ngày 17/12/1964. Đến ngày 15/01/1965, công ty chính thức đi vào hoạt động.
Sau năm 1975, đất nước được thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hộI, Nhà nước ta đã tiến hành quốc hữu hoá các công ty bảo hiểm tập trung vào công ty bảo hiểm Việt Nam. Mãi đến tháng 12/1992, Bộ tài chính giao vốn cho Bảo Việt, và đến năm 1993, nghị định 100CP ra đời xoá bỏ giai đoạn độc quyền nhà nước tạo điề kiện cho hoạt động bảo hiểm phát triển. Tháng 12/2000, Luật kinh doanh bảo hiểm được quốc hộI thông qua. 8/2003, Chiến lược phát triển thị trường Bảo Hiểm Việt Nam đến năm 2010 do bộ tài chính biên soạn được Quốc HộI thông qua.
Từ năm 1994 đến nay, hoạt động bảo hiểm ớ Việt Việt Nam phát triển rõ rệt, số lượng các công ty bảo hiểm đã tăng lên đáng kể. Nếu vào năm 1994, chỉ có 3 công ty bảo hiểm là Bảo Việt, Bảo Minh, và công ty tái bảo hiểm Vinare thì đến nay số lượng các công ty bảo hiểm là 25 công ty với các hình thức đa dạng là công ty nhà nước, công ty cổ phấn, công ty liên doanh và 100% vốn nước ngoài. Nếu vào giai đoạn đầu, hoạt động bảo hiểm còn rất sơ khai về nghiệp vụ chủ yếu là bảo hiểm Phi Nhân Thọ (PNT) thì bây giờ lĩnh vực bảo hiểm mở rộng ra gồm bảo hiểm Nhân thọ (NT), Phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giớI bảo hiểm.
Doanh thu bảo hiểm toàn thị trường liên tục tăng qua các năm, nếu vào những năm 91, doanh thu chỉ đạt 207 tỷ, thì đến năm 1995 khi nhà nước ta xoá bỏ độc quyền bảo hiểm, tổng doanh thu đã tăng lên đến 1026 tỷ, và năm 2003 là 10490 tỷ, Qua đó ta thấy, tiềm năng của thị trường bảo hiểm còn rất lớn và trong tương lai sẽ phát triển mạnh hơn nữa.
I.BẢO HIỂM NHÂN THỌ:
Trong năm 2003, số hợp đồng khai thác mớI đạt trên 2 triệu hợp đồng, tăng 15% so vớI năm 2002, và tổng số phí bảo hiểm khai thác mớI đạt gần 2300 tỷ đồng, nâng tổng số hợp đồng đang có hiệu lực trên thị trường đến nay đạt con số gần 5.7 triệu hợp đồng. Tính đến 6 tháng đầu năm 2004, thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao về doanh thu phí bảo hiểm và số lượng hợp đồng bảo hiểm mớI khai thác, trong đó doanh thu phí ước tính đạt 3400 tỷ đống, tăng 21% so vớI cùng kỳ năm ngoái.
Về thị trường, các công ty bảo hiểm NT vẫn tiếp tục mở rộng thị trường và địa bàn khai thác, phát triển và hoàn thiện mạng lướI phân phốI bảo hiểm vớI các hình thức như đạI lý bảo hiểm, công ty đạI lý bảo hiểm NT…để mở rộng thêm thị phần, các công ty bảo hiểm cũng đã liên kết vớI các ngân hàng, ngân hàng làm đạI lý cho các công ty bảo hiểm nhân thọ và thanh toán phí cho các công ty bảo hiểm, điển hình như VCB làm đạI lý chính thức cho Prudenial và thực hiện thanh toán phí bảo hiểm qua hệ thống thẻ tự động ATM, Manulife hợp tác vớI Ngân hàng Đông Á, Bảo Việt hợp tác vớI ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn….
Tính đến năm 2003, số lượng đại lý bảo hiểm nhân thọ đã lên đến 95000 người, tăng khoảng 36% so với năm 2002.Tuy số lượng đạI lý bảo hiểm NT tăng, nhưng tình hình khai thác ngày càng khó khăn, năng suất khai thác trung bình (tính trên số sản phẩm chính và sản phẩm phụ) của một đạI lý đã giảm từ 2.12đơn/tháng trong năm 2002 xuống 1.75đơn/tháng năm 2003. Tình trạng cạnh tranh trong việc tuyển mớI đại lý đã diễn ra ngay trong các công ty bảo hiểm NT, các công ty bảo hiểm cũng đã chú trọng hơn trong việc nâng cao chất lượng và sắp xếp lạI đội ngũ đại lý.
Về sản phẩm bảo hiểm, thị trường bảo hiểm NT rất đa dạng các sản phẩm như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 -10 năm, bảo hiểm an sinh giáo dục, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm thương tật… Các công ty bảo hiểm NT luôn đưa ra những sản phẩm mớI thích ứng với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, như trong năm 2003, Bảo Việt đã đưa ra sản phẩm mớI như An Bình Hưu Trí, Prudential đưa ra sản phẩm bảo hiểm mớI “Phú Hoàn Mỹ”,”Phú thành tài ”, “Phú bình an”Manulife cũng đưa ra loạI hình bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí và giá trị hoàn lạI, bảo hiểm bổ trợ quyền lợI các bệnh lý quan trọng. Năm 2004, Bảo Việt cũng đưa ra sản phẩm mớI là “Quyền lợI miễn nộp phí bảo hiểm” và “Quyền lợI miễn nộp phí bảo hiểm đặc biệt”.
Như vậy ta thấy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có gần 9 năm hoạt động và bước đầu đã mang lạI những kết quả đáng khích lệ:quy mô hoạt động và doanh thu của thị trường liên tục tăng, sản phẩm đa dạng…số ngườI tham gia bảo hiểm liên tục tăng. Tuy nhiên nếu so vớI các nước có thị trường BHNT phát triển và các nước trong khu vực thì con số 4% ngườI tham gia bảo hiểm NT ở Việt Nam còn rất khiên tốn so vớI các nước như Nhật (90%), Singapore (50%), Indonesia(10%)….
III.BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
Nếu như trong loạI hình bảo hiểm NT có 5 công ty tham gia, thì trong loại hình bảo hiểm PNT có khoản 20 công ty tham gia.
Doanh thu phí bảo hiểm PNT qua các năm: Đơn vị (Tỷ đồng)
Doanh thu phí bảo hiểm PNT liên tục tăng qua các năm, đây là xu hướng tốt. Nghiệp vụ bảo hiểm PNT rất đa dạng với các dạng như bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con ngườ, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xe cơ giớI, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm hàng hảI, bảo hiểm tín dụng rủI ro tài chính, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm xây dựng…
Nhìn chung trong thờI gian qua, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đều nỗ lực đáng kể trong việc khai thác những tiềm năng của thị trường còn bỏ ngỏ, mở rộng thị trường mớI, vận động chiến dịch tuyên truyền nhằm khuyến khích ngườI dân tham gia. Tuy nhiên theo đánh giá của Công ty tái Bảo hiểm quốc gia Vinare, thị trường bảo hiểm PNT Việt Nam có phát triển chưa cơ bản, chưa vững chắc, chưa đồng đều.
Các nghiệp vụ đốI ngoạI của thị trường bảo hiểm PNT phát triển ngày càng ổn định như nghiệp vụ bảo hiểm hàng không, trong 6 tháng đầu năm 2004 phí của nghiệp vụ này đạt trên 217tỷ VND, tăng 66% so vớI cùng kì năm ngoái. sở dĩ có kết quả như vậy là do trong năm 2003, hãng hàng không Việt Nam mua và thuê thêm 4 máy bay Boeing 777 nâng số lượng máy bay của hãng lên 34 chiếc. Trong thờI gian tớI, hàng không Việt Nam sẽ bổ sung thêm một chiếc Boeing 777, và 4 chiếc Airbus A312, số lương hành khách dự kiến rong năm là gần 5 triệu khách vớI trên 45000 chuyến bay. Việc này tạo điều kiện cho bảo hiểm hàng không ở Việt Nam phát triển hơn nữa trong tương lai.
Về nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ,trong 6 tháng đầu năm 2004, nghiệp vụ này đạt mức tăng trưởng 15% so vớI cùng kỳ, vớI doanh thu ước tính đạt 200 tỷ đồng mặc dù chưa triển khai quy định bảo hiểm bắt buộc đốI vớI cháy nổ. Mức độ bồI thường bảo hiểm cũng tăng cao, theo thống kê năm 2003, đã xảy ra hàng trăm vụ cháy lớn nhỏ, 6 tháng đầu năm 2004 đã xảy ra nhiều vụ cháy gây thiệt hạI cho ngườI và tài sản và đặc biệt có những trường hợp gây ra những tổn thất lớn cho bảo hiểm, điển hình là cháy nhà máy KhảI Hoàn (Đài Loan) ngày 27/03/2004 tổn thất tính khoản 50 tỷ VND, cháy nhà máy dệt PUYEN (Đài Loan ) ngày 3/3/2004 thiệt hạI khoản 60 tỷ, cháy nhà máy nhực TIUCO(Đài Loan) ngày 6/6/2004 thiệt hạI khoản 60 tỷ VND, …
Tình hình cháy nổ phức tạp như trên làm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình bồI thường nghiệp này, ước tính tỷ lệ tổn thất của nghiệp vụ trong 6 tháng đấu năm 2004, là 60% - đây là tỷ lệ tổn thất cao nhất kể từ năm 1989 đến nay. Nguyên nhân cơ bản là do vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy, sự cố đa phần tập trung ở các doanh nghiệp tư nhân, do thiếu mặt bằng sản xuất nên họ đã tận dụng triệt để diện tích đặt máy móc, thiết bị, khoảng lưu không hẹp nên rất dễ cháy. Do đó các nhà bảo hiểm hoả hoạn Việt Nam khi bảo hiểm cho các doanh nghiệp tư nhân, công ty vừa và nhỏ phảI hết sức cẩn trọng nhất là khi bảo hiểm cháy đã trở thành bắt buộc trong thờI gian tới.
Về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải,trong những năm qua, thị trường bảo hiểm hàng hảI Việt Nam có mức tăng trưởng khá cao ở cả 3 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu. Chính sự phát triển kinh tế, trong đó là sự gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu và việc tập trung đầu tư trẻ hóa độI tàu biển là những tác nhân quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường,
Trong năm 2003, danh thu phí bảo hiểm hàng hoá vận chuyển của thị trường năm 2003 ước tính đạt trên 17 triệu USD, tăng khoảng 14% so vớI năm 2002. Sự gia tăng này có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước tăng cao, kim ngạch hàng nhập khẩu đạt 25 tỷ USD tăng 26.7% so vớI năm 2002, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng chủ yếu như máy móc, thiết bị, xăng dầu…Kim ngạch xuất khẩu đạt 19.9 tỷ USD tăng 19% so vớI năm 2002 chủ yếu ở các mặt àang dệt may, gạo, thủy sản…
Một thực tế nữa ta nhận thấy rằng, gần đây kim ngạch xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Mỹ tăng nhưng bảo hiểm hàng xuất khẩu Việt Nam lạI không tăng tương ứng.Các nhà nhập khẩu Mỹ thường giành quyền mua bảo hiểm và các công ty Việt Nam lạI mua bảo hiểm của các công ty Mỹ vì nhà nhập khẩu Mỹ đòi hỏI rất cao dốI với bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm để có vấn đề phát sinh thì giảI quyết dễ dàng hơn. Do đó vấn đề là các nhà nhập khẩu Việt Nam phảI ủng hộ các công ty bảo hiểm trong nước mớI có thể tạ điều kiện cho bảo hiểm vận chuyển hàng hóa ngày càng phát triển.Có một kinh nghiệm cho các nhà bảo hiểm Việt Nam, đó là vừa qua, Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông đã ký biên bản hợp tác vớI một công ty bảo hiểm của Mỹ trong đó mỗI công ty khai thác triệt để khách hàng ở từng thị trường, liên doanh liên kết trong lĩnh vực bán bảo hiểm là hướng đi thích hợp của các doanh nghiệp bảo hiểm trong bốI cảnh hiện nay.
Về bảo hiểm thân tàu, trong những năm qua tình hình thị trường bảo hiểm thân tàu ở Việt Nam không được cảI thiện. Tỷ lệ bồI thường toàn thị trường liên tục ở mức cao qua các năm: 99% năm 1999,63% năm 2000, 93% năm 2001, 190% năm 2002 trong khi tỷ lệ phí bảo hiểm áp dụng cho các độI tàu hầu như không tăng hoặc có tăng cũng không đáng kể. Điển hình nhất là tổn thất bảo hiểm vớI số tiền sữa chữa lên đến 1.5 triệu USD vụ chìm tàu BACH DANG GIANG ngày 31/01/2003 ở Quảng Ninh. Ta thấy nguyên nhân chủ yếu là do đội tàu của Việt Nam có tuổi thọ trung bình khá cao, lạI ít được bảo dưỡng và thay thế trang thiết bị mới nên dễ phát sinh ra tổn thất cao.
Về nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp,cho đến thời điểm hiện nay, Groupma là nhà bảo hiểm nông nghiệp duy nhất của Việt Nam đang phảI ngừng các hoạt động khai thác mới. Trước đây, Bảo Việt cũng đã tham gia loạI hình bảo hiểm này nhưng tổn thất quá lớn (5 năm bù lỗ 2.5 tỷ đồng), còn Groupma 6 tháng đầu năm 2004 doanh thu chỉ đạt 5 triệu đồng. Như vậy khó khăng lớn nhất đối với loạI bảo hiểm này là tổn thất quá lớn trong kinh doanh, do đây là lĩnh vực có rất nhiều rủi ro nhất là trong hoàn cảnh có nhiều thiên tai dịch bệnh như ở Việt Nam.Trong trường hợp Groupma cũng ra đi thì bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam sẽ trở thành mảnh đất bỏ trống hoàn toàn. Đây là vấn đề nan giảI đặt ra cho các cấp quản lý, bộ tài chính nước ta trong thờI gian tới.
III.MÔI GIỚI BẢO HIỂM
Tại Việt Nam, hoạt động của các công ty môi giớ bảo hiểm vẫn chưa theo kịp vớI tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp bảo hiểm gốc. 5 công ty môi giớI (2 doanh nghiệp100% vốn nước ngoài và 3 công ty cổ phần) trên tổng số 20 công ty bảo hiểm còn quá khiêm tốn trong khi ở các nước trong khu vực, tỷ lệ giữa công ty môi giớI bảo hiểm trên công ty bảo hiểm gốc là singapore 36/158, malaysia 65/53, Indonesia 66/169.
Tại thị trường nước ngoài, những dịch vụ bảo hiểm do công ty môi giớI bảo hiểm thu xếp chiếm tớI 90% tổng phí bảo hiểm toàn thị trường, tạI Việt Nam tỷ lệ này rất thấp khoảng 1% trong đó tỷ lệ phí môi giớI bảo hiểm trên tổng phí bảo hiểm PNT của toàn thị trường mớI chỉ đạt 5%.Qua đó ta thấy, hoạt động môi giớI bảo hiểm ở Việt Nam còn khá mớI mẻ, môi giớI bảo hiểm vẫn còn đứng ngoài thị trường, do đó kết quả thu được từ lĩnh vực này chưa nhiều.
IV.TÁI BẢO HIỂM
Thị trừơng bảo hiểm Việt Nam chỉ có một công ty tái bảo hiểm duy nhất là Vinare,từ năm 1996 đến 2003, tổng phí bảo hiểm của Vinare vẫn tăng tương đốI ổn định, cụ thể năm 1996, phí tái bảo hiểm là 174 tỷ VND, năm 1997 là 204 tỷ, năm 1998 là 240 tỷ, năm 2000 là 263 tỷ, năm 2001 là 418 tỷ, năm 2003 là 619 tỷ. Trong bốI cảnh hiện nay, khi tình hình tái bảo hiểm trên thị trường thế giớI gặp nhiều khó khăn thì việc Vinare duy trì tốc độ tăng trưởng phí tái bảo hiểm như vậy hết sức đáng khích lệ.
B. DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI:
Xu hướng toàn cầu hoá trong mọI lĩnh vực của đời sống kinh tế đang ngày càng được khẳng định. Đặc biệt là từ khi các hiệp định về dịch vụ tài chính giữa nước ta vớI các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực được thông qua. Việc mở cửa thị trường và tự do hoá trong lĩnh vực tài chính trong đó có bảo hiểm ngày càng trở nên cấp thiết. Việc từng bước hộI nhập trong lĩnh vực bảo hiểm là một tất yếu khách quan, điều này càng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có nhiều cơ hộI phát triển tuy nhiên cũng đặt ra nhiều khó khăn thách thức trong thờI gian tới. Do đó, dự báo trong tương lai, thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ có những nét cơ bản như sau:
- Thị trường giàu tiềm năng.
Trong thời gian nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng vớI tốc độ cao khoảng 7% /năm, cùng định hướng phát tiển nền kinh tế nhiều thành phần, môi trường kinh tế ngày càng được cảI thiện tạo ra nhiều cơ hộI đầu tư cho các ngành các lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ đó tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm phát triển. Cụ thể hơn, chính sự phát triển của của các hoạt động kinh tế xã hộI và quá trình hộI nhập quốc tế tạo ra nhiều nhu cầu cần bảo hiểm trong lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng, thương mạI, đầu tư quốc tế, viễn thông…
Thu nhập mức sống người dân ngày càng được nâng cao dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm y tế cũng ngày càng được nâng cao. Mặt khác trình độ dân trí cũng như nhận thức của đạI đa số các tầng lớp dân cư về bảo hiểm được nâng cao, điều đó tạo ra tiền đề thuận lợI để phát triển các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.
Thị trường bảo hiểm PNT tạI Việt Nam hứa hẹn nhiều triển vọng, hàng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1.5 tỷ USD, chưa kể đến các hoạt động đầu tư ồ ạt trong nước hình thành những khu đô thị mớI, khu chế xuất, khu công nghiệp mớI … tạo cơ hộI mớI cho bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xây dựng, hàng không, xăng dầu, vận tảI phát triển.
Quan hệ hợp tác quốc tế phát triển, các quá trình chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực, việc ứng dụng các quy trình quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế được khuyến khích. Cùng vớI quá trình đó, các hoạt động tái bảo hiểm, đống bảo hiểm, hợp tác liên doanh trên phạm vị quốc tế sẽ không ngừng được mở rộng. Sự phát triển của thị trường ốn và chứng khoán sẽ mở ra những hướng phát triển mớI cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm vốn gắn liền vớI việc hình thành các quỹ tài chính có khả năng đầu tư. Cơ hộI này cho phép các công ty bảo hiểm đa dạnh hoá các hoạt động và tham gia theo hướng chuyên môn hoá vào lĩnh vực này.
- Thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ tiến tớI dần xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh tiến tớI thị trường cạnh tranh lành mạnh.
Hiện nay, tình trạng độc quyền trong kinh doanh bảo hiểm vẫn còn. Việc tồn tạI nhiều công ty Bảo hiểm dầu khí (PVI), công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO), cong ty bảo hiểm cổ phần Bưu điện (PTI)… đang tạo ra tình trạng độc quyền trong các ngành dầu khí, xăng dầu, bưu chính viễn thông. Điều này làm hạn chế quyền tự do lựa chọn tham gia bảo hiểm của các doanh nghiệp, tổ chức ngành không phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của nhà nước. Thực tế cho thấy,một số doanh nghiệp bảo hiểm và công ty cổ phần bảo hiểm chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợI ích cục bộ của ngành vớI sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính, mà không quan tâm đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, nâng cao năng lực tài chính, mở rộng phục vụ đến đông đảo khách hàng. Do đó trong bốI cảnh hội nhập trong thờI gian tớI, tình trạng trên phảI được cả thiện thì mớI có thể giúp thị trường bảo hiểm phát triển bền vững.
- Tạo điều kiện kêu gọi các công ty bảo hiểm đầu tư vào những lĩnh vực còn bỏ ngõ như bảo hiểm nông nghiệp.
- Thị trường bảo hiểm sẽ cạnh tranh khốc liệt hơn giữa các công ty bảo hiểm với nhau, giữa các công ty bảo hiểm Việt Nam và công ty bảo hiểm nước ngoài
Theo dự báo của các chuyên gia, từ nay đến năm 2010, số doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục tăng theo xu thế phát triển của ngành. Lộ trình của Việt Nam về lĩnh vực bảo hiểm đã được quy định rõ trong Hiệp định thương mạI Việt Mỹ cho thấy, đến tháng 12/2005, phía Mỹ sẽ được thành lập các liên doanh về bảo hiểm và sau đó 2 năm sẽ thành lập các công ty 100% vốn nước ngoài. Cùng với quá trình đó là việc giảm bớt và đi đến xoá bỏ bảo hộ của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, tiến tới cổ phần hoá các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, lúc đó sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam tăng lên đáng kể khi phải cạnh tranh vớI những đối thủ có tiềm lực mạnh về tài chính, Ngoài ra còn cạnh tranh về các mặt như chất lượng phục vụ, sự đa dạng hóa các dịch vụ bảo hiểm, giá cả dịch vụ,..trong khi đốI vớI các doanh nghiệp bảo hiểm việt Nam công nghệ quản lý, kinh nghiệm quản lý, nguồn nhân lực vẫn còn yếu và thiếu. Do đó để có thể hộI nhập, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cần đổI mớI nhanh hơn nữa, tạo nguồn tài chính vững mạnh, tăng cường năng lực kinh doanh, ứng dụng công nghệ quản lý hiện đạI, không ngừng xây dựng độI ngũ cán bộ, kỹ năng và phong cách làm việc chuyên nghiệp để phát triển lên những tầm cao mới.
SV: Lê Thị Vân Anh – NH3 K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  00:29:42  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[font=Arial][font=Times New Roman]
Đánh giá chung về thị trường Bảo Hiểm Việt Nam
Thị trường Bảo Hiểm VN có những bước phát triển khá tốt trong thời gian qua, cùng với xu thế phát triển chung của nền KT-XH,hoạt động kinh doanh BH có những bước phát triển mạnh mẽ và tăng trưởng về nhiều mặt.BH VN ra đời từ năm 1965 với công ty đầu tiên là Bảo Việt, nhưng vẫn còn chưa phát triển và mạng lưới đại lý còn khiêm tốn.
Dưới sức ép mở cửa thị trường và hội nhập vào các tổ chức kinh tế của thế giới, cùng với thu nhập của người lao động ngày càng tăng, đã mở ra cơ hội mới cho thị trường BH VN.
Từ những yếu tố khách quan đó, cùng với sự ban hành của Nghị định 100/ND-CP(1994-2000)đã tạo điều kiện cho thị trường BH VN phát triển nhanh chóng, từ chỗ có một doanh nghiệp Bảo hiểm, đến nay đã phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của nhiều doanh nghiệp với nhiều hình thức khác nhau, từ doanh nghiệp nhà nước đến doanh nghiệp cổ phần, daonh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài...Cụ thể, có 4 doanh nghiệp nhà nước, 3 doanh nghiệp cổ phần, 6 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 12 doanh nghiệp liên doanh và hơn 76000 người làm đại lý bảo hiểm.
Tuy việc xuất hiện ngày càng nhiều các DN Bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau, nhưng nhìn chung các Doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vị trí chủ đạo về thị phần :
Bảo Việt năm 1995 chiếm 83.07%,1997 là 63.15%, 2000 là 50.9%, 2003 là 41.68%.
Bảo Minh năm 1995 chiếm 15.4%, 1997 là 21.33%, 2000 là 25.10%, 2003 là 23.52%.
Năm 2003 PJICO chiếm 9.27%, PVIC chiếm 13.82%.
Qua đó ta thấy đươc sự tự do hoá của thị truờng BH VN ngày càng tăng, nó đã tạo cơ hội cho các cty BH không thuộc nhà nước phát triển. Và các cty BH nhà nước cũng đang có xu hướng cổ phần hoá để mở rộng quy mô, và cung cấp nhiều dịch vụ hơn cho khách hàng. Đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước với các cty kinh doanh bảo hiểm khác.
Thị trường BH VN đang phát triển mạnh mẽ thể hiện qua việc doanh thu phí BH tăng liên tục trong các năm gần đây:
Năm 1999 tổng doanh thu đạt 2077 tỉ đồng, tăng 210 tỉ so với năm 1998, tỉ lệ tăng 11.23%. Trong đó doanh thu phí BH nhân thọ là 480 tỉ, phi nhân thọ là 1597 tỉ.
Năm 2003 vừa qua, tình hình doanh thu như sau: tổng doanh thu đạt 10400 tỉ, trong đó doanh thu phí BH nhân thọ là 6397 tỉ, phi nhân thọ là 4003 tỉ.
Tốc độ tăng trưởng toàn thị trường là 48%, trong đó tăng trưởng doanh thu phí BH nhân thọ là 53%, phi nhân thọ là 40%.
Bên cạnh sự phát triển một cách có hiệu quả đó, thị trường BH VN còn nhiều hạn chế chưa khắc phục được:
Nhu cầu của thị trường BH VN ngày càng lớn trong khi năng lực tài chính của nhiều cty BH còn thấp.
Tình trạng độc quyền của BH nhà nước vẫn còn tồn tại. Nhiều cty BH chuyên nghành chỉ quan tâm tới lợi ích cục bộ, không tăng năng lực tài chính và mở thêm nhiều dịch vụ phục vụ cho khách hàng như cty BH dầu khí...tình trạng cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn xảy ra.
Hoạt động môi giới BH còn chưa phát triển, nhiều lĩnh vực giàu tiềm năng khác chưa khai thác triệt để như: nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ-hải sản...
Tuy nhiên trên đà hội nhập vào nền kinh tế thế giói, đặc là khi gia nhập WTO sẽ mở ra nhiều cơ hội mơi cho BH VN, có thể học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác, tăng khả năng cạnh tranh của BH VN trên trường quốc tế. Thị trường BH VN rất giàu tiềm năng dặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, do đó BH VN sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Nguyễn Xuân Hoà NH2-K27

font=Arial][/font=Arial][font=Times New Roman][/font=Times New Roman][/font=Times New Roman][/font=Arial]

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  02:08:19  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Sau hơn 10 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng, đóng góp đáng kể cho việc giảm thiểu các rủi ro trong sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội; cải thiện môi trường đầu tư, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội. Phạm vi quy mô của thị trường bảo hiểm phát triển đáng kể, từng bước đáp ứng được sự phát triển và ổn định nền kinh tế xã hội. Ngoài việc đóng vai trò tích cực đối với việc ổn định nền kinh tế xã hội, đời sống nhân dân, doanh thu phí bảo hiểm đạt 10.500 tỷ đồng năm 2003(chiếm 1,7% GDP), đã tạo lập được nguồn vốn lớn để đầu tư trung và dài hạn cho nền kinh tế. Gia tăng số lao động trong ngành bảo hiểm lên hơn 70- 80 lần, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Thị trường bảo hiểm đã hình thành đầy đủ với các yếu tố thị trường, đa dạng hóa thành phần sở hữu các doanh nghiệp bảo hiểm. Nội dung và lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm được mở rộng, không chỉ đơn thuần bảo hiểm gốc mà còn bao gồm hoạt động tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ và môi giới bảo hiểm. Chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm được cải thiện một bước rõ rệt ở việc đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm bảo hiểm nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế, tổ chức và dân cư. Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Năm 2003 là một năm rất quan trọng và có ý nghĩa đối với ngành bảo hiểm vì đây là năm mà môi trường pháp lý về kinh doanh bảo hiểm đã được hoàn thiện hơn một bước. Năm 2003, các doanh nghiệp bảo hiểm đã đóng góp vào ngân sách Nhà nước gần 500 tỷ đồng, đầu tư trở lại nền kinh tế quốc dân trên 15.000 tỷ đồng. Các doanh nghiệp bảo hiểm là những đơn vị đi đầu trong việc mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu kho bạc với số lượng lớn. Một số công trình kinh tế trọng điểm được đầu tư bằng vốn vay của doanh nghiệp bảo hiểm. Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cho đến nay đã thu hút được trên 7.000 cán bộ công nhân viên vào làm việc, 114 ngàn đại lý bảo hiểm, trong đó 20 ngàn đại lý bảo hiểm phi nhân thọ và 94 ngàn đại lý bảo hiểm nhân thọ chuyên nghiệp cùng một số lượng lớn đại lý bán chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ gặp nhiều khó khăn. Cơ cấu sản phẩm của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có những thay đổi nhất định tỷ trọng doanh thu của nhóm bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tai nạn con người và bảo hiểm hàng hải tăng lên. Tuy nhiên, trong nhiều lĩnh vực các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn còn đứng ngoài cuộc như: bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp... Năm 2003, hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đã đăng ký với Bộ Tài chính tăng thêm sản phẩm bảo hiểm mới. Trong hơn 500 sản phẩm bảo hiểm hiện nay thì có gần 200 sản phẩm bảo hiểm con người, trên 250 sản phẩm bảo hiểm tài sản và gần 100 sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm. Tổng doanh thu phí bảo hiểm năm 2003 là 10.327 tỷ đồng, tăng so với năm 2002 là 33,6%, trong đó bảo hiểm nhân thọ đạt doanh thu 6.442 tỷ đồng (tăng 38,7%) với tổng số hợp đồng bảo hiểm mới là 2.070.816 hợp đồng (tăng 16,4% so với năm 2002) và tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến cuối năm 2003 là 5.606.237 hợp đồng (tăng 41% so với năm 2002), tỷ lệ này mới tương đương với 6% dân số Việt Nam, tỷ lệ còn quá thấp. Bảo hiểm phi nhân thọ đạt tổng doanh thu 3.885 tỷ đồng, tăng 26,2%, nhiều doanh nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng trên 100% trong khi vẫn còn có doanh nghiệp có dấu hiệu chững lại.
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam có phát triển chưa cơ bản, chưa vững chắc, chưa đồng đều, vẫn còn ở tình trạng “đánh trống bỏ dùi" và đặc biệt là chưa thành nếp.
Hầu hết các nghiệp vụ đối ngoại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đều phát triển ổn định như: nghiệp vụ bảo hiểm hàng không, phí của nghiệp vụ này đạt trên 217 tỷ VND, tăng 66% so với cùng kỳ năm 2003. Sở dĩ nghiệp vụ này có bước nhảy vọt lớn như vậy là do năm nay Vietnam Airlines mua và thuê thêm hàng loạt máy bay mới.
Qui định bảo hiểm bắt buộc đối với cháy nổ chưa được triển khai nhưng nghiệp vụ này vẫn có tốc độ tăng trưởng ổn định là 15%, với phí thu đạt ước 200 tỷ VND.
Bảo hiểm hàng hóa XNK của Việt Nam trong 6 tháng qua đạt ước trên 160 tỷ VND phí- tăng 21% so với cùng kỳ này năm trước. Sở dĩ nghiệp vụ này có tốc độ tăng trưởng cao là do năm nay hàng hóa XNK của ta đạt tương đối cao (XK đạt 11,8 tỷ USD tăng 19,8%, nhập khẩu đạt 14,169 tỷ USD tăng 14,7%), tỷ lệ hàng được bảo hiểm có xu hướng tăng hơn năm trước.
Ngược lại các nghiệp vụ đối nội của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam phát triển không đồng đều, điển hình như nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới: Cùng thời điểm này năm trước tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm gốc có tiến hành bảo hiểm xe cơ giới đều ra quân đồng loạt thu phí bảo hiểm xe cơ giớí nên gây ra cơn sốt bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe, nhưng năm nay loại hình này có vẻ “im ắng” hơn, phí bảo hiểm của lọai hình này không nhúc nhích, thậm chí còn giảm sút ở một số Công ty.
Nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp còn ảm đạm hơn nhiều, hiện nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 Công ty tiến hành bảo hiểm nông nghiệp là Bảo Việt và Groupama- Công ty của Pháp.
DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Sẽ có thêm các tập đoàn bảo hiểm lớn, có nhiều kinh nghiệm lẫn nguồn tài chính vững mạnh đầu tư vào thị trường Việt Nam. Từ đó sẽ xảy ra tình trạng cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm.
Bảo hiểm nhân thọ sẽ cạnh tranh khốc liệt hơn.
Phạm vi bảo hiểm sẽ được nghiên cứu mở rộng.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn tiếp tục tăng mạnh.
Các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cải tiến về chất lượng, phục vụ khách hàng tốt hơn cùng điều kiện đảm bảo có lợi hơn cho khách hàng.

SINH VIÊN: NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
LỚP NGÂN HÀNG 1 - KHÓA 27







Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  02:18:06  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam
Đánh giá
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng đã thay đổI và phát triển nhanh chóng trong xu thế mở cửa và hội nhập, từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất 100% vốn nhà nước là Bảo Việt(1993) , đến nay có 25 công ty bảo hiểm gồm: 19 công ty bảo hiểm,5 công ty môi giới bảo hiểm, 1 công ty tái bảo hiểm đang cùng tham gia kinh doanh trên thị trường bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau như doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đã làm thay đổi căn bản hoạt động của ngành bảo hiểm trong cả hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ, n âng t ổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng lên từ 157 tỷ VND(1996) lên 2348tỷ VND(1999) và 3647 tỷ VND(2001), đ ồng thời số lượng các đại lý tăng nhanh chóng từ trên 35.000 trong năm 2001 đến nay đ ã lên 100.000 đại lý, doanh thu bảo hiểm toàn thị trường tăng từ 741 tỷ VNĐ năm 1994 đến 10490 tỷ năm 2003, gấp 14,2 lần so với năm 1994 và chiếm tỷ trọng 1.7%/GDP.Hiện nay mức tăng trưởng của thị trường bảo hiểm VN vẫn được đánh giá cao với tăng trưởng bình quân khoảng 23-25% trong đó 16-18%/năm với bảo hiểm phi nhân thọ và khoảng 35-40% vớI bảo hiểm nhân thọ.
Chính sự gia tăng về số lượng công ty bảo hiểm và sự đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm đã xoá bỏ tình trạng độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm mà các sản phẩm bảo hiểm được cung cấp ra thị trường ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu khách hàng. Trước năm 1993 thị trường bảo hiểm mớI chỉ có 22 sản phẩm bảo hiểm chủ yếu tập trung vào các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ truyền thống. đến nay đã có hơn 100 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ thuộc cả ba lĩnh vực bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của người tham gia bảo hiểm.
Bên cạnh đó, sự ra đời của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam bước đầu đã thể hện được vai trò quan trọng giúp cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
Dự báo:
Thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ phát triển nhanh trong thời gian tớI vì đây là thị trường đầy ti ềm năng.
Nền kinh tế VN trong thời gian qua tăng trưởng nhanh (tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam tăng trên7%/năm) cùng vớI định hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần sẽ tạo nhiều cơ hộI đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh cho các ngành và lĩnh vực đặc biệt lĩnh vực công nghiệp,cơ sở hạ tầng thương mại, đầu tư quốc tế, viễn thông… , từ đó tạo cơ hộI các doanh nghiệp và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ phát triển.
Sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ góp phần làm tăng thu nhập của ngườI dân và dân số của Việt Nam đến nay đã trên 80 triệu dân. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của dân cư ngày càng đ ược cảI thiện, làm tăng nhu cầu về bảo hiêm y tế và sức khoẻ. mặt khác trình độ dân trí cũng như nhận thức của đạI đa số các tầng lớp dân cư về bảo hiểm được nâng cao, điều đó tạo những tiền để thuận lợI đ ể phát triển các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.
Thị trường bảo hiểm VN sẽ phát triển theo xu hướng hội nhập với thị trường bảo hiểm quốc tế. Việt Nam sẽ gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào năm 2005, thị trường bảo hiểm phảI xoá bỏ phân biệt đối xử và bình đẳng trong hoạt động bảo hiểm. Như vậy, trong thời gian tới chắc chắn cánh cửa thị trường bảo hiểm sẽ rộng mở đối với các nước trong khu vực trong xu thế toàn cầu hoá.Các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm sẽ đa dạng h ơn, phục vụ tốt hơn cho khách hàng. Tuy nhiên sự mở cửa thị trường sẽ tạo ra tình trạng chia cắt thị trường đặt ra những thách thức cho các doanh nghiệp bảo hiểm VN vì những công ty bảo hiểm nước ngoài có nhiều vốn,sản phẩm đa dạng ,công nghệ tiên tiến, đầu tư quảng bá sản phẩm, chất lượng dịch vụ tốt hơn.Vấn đề mấu chốt hiện nay đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước là phải nhanh chóng tổ chức và sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo hướng tập trung chuyên môn hoá, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính dưới nhiều hình thức, đa dạng hoá cơ cấu sở hữu, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước tham gia góp vốn dưới hình thức công ty cổ phần.
dang nhu an
lop NH2
Lên đầu trang

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  02:25:42  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Thầy ơi, mấy bạn viết dài quá em đọc không hết.

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  02:39:18  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Tiềm Năng Của thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam Bao Giờ Sẽ Được Khai Thác Hết ?

Một thị trường bảo hiểm được đánh giá là tiềm năng hay không là phụ thuộc vào nhiều nhân tố trong đó hai nhân tố chủ yếu là :
· tình hình dân số của quốc gia
· tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia
Theo các số liệu thống kê ta có thể nhận định được rằng thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thập kỷ qua phát triển rất nhanh (chiếm khoảng 2,3% GDP của nền kinh tế) ; và được dự báo là một thị trường tiềm năng trong tương lai. Là quốc gia dân số đông ,trẻ và có tốc phát triển kinh tế cao (chính phủ dự báo 2004 dân số VN khoảng 85triệu ,tốc độ phát triển hơn 7,5%) nên sự phát triển và triển vọng đó được đánh giá là có cơ sở. Nhưng vấn đề đặt ra cho TTBHVN trong tương lai :
· TTBHVN sẽ được khai thác như thế nào bằng các giải pháp gì để duy trì và đẩy mạnh tốc độ phát triển đạt được trong nhưng năm qua. Trong xu thế toàn cầu hóa TTBHVN sẽ được mở cửa là tất yếu khi đó các công ty BHVN với lợi thế “sân nhà” có thể khai thác được tiềm năng đó hay không ? Và mỗi loại hình công ty sẽ xây dựng cho mình một chiến lược phát triển cụ thể ra sao để thích ứng tồn tại và phát triển trong xu thế hòa nhập đó.
· Vấn đề thứ hai đặt ra là tiềm năng đó của TTBHVN bao giờ sẽ cạn kiệt ? Và như thế cần phải làm gì để duy trì và tạo ra một tiềm năng lớn hơn trong tương lai ?

NGUYỄN VĂN GIANG
LỚP NH2 K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  03:08:29  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Dự báo về xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm việt nam:
Theo tôi trong tương lai thị trường Bảo hiểm Việt Nam sẽ phát triển sôi nổi.Như ta biết thì sự phát triển của Bảo hiểm gắn liền với sự phát triển của kinh tế, cụ thể hơn sự phát triển của bảo hiểm đi đôi với sự tăng trưởng của GDP.Và theo sự dự đóan của quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì trong những năm tới đây GDP của VN sẽ tăng trưởng với tốc độ từ 7%-7.5%.Với tốc độ tăng trưởng cao như thế theo tôi thị trường Bảo Hiểm VN Sẽ phát triển mạnh.
GDP tăng đi đôi với tăng mức sống của người dân.mà một khi mức sống của người dân tăng thì nhu cầu mua Bảo Hiểm của họ cũng tăng theo. Đơn giản la vì một khi mức sống gia tăng thì tâm lý của con người càng muốn bảo vệ những gi mình có
Dẫn chứng cho những nhận định trên tôi xin trích một vài số liệu cụ thể:Tốc dộ tăng GDP của VN qua các năm 95(9.54%), 96(9.34%), 97(8.15%), 98(5.83%),99(4,8%), 2000(6.7%).Tổng doanh thu bảo hiểm tương ứng(tỷ đồng): 1026,1288,1341,1664,1593,1798
Bên cạnh việc gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thì sự phát triển của bảo hiểm cũng phụ thuộc vào sự phát triển của trình độ dân trí.Bởi vì khi trình dộ dân trí phát triển thì người dân càng có cái nhìn dúng hơn về Bảo Hiểm.Họ sẽ thấy dược tầm quan trọng của Bảo Hiểm trong đời sống hiện đại.Nói về vấn dề này thì trong những năm gần đây nước ta đã không ngừng nâng cao trình độ dân trí: Tỷ lệ người mù chữ giảm mạnh thay vào đó là sự tăng trưởng cao của tỷ lệ số người có trình độ Đại Học.Đây là một tín hiệu vui cho thị trường Bảo Hiểm VN
Ngoài ra VN đang trong quá trình hội nhâp quôc tế:cụ thể la VN sẽ gia nhập WTO vao năm 2005.Khi hoàn tất tiến trình hội nhập thì sẽ mở ra sự phát triển mới cho VN Nhưng kèm theo sự phát triển này là những rủi ro về Thương mại(Khi hội nhập thì sự cạnh tranh sẽ diễn ra rất khốc liệt điều này làm tăng những rủi ro trong kinh doanh).Do đó tăng cầu về Bảo Hiểm thương mại
Ngòai những yếu tố trên thì những rủi ro đến từ thiên nhiên cũng góp phần làm tăng nhu cầu Bảo Hiểm của người dân.Trong những năm gần đây và trong những năm sắp tới thì những hiểm họa dến từ thiên nhiên của VN noi riêng và của thế giới nói chung sẽ gia tăng. Chính diều này cũng góp phần làm tăng cầu về Bảo Hiểm
Những yếu tố trên là những yếu tố làm tăng cầu về Bảo Hiểm. Còn những yếu tố làm tăng cung thì sao.Đối với những yếu tố này thì VN cũng có những tín hiệu khách quan.Cụ thể là thị trường Bảo Hiểm VN đang trong xu hướng xóa bỏ độc quyền thay vào đó là sự cạnh tranh lành mạnh.Dẫn chứng cho những nhận định này tôi xin trích một vài số liệu về thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm qua các năm:thị phần của BẢO VIỆT qua các năm:95(83.07%), 96(69.06%), 97(63.15%), 98(59.71%),99(56.86%), 2000(50.90%), 2001(45.975%), 2002(40.39%),và 2003(41.68%).Như ta thấy thì Bảo Việt đang mất dần thị phần của mình thay vào dó la sự lớn mạnh không ngừng của các doanh nghiệp BẢO MINH,BẢO LONG, PJICO, PVIC, VIA,...
Ngoài ra thìkhi hội nhập quốc tế thì khả năng phát triển của các doanh nghiệp Bảo Hiểm VN sẽ tăng


Tuy nhiên bên cạnh những tiềm năng phát triển như vậy thì thị trường bảo hiểm VN hiện đang chứa những bất cập:
+Chất lượng của các dịch vụ Bảo Hiểm thấp
+Nước ta vẫn mang tư tưởng Á ĐÔNG: vẫn rất ngại nói về rủi ro
+Chưa phát triển dược đội ngũ cán bộ thật sự có năng lực trong lĩnh vực này
+Mức sống của ngườidân vẫn còn thấp
+.............



NGUYỄN HUY QUANG
NH3-K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  03:23:39  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Trần Khánh Vy
Lớp: NH3
Khóa: 27

ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO VỀ TÌNH HÌNH BẢO HIỂM VIỆT NAM.
I. Đánh giá:
1. Thị phần:
Bảo Việt đã giảm còn khoảng 45% (năm 2003). Đây là tín hiệu tốt cho thị trường Bảo hiểm Việt Nam, nó cho thấy thế độc quyền nhà nước dần được xóa bỏ. Tuy nhiên nếu xét riêng từng mặt ( bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tài sản , bảo hiểm hàng hóa vận chuyển..) thì Bảo Việt vẫn chiếm ưu thếcần trao quyền cho các Doanh nghiệp Bảo hiển khác nhằm mục đích dùng sức mạnh kinh tế chứ không dùng sức mạnh hành chính để thu hút khách hàng.
Bảo Minh CMG phát triển dần qua các năm , giữ thế ổn định, tạo thế cân bằng cùng Bảo Việt. Nguyên nhân:
Bảo Minh ra đờI từ lâu( từ sau năm 1975) nên đúc kết được nhiều kinh nnghiệm và tích lũy lực lượng cán bộ có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm.
Phát triển trong lòng Bảo Việt nên có phạm vi hoạt động rộng khắp Tp. Hồ Chí Minh.Sau khi tách riêng đã nhanh chóng mở rộng mạng lướI chi nhánh.
PVIC và PJICO đứng vững vớI thị phần cho là khá cao đốI vớI công ty mớI thành lập. Nguyên nhân:
Đây là các công ty bảo hiểm chuyên ngành nên có lượng khách hàng lớn .Có ưu điểm là thu hút vốn của các ngành khác vào bảo hiểm ,bên cạnh đó còn khai thác triệt để tiềm năng của thị trường Việt Nam.Tuy nhiên nhược điểm là dễ dẫn tớI việc độc quyền các cứ.

2. Số lượng các đạI lý:

DNBH 2001 2002 2003
Bảo Việt
Prudential
AIA
Bảo Minh CMG
Manulife Việt Nam 12800
17210
6158
1502
4630 17860
36398
4680
4565
6347 25461
38000
15502
6952
8532

3. Vai trò của doanh nghiệp Bảo hiểm nhà nước đốI vớI sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam:
(tính đến ngày 13-09-2004, 09:29 am GMT+7)

Bảo Việt
Bảo Minh CMG
Prudential
Manulife Việt Nam
AIA 41
2.6
38
12.6
5.8

Như vậy doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam vẫn chiếm lợI thế trên thị trường bảo hiểm hiện nay.Không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng cao, hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn đóng vai trò tích cực là “lá chắn kinh tế”, ổn định nền kinh tế và đờI sống nhân dân như việc thu hút lao động ( hơn 50% lao động trong ngành), góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho xã hội. Bên cạnh đó, năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn được nâng cao và đã tạo lập nguồn vốn lớn và dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế.




II. Dự báo
1. Bảo hiểm Việt Nam đang phát triển theo hướng hộI nhập (tất yều của quá trình tự do hóa các hoạt động và dịch vụ bảo hiểm)

Tác động của việc mở cửa của thị trường đốI vớI ngành bảo hiểm
(02-2004)
Tiềm lực về vốn của doanh nghiệp bảo hiểm theo hình thức sở hữu
Đơn vị tính: tỷ đồng

LoạI hình DNBH Số lượng DNBH Vốn điều lệ Vốn kinh doanh
Tổng số TB/1DN Tổng số TB/1DN
DNBH nhà nước 4 3162.0 790.5 3421.0 855.3
Trừ Bảo Việt 3 162.0 54.0 421.0 140.3
Công ty Cổ phần 3 185.0 61.7 185.0 61.7
Công ty Liên doanh 6 561.1 93.5 610.9 101.8
Công ty 100% vốn nước ngoài 5 1880.1 376.0 1880.1 376.0

Hiện đang đốI mặt vớI nhiều doanh nghiệp Bảo hiểm nước ngoài có tiềm lực tài chính vững mạnh, kinh nghiệm hoạt động lâu đờI trên phạm vi toàn cầu và trình độ chuyên môn cao.
Thực tế đã yêu cầu: cần tăng vốn điều lệ bằng việc bổ sung vốn tự có từ lợI nhuận, trích chuyển một phần từ dự phòng dao động, sáp nhập vớI doanh nghiệp bảo hiểm khác để nâng cao tốc độ tăng trưởng. Thuê chuyên gia nước nhằm từng bước khắc phục sự lạc hậu về công nghệ và non yếu về tay nghề chuyên môn.
mục tiêu: bảo vệ lợI ích của nước chủ nhà đồng thờI tăng lợI thế cạnh tranh trên trường quốc tế.
2. Thị trường tiềm năng:
Hiện mức tăng trưởng của thị trường bảo hiểm Việt Nam được đánh giá cao vớI mức tăng trưởng bình quân khoảng 23-25%. Trong đó 16-18% / năm vớI bảo hiểm phi nhân thọ và khoảng 35-45 % / năm vớI bảo hiểm nhân thọ.
Định hướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh, đưa ra nhiều cơ hộI cho doanh nghiệp và thị trường bảo hiểm.
Hàng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1.5 tỷ $ chưa kể đến các hoạt động đầu tư ồ ạt trong nước.
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  03:47:16  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[black][/black][font=Times New Roman][/font=Times New Roman][size=3][/size=3]
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  03:54:41  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
1/ Đánh giá chung về thị trường bảo hiểm ở Vi ệt Nam:

§ Những năm gần đây thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng trở nên sôi động với sự tham gia của nhiều công ty bảo hiểm trong và ngoài nước.
§ Sự phát triển kinh tế của nước ta những năm gần đây cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thị trường bảo hiểm.
§ Ngành Bảo hiểm Việt Nam trong năm 2003 đã có những bước phát triển ổn định và vững chắc với tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt trên 10.490 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2002.
§ Thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng vượt bậc mặc dù trong năm 2003 trên thế giới có nhiều biến động.
§ Các công ty bảo hiểm đã có củng cố và đổi mới các nghiệp vụ, nâng cao chất lượng phục vụ.
§ Nhìn chung,thị trường bảo hiểm có chiều hướng phát triển nhưng phạm vi và qui mô của thị trường còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế, môi trường cạnh tranh giữa càc công ty bảo hiểm còn chưa lành mạnh,…

*Bảo hiểm phi nhân thọ:
§ Trong tổng doanh thu phí bảo hiểm năm 2003 thì bảo hiểm phi nhân thọ đạt khoảng 3.990 tỷ đồng, tăng 26% so với năm trước.
§ Ngoài sự tác động của nền kinh tế, các công ty bảo hiểm đã có nhiều nổ lực trong việc tìm kiếm và khai thác những tiềm năng của thị trường mới, đồng thời tổ chức nhiều chiến dịch tuyên truyền đến người dân. Tuy nhiên, việc tìm kiếm và khai thác thị trường mới này lại diễn ra với chiều hướng phức tạp.
§ Mặc dù bảo hiểm phi nhân thọ đã được triển khai lâu năm nhưng nhiều hoạt động sản xuất kinh danh có tỷ trọng tham gia bảo hiểm vẫn còn thấp.

*Bảo hiểm nhân thọ:
§ Trong tổng doanh thu phí bảo hiểm năm 2003 thì bảo hiểm nhân thọ đạt 6.500 tỷ đồng, tăng gần 41% so với năm 2002.
§ Nhìn chung, thị trường bảo hiểm nhân thọ đã có những bước chuyển biến phù hợp với nền kinh tế.
§ Tình hình khai thác bảo hiểm nhân thọ ngày càng khó khăn hơn.
§ Điểm nổi bậc trong năm 2003 là sự xuất hiện các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ như công ty đại lý bảo hiểm nhân thọ, kênh phân phối qua hệ thống ngân hàng…

2/ Dự báo thị trường bảo hiểm ở Việt Nam:

§ Trong chiến lược phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm với các chỉ tiêu rất cụ thể:tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm,tỷ trọng doanh thu phí cuả toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5%/năm năm 2005 và 4,2%/năm năm 2010.Với mục tiêu đề ra như thế thì đó cũng là cơ hội để phát triển thị trường bảo hiểm.
§ Với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là Việt Nam sẽ gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế(WTO) vào năm 2005 chứng tỏ rằng thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng được mở cửa và việc cạnh tranh trên thị trường này ngày càng sôi động về nhiều mặt như: giá phí bảo hiểm ngày càng thấp hơn, dịch vụ ngày càng tốt hơn, các sản phẩm bán trên thi trường cũng ngày càng đa dạng và phong phú hơn…
§ Việt Nam là nước có dân số đông . Đi ều n ày cũng dự báo thị trường đầy hứa hẹn đối với ngành bảo hiểm.
§ Các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài ngày càng nhiều v à luôn có những đổi mới về các hoạt động tuyên truyền quảng cáo,tiếp thị…Điều này dự báo sẽ có cuộc cạnh tranh gay gắt.

Tóm lại bảo hiểm là một ngành vừa mang t ính thị trường, vừa mang t ính xã hội và hiện nay bảo hiểm là một ngành kinh doanh không thể thiếu được ở bất kỳ một xã hội văn minh nào. Điều này chứng tỏ ngành bảo hiểm là một ngành đầy tiền năng.
Trà Thị Thanh Lan
Lớp NH2-K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  03:56:54  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Dự báo thị trường Bảo hiểm Việt Nam

Trong 10 năm qua thị trừơng bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP.Tổng doanh thu phí bảo hiểm thị trừơng tăng bình quân 29 %/năm.trong những năm gần đây , doanh thu bảo hiểm tăng nhanh :năm 2001 là 4.843 tỷ đồng , năm 2002 là 6.992 tỷ đồng .
Đặc biệt năm 2003 là năm có nhiều biến động trong nước cũng như nước ngoài, đó là biến động quốc tế , về khủng bố , đại dịch SARS, đã ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường hiểm và thi trường tái bảo hiểm Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng vượt bậc .Doanh thu phí ước tính đạt 10090 tỷ đồng , tăng tới 44 % so với năm 2002. Đặc biệt tổng doanh thu mức phí bảo hiểm đã chiếm đến 1.8% GDP.Thị trườg bảo hiểm Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc , cụ thể :
Về lượng: từ 3 công ty bảo hiểm nhà nước (năm 1994) đã lên đến 25 công ty và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thuộc các hình thức sở hữu nhà nước, liên doanh(liên doanh bảo hiểm Bảo Minh –CMG ,Grouppama),cổ phần, 100% vốn nướcngoài(Manulife,Prudential,Alianz) .
Về chất: thông qua các lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm ta thấy chất lượng cũng như sản phẩm dịch vụ của các công ty bảo hiểm ngày càng cao, đáp ứng hầu hết nhu cầu của khách hàng.
Như vậy ngành bảo hiểm việt Nam ngày càng phát triển và đang dần dần chuyển từ độc quyền nhà nước sang tự do dịch vụ bảo hiểm , theo Bà Nguyễn Thị Băng Tâm , thứ trửơng Bộ tài chính ,năm 2004 sẽ chính thức xoá bỏ dần cơ chế độc quyền bảo hiểm theo từng ngành như hiện nay.Tuy thị trừơng bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng với tốc độ khá cao và trở thành một trong những thị trừơng quan trọng nhất , nhưng vẫn tồn tại một số vấn đề:
· Quy mô cuả các công ty bảo hiểm trong nước còn nhỏ so với các công ty bảo hiểm nước ngoài về quy mô , chuyên nghiệp , kỹ thuật và vị trí tài chính
· Thị trừơng chưa hoàn thiện và chưa được khép vào kỷ luật, cơ chế tự điều chỉnh hoạt động chưa hiệu quả dẫn đến đôi lúc thị trừơng còn có những lộn xộn
· Các công ty bảo hiểm chưa hiểu hết về chi phí hoạt động và rủi ro , làm giá trị , phá hỏng thị trừơng cạnh tranh

Thị trừơng bảo hiểm Việt Nam có tiềm năng rất lớn do nước ta có dân số đông và là dân số trẻ , số ngừơi nằm trong độ tuồi lao động nhiều nên tiêu dùng cho bảo hiểm rất lớn .Thêm vào đó ,tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển với tốc độ ngày càng cao, mọi thành phần kinh tế, lĩnh vực kinh tế sẽ cùng phát triển,cụ thể chính phủ đặt quyết tâm lớn cho phát triển kinh tế trong năm nay với tốc độ tăng trưởng là 8,2%. theo xu hướng hội nhập quốc tế như hiên nay , ngành bảo hiểm việt nam sẽ có 1 tương lai tốt đẹp nhưng cũng đầy thách thức, do đó nhiệm vụ mấu chốt của các công ty bảo hiểm là phải nhanh chóng tổ chức và sắp xếp lại hoạt động kinh doanh theo xu hướng tâp trung hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh , tăng cường năng lực tài chính dưới nhiểu hình thức ….
Tóm lại , nếu chuẩn bị tốt và có phương hướng phát triển đúng đắn, ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ đứng vững trong giai đoạn mới , với bối cảnh của môi trường cạnh tranh mạnh mẽ và xu hướng tự do hoá toàn cầu hoá.
Lê Thị Linh
NH2_k27




Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  03:58:26  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[font=Times New Roman][/font=Times New Roman][size=3][/size=3][black][/black]
Đánh giá về thị trường Bảo Hỉêm Việt Nam:
Họat động bảo hiểm còn khá mớI mẽ trong nền kinh tế Việt Nam,trong thờI kì bao cấp,chỉ có một công ty duy nhất của nhà nước.Chuyển sang nền kinh tế thị trường theo đà phát triển của nền kinh tế,họat động kinh doanh bảo hiểm liên tục phát triển vớI sự gia tăng về số lượng và chất lượng.Các công ty ra đờI vớI các hình thức sở hữu khác nhau:nhà nước,cổ phần,liên doanh,100% vốn nước ngoài,phong phú trong lỉnh vực họat động:nhân thọ ,phi nhân thọ,tái bảo hiểm,môi giớI bảo hiểm và có sự thay đỗI trong cấu trúc vốn mà tỷ trọng của các công ty tư nhân,công ty liên doanh và các công ty nước ngòai gia tăng, đã phá vỡ thế độc quyền của nhà nước,chuyển sang một giai đọan mớI:giai đọan tự do hóa dịch vụ bảo hiểm.Do vậy,họat động bảo hiểm ngày càng sôi động, nhộn nhịp hơn vớI tốc độ tăng trưởng khá cao tạo ra sự cạnh tranh nhiều hơn,gay gắt hơn .Nhờ đó mà các dịch vụ bảo hiểm được cung cấp phong phú hơn vớI chất lượng ngày càng hòan thiện hơn đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng.Qua đó ta thấy quá trình tự do hóa dịch vụ bảo hiểm có lợI cho ngườI tiêu dùng.
Qua các thống kê ,họat động bảo hiểm Việt Nam trong10 năm qua đã đóng góp đáng kể cho việc giảm rủI ro trong sản xuất kinh doanh và đờI sống xã hộI , đã huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đạI hóa đất nước,góp phần giảI quyết công ăn việc làm, giảm gánh nặngcho ngân sách nhà nước,thúc đây tăng trưởng kinh tế xã hội.
Bên cạnh những thành quả đạt được,thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề tồn tạI: đó là tuy có sự phát triển nhanh nhưng quy mô các công ty còn nhỏ,chỉ có 4 công ty đạt trên 500 tỷđồng/năm vào năm 2003:Bảo Việt, Bảo Minh,Prudential,Petro Việt Nam insurance;thị trường bảo hiểm phát triển chưa tương xứng vớI tiềm năng và sự phát triển của nền kinh tế xã hộI(năm 2003,so vớI thu nhập quốc dân,doanh thu bảo hiểm chỉ chiếm khỏang1,6% );một số lĩnh vực có nhu cầu bảo hiểm cao nhưng chưa được khai thác hoặc chỉ chiếm vớI tỷ lệ thấp:bảo hiểm hưu trí cho ngòai khu vực kinh tế nhà nước,bảo hiểm thất nghiệp,y tế tự nguyện…;một số lỉnh vưc tiềm năng chưa được khai thácnhư:bảo hiểm nông nghiệp,bảo hiểm đánh bắt thủy sản…;môi trường cạnh tranh còn chưa lành mạnh (hạ phí,tăng hoa hồng,lôi kéo đạI lý…),chưa công bằng giữa các tổ chức bảo hiểm giữa các thành phần kinh tế(về thuế,cơ chế tài chính);quan hệ giữa khách hàng và công ty bảo hiểm chưa tốt,thiếu thông tin minh bạch,sự tư vấn,môi giớI chưa phổ biến,các nhân viên bảo hiểm chưa quan tâm đến khách hàng ,dân đến khách hàng thiếu những quyết định đúng.
Dự báo về tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Họat động kinh doanh bảo hiểm chịu ảnh hưởng của nhiều yêu tố khách quan:
Sự quan tâm của Đảng và nhà nước đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm thể hiện qua các chính sách vĩ mô của nhà nước,chiến lượt phát triển thị trường bảo hiểm.Luật kinh doanh bảo hiểm được từng bước hòan thiện,tạo lập môi trường pháp lý bình đẵng tạo động lực và hành lang pháp lý để phát triển thị trường bảo hiểm.
Nền kinh tế tăng trưởng cao,cùng vớI định hướng nền kinh tế hhiều thành phần sẽ tạo cơ hộI đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh cho các ngành và lĩnh vực,từ đó tạo cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển.Và gắn liền vớI sự phát triển kinh tế là sự phát sinh và phát triển các nhu cầu bảo hiểm như ở các lĩnh vực cơ sở hạ tầng,viễn thông…
Và cùng vớI tốc độ phát triển kinh tế là thu nhập ,mức sống dân cư ngày càng tăng ,ngườI dân quan tâm đến mình hơn và trình độ dân trí cũng như nhận thức của đạI đa số các tầng lớp dân cư được nâng cao,từ đó cách nhìn về lĩnh vực bảo hiêm sẽ thay đổI, điều đó tạo ra những thuận lợI để phát triển các dịch vụ bảo hiểm.Hơn nữa nước ta có nguồn dân cư lớn,dân số trẻ, đây cũng là tiềm năng cho thị trường bảo hiểm.
Sự phát triển của thị trường vốn và chứng khóan sẽ mở ra những hướng phát triển mớI cho họat động kinh doanh bảo hiểm vốn,cho phép các công ty bảo hiểm đa dạng hóa hoạt động của mình.
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin tạo cơ hộI cho các công ty bảo hiểm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh.
Và nhân tố tác động lớn đến thị trường bảo hiểm Việt Nam dó là xu thế hộI nhập trong quá trình tòan cầu hóa và khu vực hóa đã và đang tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm phát triển.Quan hệ hợp tác quốc tế phát triển,khuyến khích các quá trình chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực, ứng dụng các qui trình quản lí theo tiêu chuẩn quốc tế.Mở cửa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm mở rộng quan hệ ,học tập,tiếp thu kinh nghiệm,tiếp cận những phương thức kinh doanh bảo hiểm hiện đạI,nâng cao sức cạnh tranh.
Chịu ảnh hưởng bởI các nhân tố, cùng vớI sự xuất phát từ lịch sử hình thành còn mớI mẽ,từ tính chất họat động vừa lợI dân vừa ích nước,ta thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam có nhiều cơ hộI và tiềm năng để phát triển và sẽ tiếp tục phát triển nhanh và hiệu quả.Các công ty bảo hiểm sẽ chủ động nâng cao sức cạnh tranh trong môi trường kinh doanh của cơ chế thị trường và hộI nhập vớI khu vực và thế giới.
Tuy nhiên bên cạnh những cô hộI ,thị trường bảo hiển Việt Nam còn phảI đốI mặt vớI nhiều thử thach mớI trong xu thế hộI nhập hiện nay.Một trong những khó khăn phảI đương đầu đó là sức ép cạnh tranh ngày càng lớn.Trong môi trường kinh doanh còn non trẻ nhưng đầy tiềm năng sẽ thu hút nhiều nhiều công ty nước ngòai vớI nhiều khả năng vượt trột.Và gần đây là hiệp định thưong mạI Việt -Mỹ vớI nhiều qui định trong họat động kinh doanh bảo hiểm,thêm vào đó là sự giảm bớt sự bảo hộ của Nhà nước,lúc đó sức ép cạnh tranh sẽ tăng lên đáng kể.Việc tránh sự sút giảm thị phần sẽ là một thách thức đốI vớI các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước.

Sinh viên:Nguyễn Thúy Hằng
Lớp: NH3_K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  04:16:17  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Chủ đề : Hãy đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam

Có thể nói nền kinh tế Việt Nam trong thờI gian qua đã và đang tăng trưởng vớI tốc độ cao cùng vớI những chính sách và chủ trương của Chính phủ trong lĩnh vực bảo hiểm đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam .

Cùng vớI sự đổI mớI của nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng đã thay đổI và phát triển cho phù hợp vớI xu thế mở cửa và hộI nhập quốc tế, từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất 100% vốn Nhà nước là Bảo Việt, đến nay ngành bảo hiểm đã có dủ các loạI hình doanh nghiệp, đa dạng về sở hữu, nguồn vốn và các sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng phong phú. Hiện nay, ở Việt Nam có 5 công ty bảo hiểm nhân thọ, 14 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 1 công ty tái bảo hiểm, và 5 công ty môi giớI bảo hiểm. Doanh thu phí bảo hiểm đã tăng trưởng vớI tốc độ bình quân khoảng 30% từ năm 1992 tớI năm 2002. Tỷ trọng phí bảo hiểm trên GDP đã tăng từ 0.37% năm 1993 lên tớI 1.5% năm 2005. Mặc dù tỷ lệ này còn rất khiêm tốn so vớI các nước phát triển là 14% và các nước trong khu vực là 4 – 5%., tuy nhiên nó lạI thể hiện triển vọng và tiềm năng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Trước đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam chủ yếu tập trung ở lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, nhưng trong những năm gần đây lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đang tăng trưởng cao hơn cả lĩnh vực phi nhân thọ. Hiện mức tăng trưởng của thị trường bảo hiểm Việt Nam được đánh giá cao vớI mức tăng trưởng bình quân hằng năm khoảng 23 – 25%, trong đó 16 – 18% vớI bảo hiểm phi nhân thọ và khoảng 35 – 40% vớI bảo hiểm nhân thọ.HộI nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra nhiều cơ hộI đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh cho các ngành và lĩnh vực, từ đó tạo cơ hộI cho các doanh nghiệp và thị trường bảo hiểm phát triển. VớI mức dân số đông khoảng 80 triệu ngườI có thể nói thị trường bảo hiểm ở Việt Nam đầy tiềm năng.
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tạI Việt Nam hứa hẹn nhiều triển vọng, hàng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1,5 tỷ USD, cùng vớI những hoạt động đầu tư ồ ạt trong nước, vớI những đô thị mớI, khu chế xuất và khu công nghiệp không ngừng được hình thành, thì cơ hộI cho bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, hàng không, vận tảI xăng dầu… phát triển. Mặt khác, sự phát triển các hoạt động kinh tế , xã hộI và quá trình hộI nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện phát sinh và phát triển các nhu cầu bảo hiểm. Các lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng, thương mại, đầu tư quốc tế, viễn thông đều là những lĩnh vực rất tiềm năng cho dịch vụ bảo hiểm trong tương lai.
Riêng về lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, năm 1998 doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ chỉ chiếm 10% tổng phí bảo hiểm của thị trường nhưng tớI năm 2002, tỷ trọng này đã là 62%. Điều này càng cho thấy lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ sẽ phát triển mạnh trong tương lai. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng cao của nền kinh tế Việt Nam trong thờI gian qua làm cho thu nhập và đờI sống của ngườI dân ngày càng được nâng cao. Họ quan tâm nhiều hơn đến vấn đề sức khoẻ và y tế, điều này làm tăng thêm nhu cầu về bảo hiểm y tế và sức khoẻ. Mặt khác, do trình độ dân trí cũng như nhận thức của ngườI dân về vấn đề bảo hiểm được nâng cao trong những năm gần đây, điều đó tạo ra những tiền đề thuận lợI để phát triển các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.

Tóm lạI, nhìn chung tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ có xu hướng phát triển cao trong tương lai, tuy nhiên, chính phủ cần phảI có những chính sách phù hợp và hoàn thiện các khuôn khổ pháp luật liên quan tớI nghiệp vụ bảo hiểm để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng như khuyến khích sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm; đồng thờI các doanh nghiệp bảo hiểm cần phảI đổI mớI cách thức tổ chức và quản lý cũng như ứng dụng các kỹ thuật công nghệ hiện đạI vào quá trình hoạt động; nắm bắt được các nhu cầu của các khách hàng để không ngừng đa dạng hoá, nâng cao chất lượng các sản phẩm bảo hiểm cũng như cần phảI xây dựng cho mình một độI ngũ nhân viên có kỹ năng và chuyên môn cao, có như thế thì thị trường bảo hiểm Việt mới có thể phát triển vững bền theo thờI gian.


Tên : Nguyễn Mai Khanh
NH3 – K27



Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  04:42:31  Xem thông tin cá nhân
Những năm gần đây, thị trường bảo hiểm (BH) Việt Nam đã có những bước phát triển khá mạnh. nếu so với tổng sản phẩm quốc nộI (GDP) thì tỷ trọng doanh thu phí BH đã tăng từ 0,3% GDP trong năm 1995 lên 1,8% GDP năm 2003 giúp cho tốc độ tăng trưởng doanh thu phí BH đạt mức bình quân 30%/năm.
Có thể nói tốc độ tăng trưởng, đa dạng hoá thị trường, sản phẩm và hình thức sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam (DNBHVN) là khá nhanh chóng và họ đang tiến dần từng bước hộI nhập quốc tế. Mở cửa thị trường Bảo hiểm để hộI nhập và cạnh tranh lành mạnh là xu hướng tất yếu, tạo ra cho các DNBHVN trong giai đoạn tớI, do vậy các DNBHVN cần sớm chủ động chuẩn bị các nguồn lực để trụ vững trong cuộc cạnh tranh khi thị trường bảo hiểm mở cửa hoàn toàn.
Cơ hộI nhiều và tiềm năng phát triển lớn.
Toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành xu thế tất yếu của các quan hệ kinh tế quốc tế hiện đạI. Cùng vớI sự đổI mớI của nền kinh tế, các DNBHVN cũng đã thay đổI và phát triển nhanh chóng trong xu thế mở cửa và hộI nhập, từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất 100% vốn Nhà nước là Bảo Việt, đến nay ngành bảo hiểm đã có đủ các loạI hình doanh nghiệp và đa dạng vể hình thức sở hữu, nguồn vốn, tổng quỹ dự phòng về nghiệp vụ và sản phẩm dịch vụ bảo hiểm ngày càng đa dạng và phong phú. hiện mức tăng trưởng của thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn được đánh giá cao vớI mức tăng trưởng bình quân khoảng 23-25% trong đó 16-18%/năm vớI bảo hiểm phi nhân thọ và khoảng 35-40% vớI bảo hiểm nhân thọ. Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm đã đóng góp đáng kể trong việc giảI quyết những rủI ro trong sản xuất kinh doang và đờI sống xã hộI, cảI thiện môi trường đẩu tư, góp phần phát triển kinh tế xã hộI của đất nước.
Thị trường Bảo hiểm phi nhân thọ tạI Việt Nam hứa hẹn nhiều triển vọng, hằng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đổng, đầu tư nước ngoài bình quân 1.5 tỷ USD, các hoạt động đầu tư trong nước vớI những đô thị mớI, khu chế xuất và khu công nghiệp đang được hình thành thì cơ hộI cho bảo hiểm chuyên ngành ngày càng phát triển. Mặt khác, sư phát triển các hoạt động kinh tế, xã hộI sẽ tạo điều kiện phát sinh và phát triển các nhu cầu bảo hiểm.Thu nhập, mức sống và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ dân cư ngày càng được cảI thiện, làm tăng thêm nhu cầu về bảo hiểm y tế và sức khoẻ. Mặt khác, trình độ dân trí cũng như nhận thức của đạI đa số các tầng lớp dân cư về bảo hiểm được nâng cao, điều đó tạo ra những tiền đề thuận lợI để phát triển các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.
Quan hệ hợp tác quốc tế phát triển, các quá trình chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực, việc ứng dụng các quy trình quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế được khuyến khích. Cùng vớI quá trình đó, các hoạt động tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm, hợp tác liên doanh trên phạm vi quốc tế sẽ không ngừng được mở rộng.
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tin học tạo cơ hộI thuận lợI cho các công ty bảo hiểm áp dụng rộng rãi các lĩnh vực bảo hiểm để nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh. Nhu cầu khách hàng được đa dạng hoá và phát triển sẽ làm nảy sinh thêm các hình thức dịch vụ bảo hiểm phức tạp.
Mở cửa thị trường, hộI nhập kinh tế quốc tế giúp chúng ta mở rộng được thị trường xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, tăng sức thu hút đầu tư và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ từ các nước khác, tạo cơ hộI để các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mở rộng quan hệ, học tập, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tiếp cận vớI những phương thức kinh doanh hiện đạI, nâng cao sức cạnh tranh.
Sự ra đờI và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam gắn liền vớI sự ra đờI và phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước. đây là các tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ và được tổ chức dướI hình thức công ty nhà nước.
KhởI đẩu là sự ra đờI và chính thức hoạt động của Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam ( Bảo Việt-trước đây là Công ty Bảo hiểm Vịêt Nam ) từ ngày 15/01/1965. Sau Bảo Việt là Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE – thành lập ngày 27/9/1994), công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh ( Bảo Minh – thành lập ngày 28/11/1994) và công ty bảo hiểm dầu khí (PV Ins – thành lập ngày 23/01/1996). Tính đến 31/12/2003, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 19 doanh nghiệp bảo hiểm và 5 công ty môi giớI bảo hiểm tham gia hoạt động. Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước thực sự đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu được đốI vớI sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Doanh thu phí bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước có tốc độ tăng trưởng cao và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong toàn thị trường.
Không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng cao, hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước đã đóng vai trò tích cực, ổn định nền kinh tế xã hộI và đờI sống nhân dân thông qua việc bồI thường, trả tiền bảo hiểm và hỗ trợ thực hiện các biện pháp phòng tránh. Năm 2002, riêng số tiền bồI thường và trả tiền bảo hiểm của Bảo Vịêt và Bảo Minh đã là 1181 tỷ VND (Bảo Việt 898 tỷ VND, Bảo Minh 283 tỷ VND), chiếm 84,3% trong tổng số 1400 tỷ VND của toàn thị trường. Việc giảI quyết bồI thường, trả tiền bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước đã giúp cho các doanh nghiệp và ngườI dân ổn định sản xuất kinh doanh và đờI sống, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tạo môi trường đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh đó, năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước được nâng cao và đã tạo lập nguồn vốn lớn và dài hạn cho đầu tư và phát triển kinh tế. Riêng Bảo Việt, tổng vốn hiện có là 3000 tỷ VND; năm 2002, dự phòng nghiệp vụ là 5425 tỷ VND trong tổng số 8330 tỷ VND của toàn thị trường, nguồn vốn đầu tư trở lạI nền kinh tế đạt 5959 tỷ VND trong khi đó con số này của toàn thị trường là 6700 tỷ VND. Không những vậy, hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn thu hút một số lượng lớn lực lượng lao động, góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho toàn xã hộI, luôn đi đầu trong việc thiết kế, phát triển sản phẩm mớI, phủ kín địa bàn hoạt động phục vụ các đốI tượng khách hàng nhờ hệ thống các công ty thành viên; tư vấn cho cơ quan chức năng soạn thảo, ban hành các văn bản pháp lý, các chế độ, chính sách về bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn có mốI quan hệ rộng khắp vớI các nhà bảo hiểm hàng đầu thế giới. MốI quan hệ này nhằm thực hiện nhiều hoạt động nghiệp vụ đa dạng như tái bảo hiểm, đạI lý giám định, bồI thường… góp phần đưa thị trường bảo hiểm Việt Nam hộI nhập vớI thị trường bảo hiểm khu vực và thế giới.
Tính đến tháng 3/2004, vớI 5 công ty đang hoạt động trên thị trường bảo hiểm nhân thọ ( trong đó có 3 công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài, 1 công ty liên doanh và 1 công ty trong nước), các công ty đã có được trên 5 triệu khách hàng tham gia bảo hiểm nhân thọ để bảo vệ an toàn tài chính cho bản thân và gia đình. Cùng vớI số lượng khách hàng tham gia bảo hiểm ngày càng tăng, các công ty bảo hiểm nhân thọ cũng đã giảI quyết quyền lợI bảo hiểm cho hàng chục ngàn khách hàng không may gặp rủI ro vớI số tiền lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Cùng vớI việc tạo ra những cơ hộI để các doanh nghiệp bảo hiểm có thể phát triển, tự do hoá thương mạI, mở cửa và hộI nhập thị trường bảo hiểm quốc tế cũng đang đặt ra những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam phảI đương đầu trong giai đoan tới. Sức ép cạnh tranh trong bảo hiểm sẽ ngày càng lớn. Thị trường bảo hiểm Việt Nam vớI tốc độ tăng trưởng cao, sẽ là nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài – các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài hàng đầu, vớI kinh nghiệm kinh doanh lâu đờI, phạm vi hoạt động rộng, khả năng tài chính lớn, trình độ công nghệ cũng như quản lý vượt trộI thật sự là những thách thức lớn. 85% thị phần bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đang rơi vào tay các công ty nước ngoài, 12 doanh nghiệp trong nước chia nhau phần còn lạI nhưng thực chất chỉ có 7 công ty duy trì được hoạt động. Theo dự báo của các chuyên gia trong ngành bảo hiểm thì từ nay cho đến 2010, số doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục tăng theo xu thế tăng trưởng của ngành. Cùng vớI quá trình mở cửa, đó là việc giảm bớt và đi đến xoá bỏ sự bảo hộ của nhà nước đốI vớI các doanh nghiệp nhà nước, lúc đó sức ép cạnh tranh đốI vớI các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ tăng lên rất đáng kể. Mặt khác, khi mở cửa hộI nhập, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cũng sẽ phảI đốI mặt vớI cạnh tranh hết sức gay gắt trên nhiều mặt: chất lượng phục vụ, sự đa dạng hoá của các dịch vụ bảo hiểm, khả năng về vốn, giá cả dịch vụ. Về sự đa dạng của các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ phảI đốI mặt vớI sự cạnh tranh trong việc đa dạng hoá các dịch vụ bảo hiểm. Những đốI thủ nước ngoài đã sẵn có tiềm lực và đa dạng gói sản phẩm, họ có nhiều lợI thế sẵn sàng cung cấp hàng loạt dịch vụ tài chính tổng hợp nhanh chóng và hiệu quả.
Tình hình cạnh tranh trên thị trường còn thiếu lành mạnh, điều đáng lưu ý nhất trong hoạt động bảo hiểm hiện nay là tình trạng độc quyển trong kinh doanh vẫn còn. Việc tồn tạI nhiều công ty cổ phần bảo hiểm chuyên ngành như công ty bảo hiểm dầu khí (PVI), công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO) và công ty bảo hiểm bưu điện (PTI)… đang tạo ra tình trạng độc quỳên bảo hiểm trong các ngành: dầu khí, xăng dầu và bưu chính viễn thông, làm hạn chế quyền tự do lựa chọn tham gia bảo hiểm của các doanh nghiệp, tổ chức trong ngành, không phù hợp vớI chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của nhà nước. Một số doanh nghiệp bảo hiểm và công ty cổ phần bảo hiểm chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợI ích cục bộ của ngành mình. Việc tham gia thị trường của các công ty bảo hiểm ngành đã gây ra tình trạng chia cắt thị trường, đặc biệt khi điều kiện các quan hệ thị trường của nền kinh tế Việt Nam chưa phát triển.
Phạm vi và qui mô của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chưa tương xứng vớI tiềm năng phát triển của nền kinh tế xã hộI. Mức độ đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm cho nền kinh tế còn nhiều hạn chế. Thị trường bảo hiểm trong nước thờI gian qua đã phát triển vớI tốc độ cao và rất đáng khích lệ, nhưng so vớI khả năng và tiềm lực của nền kinh tế thì hiện vẫn còn nhỏ bé, doanh thu phí bảo hiểm mỗI năm chỉ đạt gần 1,6% GDP. Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chưa đủ mạnh để đáp ứng được đòi hỏI của phát triển kinh tế, xã hộI và đảm bảo an ninh, an toàn cho các doanh nghiệp, các tổ chức, dân cư trong giai đoạn hiện nay trên nhiều lĩnh vực. Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chủ yếu là ở trong nước, công nghệ quản lý, kinh nghiệm quản lý và năng lực cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiểm còn thiếu và yếu. ĐốI vớI bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm còn ít chủng loạI, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, tính linh hoạt của sản phẩm chưa cao, sức thu hút của các sản phẩm đốI vớI khách hàng còn hạn chế.
Ngành bảo hiểm Việt Nam đã có chiến lươc phát triển đến 2010, vớI mục tiêu xây dựng và phát triển thị trường bảo hiểm vững mạnh, để bảo vệ nền kinh tế và huy động vốn cho đầu tư phát triển, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế vớI tốc độ tăng GDP bình quân 7,5%/năm. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có nhiều ưu thế: hệ thống mạng lướI phân phốI, cơ sở vật chất phát triển khắp toàn quốc. Cơ hộI nhiều và tiềm năng phát triển lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.
Trần Thị Lan Phương
Lớp NH2 – K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  05:00:16  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Thầy ơi! đề tài rộng quá nên em chỉ có thể nghiên cứu một lĩnh vực nhỏ trong đó . Đó là: TỔ CHỨC KÊNH BÁN BẢO HIỂM QUA NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Các nhà bảo hiểm Việt Nam trước khi tiến hành hội nhập lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đang đứng trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ các nhà bảo hiểm nước ngoài về vốn, công nghệ và kinh nghiệm…Trước thực trạng đó, thiết nghĩ các nhà bảo hiểm Việt Nam cần phải có những bước chuẩn bị chủ động. Một trong các chiến lược mà các nhà bảo hiểm Việt Nam quan tâm thực hiện nay là :”Hoàn thiện hệ thống phân phối chiếm lĩnh thị trường để giữ vững thị phần khi bảo hiểm Việt Nam thực sự hội nhập.” Triển khai chiến lược trên , các nhà bảo hiểm Việt Nam kết hợp phát triển sản phẩm với việc xây dựng các kênh phân phối đa dạng để tiếp cận nhiều nguồn khách hàng tiềm năng.
“BÁN BẢO HIỄM QUA NGÂN HÀNG” bên cạnh phát triển hệ thống đại lý sẽ thúc đẩy phát triển và tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ để các nhà bảo hiểm Việt Nam đạt mục tiêu Chính phủ đặt ra cho lĩnh vực nhân thọ.Tổ chức tốt kênh “BÁN BẢO HIỂM QUA NGÂN HÀNG “các nhà bảo hiểm Việt Nam cần thực hiện nhửng việc sau:
+Liên kết với các ngân hàng để cung cấp dịch vụ bảo hiểm đến các nhóm đối tượng khách hàng khác nhau.
+Nghiên cứu triển khai các sản phẩm đầu tư, sản phẩm liên kết để cùng ngân hàng cung cấp sản phẩm bảo hiểm Ngân hàng trọn gói cho khách hàng.
+ Kết hợp với ngân hàng để nâng cao chất lượng dịch vụ hậu mãi và mở rộng chương trình hậu mãi cho khách hàng :vay tiền ở ngân hàng thông qua hợp đồng bảo hiểm, ưu đãi trong sử dụng thẻ ATM.
ƯU ĐIỂM QUA KÊNH “BÁN BẢO HIỀM QUA NGÂN HÀNG “LÀ:
Các nhà kinh doanh bảo hiểm nhân thọ đều xác nhận kênh phân phối truyền thống chiếm tỷ trọng lớn trong việc cung cấp sản phẩm ra thị trường,tuy nhiên trong chiến lược đa dạng hoá các kênh phân phối , giảm áp lực bị ảnh hưởng từ một kênh phân phối duy nhất từ đó giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh do cạnh tranh và do biến động của thị trường , các công ty bảo hiểm đều tổ chức thêm các kênh phân phối ngoài hệ thống đại lý. Hơn nữa việc đa dạng hoá kênh phân phối còn nhằm tạo động lực và áp lực cạnh tranh giữa các kênh phân phối, mục đích đưa ra nhiếu sản phẩm trên thị trường.
Thị trường BẢO HIỂM VIỆT NAM còn đang rất tiềm năng, chưa khai thác hết mọi lĩnh vực. Vì vậy, để đạt hiệu quả cao các nhà cung cấp bảo hiểm phải mở rộng thị trường, khai thác những khách hàng tiềm năng.
VO THI THU HIEN
LOP: NH1-K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  05:25:43  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
NHẬN XÉT:

1)Thị trường Bảo Hiểm Việt Nam có những bước phát triển khá tốt trong thời gian qua.

Sự phát triển này được xem xét về mặt số lượng lẫn chất lượng. Bảo Hiểm Việt Nam xuất hiện với công ty đầu tiên là Bảo Việt. Nhưng thị trường Bảo Hiểm Việt Nam có sự chuyển mình tỏ rõ sự năng động kể từ khi nghị định 10/NĐ – CP ra đời (18/12/93 ) về kinh doanh Bảo Hiểm và đặc biệt là luật kinh doanh Bảo Hiểm 19/12/2000 có hiệu lực ngày 1/4/2000 đã tạo hành lang pháp lý cho việc kinh doanh Bảo Hiểm tại Việt Nam . Nếu như trước 1993 thị trường Bảo Hiểm Việt Nam chỉ có một công ty thì đến nay đã có tổng số 25 công ty kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiễm gồm Bảo Hiểm nhân thọ , phi nhân thọ, tư vấn Bảo Hiểm , tái Bảo Hiểm,môi giới ,đã làm thị trường Bảo Hiểm việt Nam sôi động hơn, kinh doanh nhiều lĩnh vực hơn , bao quát thị trường hơn , phục vụ con người tốt hơn và đặc biệt là xóa được thế độc quyền trong cạnh tranh. Tuy ngành Bảo Hiểm chỉ mới phát triển nhưng đã có đóng góp phần nào cho nền kinh tế nước nhà từ chổ tỉ trọng doanh thu phí bảo hiểm chỉ chiếm 0,3%GDP năm 1995 lên 1,8% vào năm 2003.Tốc độ tăng trưởng doanh thu phi bảo hiểm đạt mức bìnhquân 30%năm.Đồng thời doanh thu phí Bảo Hiểm toàn thị trường đã tăng từ 207 tỉ đồng vào năm 1991,741 tỉ đồng ( năm 94 ) lên 7685 tỉ đồng ( năm 2002 ) tăng gấp 10,3 lần so với năm 94.Doanh thu Bảo Hiểm nhân thọ năm 1991 là 0 thi doanh thu cua Bảo Hiểm phi nhân thọ năm 2003 là 1789 tỉ đồng,nhân thọ là 1250 tỉ đồng.

2) Bảo Hiểm Việt Nam ngày càng tự do hoá các dịch vụ bảo hiểm

Nếu như từ năm 1965 -> 1993 chỉ có duy nhất một tổng công ty Bảo Hiểm Bảo Việt , trong thời gian này Bảo Việt chỉ thực hiện một số nghiệp vụ Bảo Hiểm như là một nhiệm vụ chính trị hơn là một doanh nghiệp kinh doanh. Do ảnh hưởng của chiến tranh tất cả dồn sức mình cho chiến lược thống nhất nước nhà nên kinh tế chưa được chú trọng phát triển mà kinh tế chưa phát triển thì Bảo Hiểm chưa đạt được tốc độ phát triển và có được qui mô như mong muốn là điều dễ thấy . Giữa kinh tế và sự phát triển của Bảo hiểm có sự tương thích lẫn nhau. Trong những năm Bảo Hiểm hoạt động trong nền kinh tế bao cấp thì qui mô Bảo Hiểm còn nhỏ, phạm vi hoạt động còn hạn chế. Nhưng từ năm 1994 -> 2002 chuyển sang nền kinh tế thị trường, môi trường hoạt động kinh doanh của Bảo Hiểm thông thoáng hơn thúc đẩy được sự thu hút đầu tư nước ngoài, nở rộ về mặt số lượng công ty ( hiện nay là 25 công ty) với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau:Doanh nghiệp nhà nước , doanh ngiệp cổ phần , doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài liên doanh và hiện nay với hơn 100.000 đại lí bảo hiểm.Đây là một bước tiến vượt bậc so với năm 1996 thì số đại lí bảo hiểm chuyên nghiệp của năm này là bằng 0.

Sự tự do hóa còn thể hiện ở chổ nếu như trước năm 1995 Bảo Việt chiếm 100% thị trường thì khi đến năm 1995 thị trường của Bảo Việt giảm còn 83,07% nhường chổ cho Bảo Minh với 15,4%,Bảo Long và PJCO 1,53%.năm 2000 Bảo Việt chiếm 50,9%,Bảo Minh 25,1%,PJCO 6,4%,Bảo Long 1,4%,PVIC5%,VIA 2,4%,UIC 2,4%,Việt_Úc 4%,Allianz_AGF 0,4%.Thế độc quyền đã được phá bỏ, thị trường phát triển theo hướng gia tăng sức cạnh tranh và tăng cường chất lượng phục vụ hứa hẹn một sự trưởng thành cho ngành Bảo Hiểm Việt Nam.

3) Các loại hình bảo hiểm ngày càng đa dạng , sản phẩm ngày càng phong phú .

trước 1994 chỉ có 20 sản phẩm của ngành Bảo Hiểm thì đến nay đã khai thác đựơc 3 nhóm sản phẩm là Bảo Hiểm tài sản, Bảo Hiểm trách nhiệm dân sự, Bảo Hiểm con người với hơn 90 loại sản phẩm khác nhau.

4) Bảo Hiểm Việt Nam đang gắn chặt với thị trường ASEAN: với nhiều hoạt động như xây dựng hệ thống pháp lý cho sự phát triển thị trường Bảo Hiểm phù hợp với chuẩn mực ASEAN, triển khai chương trình Bảo Hiểm cơ giới ASEAN nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò các công ty Bảo Hiểm của Mĩ và châu âu có sự hợp tác tốt đẹp tạo sự phát triển cho ngành Bảo Hiểm Việt Nam.

Nhưng bất kì sự thay đổi nào thì cũng có nguyên nhân của nó,sự phát triển của ngành Bảo Hiểm Việt Nam do những nhân tố sau đã ảnh hưởng đến . Các nhân tố đó là :

+ Nền kinh tế Việt Nam đang trên đường phát triển được dự kiến mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 7,5%/năm. Nền kinh tế khởi sắc đã đem lại sự phát triển cho ngành Bảo Hiểm , kinh tế ổn định và phát triển thì người dân mới đảm bảo được khả năng thanh toán và tham gia vào mua Bảo Hiểm.

+ Các chính sách vĩ mô của nhà nước định hướng phát triển các ngành dịch vụ , trong đó có dịch vụ tài chính tiền tệ.

+ Hệ thống pháp luật của Bảo Hiểm tương đối hoàn thiện tạo tâm lý ổn định cho phát triển lâu dài ,tạo được sự tin tưởng cho nhà đầu tư kinh doanh lẫn người mua Bảo Hiểm.

+ Xu hướng toàn cầu hoá đã buộc Việt Nam phải hội nhập tiếp thu kinh nghiệm và tăng cường sức cạnh tranh.

DỰ BÁO

- Phát triển hướng hội nhập quốc tế Việt Nam là thành viên của ASEAN, APEC, kí kết hiệp định thương mại Việt – Mĩ , xu hướng đang phấn đấu để gia nhập WTO đã tạo nhiều khả năng hợp tác hơn hơn cho các doanh nghiệp Bảo Hiểm Việt Nam với Bảo Hiểm thế giới bên ngoài .

- Khả năng sẽ khai thác tốt hơn thị trường Bảo Hiểm Việt Nam. Vì xu hướng toàn cầu hoá , vì Việt Nam còn tiềm năng rất lớn cho ngành Bảo Hiểm vì dân số đông, trẻ , với hơn 70 % là nông dân chưa sử dụng nhiều dịch vụ Bảo Hiểm sẽ là một cơ hội lớn cho Bảo Hiểm Việt Nam.

- Sẽ có sự gia tăng về mặt số lượng và chất lượng theo nguồn dự báo cho kế hoạch phát triển đến 2010 thì doanh thu phí Bảo Hiểm 1,3 %/ GDP vào năm 2002 , 3%/GDP vào 2005 và đến 2010 là 4% - 5% / GDP . Mức tăng trưởng bình quân chung khoảng 23% - 25% năm. Trong đó phi nhân thọ là 16 – 18% năm , Bảo Hiểm nhân thọ tiếp tục tăng trưởng 35 – 40% năm và sẽ ổn định dần vào các năm sau ở mức bình quân 20 – 25% năm.

Họ và tên: Dương Thị Hà Giang
L ớp : NH1
MSSV: 101222007


HG
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  05:59:38  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail


CHỦ ĐỀ: ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Hoạt động bảo hiểm ở VN bắt đầu xuất hiện vào cuốI thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, vớI loạI hình bảo hiểm thương mạI của đạI lý bảo hiểm nước ngoài đóng tạI VN. Những quy dịnh, luật lệ trong BH đều giống theo luật của Pháp.
1964 ở miền Bắc sau khi Chính Phủ ra quyết định thành lập HộI đồng BH VN, BH có thêm những loạI hình mớI như: BH hàng hóa XNK, tái BH cho TQ,Triều Tiên…Nhưng do nền kinh tế tập trung cho chiến tranh,kinh tế không phát triển ,hoạt động BH cũng chựng lại. Tuy vậy, hoạt động BH ở miền Nam lạI khá phát triển vớI nhiều lọai hình của khoảng 54 công ty BH trong và ngòai nước tập trung ở khu bến Chương Dương, Hàm Nghi…
1975, thống nhất nước nhà, 54 công ty này đều được quốc hữu hóa dướI cái tên BAVINA, sau đổI thành Bảo Việt TPHCM.1988 Bảo Việt nâng cấp lên thành tổng công ty vớI nhiều công ty con .1992,Bộ tài chính giao vốn cho Bảo Việt và coi BH là công cụ để điều hành kinh tế của chính phủ.
Từ năm 1994 đến nay đã có nhiều công ty BH ra đờI như Bảo Minh, PJICO, PTI…
Theo thống kê năm 2004 đã có 25 công ty BH , trong đó có 23 công ty họat động chuyên về BH và 2 công ty môi giớI BH vớI đầy đủ lĩnh vực kinh doanh như: bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, môi giớI bảo hiểm vớI hàng ngàn đạI lý tạo ra sự đa dạng cho hoạt động cũa thị tr ường BH VN . Đặc biệt khi NN ra nghi định xóa độc quyền về BH , ngày càng có nhiều công ty liên doanh,100%vốn nước ngoài , công ty cổ phần thay thế dần công ty NN tạo ra sự canh tranh để nhà cung cấp có th ể đưa ra nhiều loại hình dịch vụ BH hơn cho khách hàng.,điều này có lợI mọI mặ, vừa tăng sức cạnh tranh của các công ty bảo hiểm vùa để các công ty phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, không ít thì nhiều sẽ làm phát triển nền kinh tế. điều này có thể được dẫn chúng qua số liệu sau:
1988 chỉ vớI 1 công ty bảo hiểm hoạt động ở VN thì đến năm 2000 đã là 15 công ty vớI tổng mức doanh thu từ 207 tỷ (1991) lên 3048 tỷ (2000) gấp 15 lần, phí bảo hiểm cũng dần được tăng lên ở lĩnh vực phi nhân thọ từ 207 tỷ (1991) lên 1798 tỷ (2000). Bảo hiểm nhân thọ chỉ xuất hiện ở nước ta ở những năm gần đây nhưng đã có một bước tiến vượt bậc khi từ 11 tỷ (1997) lên 1250 tỷ (2000), một con số đáng nể. Hiện nay, số lưọng công có loạI hình bảo hiểm nhân thọ ở VN bao gồm:
Bảo Việt
Prudential
CMIC
BM-CMG
AIA
Trong đó số lượng đạI lý của Bảo Việt chiếm tỷ trọng cao nhất hơn 7000 đạI lý , kế đến là Prudential 6000 đạI lý …nhưng đó chỉ là con số ở năm 2000.
Vào năm 2001, số đạI lý của các công ty này đã tăng gấp đôi. điều này cho thấy tiềm năng bảo hiểm nhân thọ ở nước ta hết sức lớn. Một phần cũng là do nước ta có dân số khá đông, lạI chủ yếu là dân số trẻ nên nhu cầu mua bảo hiểm cũng vì vậy mà tăng lên. Hơn nữa, ta có thể thấy 1 điều là khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tăng thì thị phần bảo hiểm cũng tăng và giảm khi có sự xuất hiện của lạm phát. Bảo hiểm là bảo đảm cho tài sản dướI hình thái giá trị là tiền nên việc ổn định được tiền đồng nghĩa vớI kiểm soát tốt lạm phát cũng thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển.


Dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Không sai khi cho rằng, công ty có tiềm năng mạnh nhất và tốc độ phát triển cao nhất hiện nay trong thị trường bảo hiểm ở nước ta là công ty Bảo Minh. Chúng ta có thể thấy điều này là từ khi Bảo Minh tách ra khỏI Bảo Việt. Từ 1994 công ty này ngày càng lớn mạnh một cách nhanh chóng.
Như năm 1995, thị phần của Bảo Minh ở lĩnh vực phi nhân thọ chỉ có 15.4% thì qua
1996 là : 20.28%
1997 là : 21.33% khi xảy ra cuộc khủng hoảng tiền tệ ở đông nam á
1998 là : 23.10%
1999 là : 24.52%
2000 là : 25.00%
2003 là : 28.00%
Qua các năm thị phần của Bảo Minh đã phát triển không ngừng , đồng nghiã thị phần của Bảo Việt ngày càng giảm : đây là tín hiệu đáng mừng khi ngành bảo hiểm đang dần xoá độc quyền chuyển sang kinh tế thị trường có lợI cho ngườI tiêu dùng. Có sự thành công như vậy là do Bảo Minh đã có những lợI thế sau:
- do có mặt trên thị trường cũng khá lâu (trước năm 1975) nên Bảo Minh đã tích luỹ kinh nghiệm làm bảo hiểm .
- do được tách ra từ Bảo Việt nên nó được thừa hưởng mạng lướI đạI lý rộng khắp trên toàn quốc.
Do đó sự lớn mạnh của Bảo minh cũng là điều dễ hiểu. Ta cũng có thể thấy được điều này qua thị trường cổ phiếu, hiện nay cổ phiếu cuả Bảo Minh đang ở mức giá 169.000đ/ CP, một mức khá cao, cho thấy uy tín và tiềm năng cuả công ty này rất mạnh.
Hiện nay, Bảo Minh có mặt hầu hết các loạI hình bảo hiểm . Đặc biệt ở lĩnh vực phi nhân thọ thì thị phần của Bảo Minh như sau:
Bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con ngườI chiếm 14.6%,
Bảo hiểm tài sản và thiệt haị chiếm 8.16%
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển 25%
Bảo hiểm xe cơ giớI chiếm 30%,
Bảo hiểm cháy nổ 25.09%
Đặc biệt, bảo hiểm hàng không chiếm 99.64% coi như độc quyền trong lĩnh vực này

Tuy tốc độ tăng trưởng cao như vậy nhưng Bảo Minh hiện đang gặp phảI sự cạnh tranh gay gắt từ những công ty nước ngoài mớI vào Việt Nam như : AIA, Prudential vốn là những tập đoàn tài chính tiền tệ vớI lượng vốn khá mạnh, khả năng tài chính dồI dào đã vô hình dung tạo ra một sức ép không nhỏ cho các công Việt Nam, nếu không tình trạng cá lớn nuốt cá bé sẽ diễn ra. Điều này chắc chắn xảy ra không sớm thì muộn khi VN gia nhập vào WTO vào năm 2006. Muốn tồn tạI thì Bảo Minh ngày càng phảI cảI thiện nhửng dịch vụ hiện có đồng thờI phảI nghiên cứu khai thác các loạI hình bảo hiểm mớI dự báo nhu cầu bảo hiểm của khách hàng như:
- Việt Nam có tỉ lệ dân số trẻ thuộc hàng cao trên thế giớI do đó nhu cầu an sinh-giáo dục hiện nay rất cao, đây là thị trường tiềm năng cần khai thác trong một mức độ nào đó thôi vì hiện nay AIA, Prudential đã nhắm sâu vào thị trường này.
- Tạo ra được thói quen mua bảo hiểm ở ngườI dân VN .Hầu hết ngườI dân VN đều nghe về bảo hiểm nhưng họ không hiểu biết sâu lắm về luật bảo hiểm do đó việc họ không quen hoặc không thích mua bảo hiểm cũng là điều dễ hiểu. Đây là một trở ngạI rất lớn đốI vớI các công ty bảo hiểm là làm sao thuyết phục được khách hàng mua sản phẩm của mình, từ ngườI có nhu cầu về bảo hiểm đến nhu cầu mua bảo hiểm là hai việc hoàn toàn khác nhau.
- Cần cảI thiện chất lượng bảo hiểm, một vấn đề đáng bàn ví dụ như vấn đề bảo hiểm y tế đã được tranh luận trên báo rất nhiều khi có sự phân biệt đốI xử giữa ngườI đi khám bệnh bằng bảo hiểm y tế và ngườI trả bằng tiền trực tiếp. Điều này gây ảnh hưởng không tốt, làm mất thiện cảm đốI vớI bảo hiểm trong mắt ngườI tiêu dùng. Cho dù chúng ta có thể nói rằng, bảo hiểm y tế thì không dính dáng gì đến những loạI hiành bảo hiểm khác nhưng một con sâu có thể làm rầu một nồI canh, câu kinh nghiệm mà cha ông ta đã để lại. BởI ngườI tiêu dùng rất sợ khi rủI ro xảy ra mình không được bồI thường do không hiểu những điều khoản ràng buộc trong hợp đồng bảo hiểm(do trình độ dân trí thấp) hoặc đưọc bồI thường nhưng không nhiều như dự kiến.
- Các công ty trong nước cần phảI xây dựng thương hiệu cho mình, để luôn tạo ra sự uy tín, tin tưởng , tin cậy của khách hàng dành cho công ty mình. Đó là một chiến lược cần nghiên cứu cho lâu dài. Mong rằng các công ty bảo hiểm của VN sẽ ngày càng đứng vững và phát triển trên thị trường ở tương lai.


NgườI thực hiện: Lương Nguyễn Hoàng Anh
Lớp1- NH1
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  06:00:49  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[font=Arial Black][red]HOT HOT NEWS ! [/red][/font=Arial Black]
[blue]Sinh viên ngân hàng biết chưa ???[/blue][/blue]
"Tạp chí “The Banker”- một tạp chí uy tín trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của Anh quốc- trong ấn bản tháng 9 đã công bố danh sách các ngân hàng được tạp chí bình chọn là ngân hàng tốt nhất quốc gia, ngân hàng đầu tư và ngân hàng công nghệ tốt nhất khu vực. [red]Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) một lần nữa lại được “The Banker” bình chọn là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” năm 2004 Đây là lần thứ 5 liên tiếp (2000-2004)[/red][/size=4] Vietcombank được bình chọn cho danh hiệu uy tín trên, đồng thời Vietcombank hiện cũng là ngân hàng duy nhất đến nay giành được danh hiệu này kể từ khi các ngân hàng hoạt động trên thị trường Việt Nam được đưa vào danh sách bình chọn...
Năm 2003, với tốc độ tăng trưởng tổng tài sản đạt 19,42%, lợi nhuận ròng tăng 166% và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tăng 10,4%, Vietcombank đã đạt mức tăng về các chỉ số hoạt động cao nhất trong ba năm qua, đồng thời là ngân hàng làm ăn hiệu quả nhất tại Việt Nam. Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng được nâng cao và có hiệu quả với tỉ lệ nợ khó đòi phát sinh ở mức ở mức thấp: khoảng 3%.
Năm 2004, có tới 600 ngân hàng là ứng cử viên cho các danh hiệu bình chọn của “The Banker”, tăng 25% so với năm 2003. “The Banker" đã lựa chọn được 133 ngân hàng tốt nhất tại các quốc gia và 28 ngân hàng đoạt giải Ngân hàng đầu tư tốt nhất và Ngân hàng công nghệ tốt nhất khu vực.

Song song với các tiêu chí về đánh giá chỉ số hoạt động của ngân hàng gồm mức tăng trưởng vốn, tổng tài sản, thu nhập trên vốn tự có, chi phí trên thu nhập và tỉ lệ nợ khó đòi; “The Banker” còn tính đến các vài trò của công tác quản lý và phát triển nguồn lực trong việc đóng góp vào các thành tựu của ngân hàng. Bên cạnh đó, các ngân hàng tham gia cuộc bình chọn còn phải chứng minh được các hoạt động nổi bật của ngân hàng như đầu tư vào công nghệ, cải tiến phục vụ khách hàng, xây dựng chiến lược phát triển để giành ưu thế trên thị trường..."
(VCB)


Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  06:55:26  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đề tài: ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM.

1. Đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Tình hình chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Hoạt động bảo hiểm là một dịch vụ , là một công cụ tài chính quan trọng để tạo môi trường đầu tư, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những rủi ro trong đời sống xã hội và đầu tư nói chung. Ngoài ra nó còn giúp giảm thiểu những tổn thất trong đời sống xã hội. Từ những vai trò của bảo hiểm đối với nền kinh tế xã hội, nhu cầu về bảo hiểm ngày càng tăng lên làm cho thị trường bảo hiểm ngày càng diễm ra sôi nổi trên thị trường thế giới cũng như trên thị trường Việt Nam.
Những năm gần đây thị trường bảo hiểm Việt Nam có những bước phát triển khá mạnh thể hiện qua những chỉ tiêu: tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm so với tổng sản phẩm quốc nội tăng từ 0.3% GDP năm 1995 lên 1.8% GDP năm 2003, doanh thu phí ước đạt 10090 tỷ đồng và tăng 44% so với năm 2002. Đây là kết quả khá khả quan cho thị trường bảo hiểm Việt Nam nếu so với tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ (năm 2003 ước chỉ đạt khoảng 7%). Kết quả này giúp cho tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm trên toàn thị trường (nhân thọ và phi nhân thọ) đạt mức bình quân 30%/năm.
Bên cạnh đó, đã có nhiều công ty bảo hiểm xuất hiện càng làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trở nên sôi động hơn, Tính đến nay (2004) đã có 25 công ty bảo hiểm đang hoạt động trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Trong đó có 19 công ty bảo hiểm gốc, 5 công ty môi giới bảo hiểm và 1 công ty tái bảo hiểm (năm 2003 có 18 công ty bảo hiểm gốc, 1 công ty môi giới). Các công ty bảo hiểm này đã hoạt động khá mạnh năm 2003: Bảo Việt phi nhân thọ có thị phần 41.68%, Bảo Minh CMG có thị phần bảo hiểm phi nhân thọ 23.52%, PJICO: 9.27%...số lượng đại lý của các công ty ngày càng tăng nhanh với tổng số lượng đại lý 94447. Năm 2003 số lượng đại lý của các công ty bảo hiểm lớn như sau: Bảo VIệt có 25461 đại lý, Prudential có 38000, AIA có 15502, Menulife có 8532, Bảo Minh có 6952…Ngoài ra thu nhập của các công ty có tăng lên đáng kể so với những năm trước: Bảo Việt phi nhân thọ đạt 933 tỷ VND, tăng 17.2% so với cùng kỳ năm trước, Bảo Minh đạt 529 tỷ VND tăng 7.6%, PJICO đạt 240 tỷ VND tăng 70%, UIC tăng 55%, PTI tăng 39.6%, Bảo Long tăng 67.7%, Allianz tăng 68.4%..
Mức tăng trưởng của thị trường bảo hiểm VN được đánh giá là khá cao với mức tăng khoảng 34%/năm với bảo hiểm phi nhân thọ và khoảng trên 60% với bảo hiểm nhân thọ. Doanh thu bảo hiểm mới chiếm khoảng 1,6% GDP và được coi là còn nhỏ so với tiềm năng.

a. Tình hình về thị trường bảo hiểm phi nhân thọ:
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam trong những năm gần đây phát triển tương đối ổn định. 6 tháng đầu năm 1999, tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ tại VN mới là 739 tỷ đồng thì năm 2000 là 851 tỷ đồng, năm 2001 là 1.024 tỷ đồng, năm 2002 là 1.441 tỷ đồng, năm 2003 là 1.859 tỷ đồng. Mức tăng trưởng của doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ trong thị trường 6 tháng đầu năm nay đạt 29% so với cùng kỳ năm trước. 1 số ngành hoạt động trong thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đã có những thay đổi:
Bảo hiểm hàng không: phí bảo hiểm đạt trên 217 tỷ VND tăng 66% so với cùng kỳ năm 2003, nguyên nhân của sự tăng vọt này là do hãng hàng không mới mua và thuê thêm 1 số máy bay mới.
Nghiệp vụ cháy nổ: tốc độ tăng trưởng ổn định là 15%, với phi thu đạt ước 200 tỷ VND, tuy nhiên các vụ cháy nổ trên toàn quốc diễn biến xấu gây nhiều tổn thất về người và tài sản, ảnh hưởng đến tình hình bồi thường của nghiệp vụ.
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu: trong 6 tháng đầu năm 2004 phí đạt ước trên 160 tỷ VND tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân có tốc độ tăng trưởng cao là do năm nay hàng hoá xuất nhập khẩu đạt được tương đối cao (xuất khẩu đạt 11.8 tỷ USD tăng 19.8%, nhập khẩu đạt 14.169 tỷ USD tăng 14.7%) do đó tỷ lệ hàng được bảo hiểm tăng.
Tuy nhiên thị phần bảo hiểm hàng hóa bị mất thị phần trên “sân nhà” nguyên nhân là do các công ty thường nhập hàng ở Việt Nam, bán ngay tại cảng, do đó việc mua bảo hiểm thường thuộc trách nhiệm của bên bán và bên mua. Hiện có 6% hàng xuất và 24% hàng nhập được bảo hiểm trong nước. 85% thị phần bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu thuộc các công ty nước ngoài. 12 doanh nghiệp trong nước chiếm phần còn lại nhưng thưc tế chỉ có 7 công ty duy trì được hoạt động.
Các nghiệp vụ đối nội của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam: ngược lại với các nghiệp vụ bảo hiểm khác, phát triển không đồng đều như bảo hiểm xe cơ giới. Cách đây 1 năm đã có cơn sốt phí bảo hiểm xe cơ giới nhưng năm nay phí bảo hiểm của loại hình này không có biến động, thậm chí còn giảm sút ở 1 số công ty.
Nghiệp vụ bả hiểm nông nghiệp: hiện nay được tiến hành bởi 2 công ty bảo hiểm Bảo Việt và Groupama. Qua nhiều năm hoạt động, 2 công ty bảo hiểm này kinh doanh về lĩnh vực này hầu như là lỗ.
Nhìn chung thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong những năm gần đây co những bước phát triển khá ổn định nhưng chưa đồng đều. Để thị trường này ổn định hơn thì cần phải hợp tác chặt chẽ các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ với nhau, đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm của xã hội, đặc biệt là những nghiệp vụ mang tính chất phục vụ.
b. Tình hình thị trường bảo hiểm nhân thọ:
Từ 1999 đến 2002 khách hàng tham gia vào ngành bảo hiểm nhân thọ tăng rất nhanh (hàng triệu người). Năm 2003 tốc độ phát triển hơi chậm lại khoảng 40% vì hầu hềt các công ty cung ứng dịch vụ tập trung theo chiều sâu, đầu tư cho kế hoạch trung và dài hạn. Nhưng nhìn chung tốc độ phát triển bảo hiểm nhân thọ vẫn cao hơn nhiều so với những năm qua.
Tuy nhiên hiện nay các công ty phải trải qua thời kỳ khó khăn. Người tiêu dùng ngày càng nhận thức được dùng tiền gửi ngân hàng sẽ được hưởng lãi suất cao hơn những khoản lãi mà hợp đồng bảo hiểm mang lại. Ngoài ra thị trường tài chính có những dịch vụ thu hút nhiều người tiêu dùng hơn, Thêm vào đó việc xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ làm cho việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng sâu sắc hơn, tác động đến số lượng hợp đồng bảo hiểm: Bảo Việt nhân thọ, Bảo Minh CMG, Prudential, Manulife số lượng hợp đồng khai thác mới 6 tháng đầu năm đã giảm 15%-30% so với nửa đầu năm ngoái. Việc giảm sút này tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu hiện tại của các doanh nghiệp nhờ vào số hợp đồng có hiệu lực đã ký từ năm trước nhưng về lâu dài sẽ ảnh hưởng và qua đó tác động đến lợi nhuận của công ty và lợi ích của khách hàng.
Việc phân tích sự gia tăng số lượng công ty, đại lý bảo hiểm, cũnh như giá trị dịch vụ trên thị trường bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, có thể thấy được tốc độ tăng trưởng của ngành bảo hiểm Việt Nam tăng khá nhanh và không ngừng hoàn thiện.
c. Tình hình tự do hóa dịch vụ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Chính vì thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển khá tốt nên đá có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư vào thị trường này.Hiện nay, thị phần của các doanh nghiệp nước ngoài là 60%, thuộc về Prudential, Bảo Minh…Có rất nhiều công ty liên doanh cũng như 100% vốn nước ngoài đang hoạt động trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Gần đây cũng đã xuất hiện thêm nhiều công ty bảo hiểm liên doanh. Điển hình 2 công ty liên doanh mới: Công ty liên doanh bảo hiểm châu Á - Ngân hàng công thương VN với vốn điều lệ 6 triệu USD, trong đó 50% do Công ty bảo hiểm châu Á của Singapore đóng góp. Công ty này sẽ tận dụng lợi thế của đối tác là các khách hàng của hệ thống Ngân hàng công thương trên toàn quốc với 600 văn phòng chi nhánh và 20.500 khách hàng có số dư nợ từ 50 triệu đồng trở lên. Samsung Vina có vốn điều lệ là 5 triệu USD, trong đó Vinare đóng góp 50% và Samsung Fire Marine Insurance đóng góp 50%. Công ty này sẽ tận dụng lợi thế là các khách hàng bảo hiểm Hàn Quốc tại VN. Bởi vì hiện nay lượng vốn đầu tư của Hàn Quốc vào VN đang đứng thứ tư, sau Nhật, Singapore và Hồng Công với số vốn là 3,7 tỷ USD. Và VN đang được đánh giá là nước thứ hai về hấp dẫn đầu tư sau Trung Quốc trong khu vực với các doanh nghiệp Hàn Quốc. 9/2003, Gras Savoye, công ty môi giới bảo hiểm lớn nhất nước Pháp và lớn thứ 3 trên thế giới cũng đã chính thức hoạt động tại VN thay vì chỉ có văn phòng đại diện như trước kia. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được mở cửa, mở ra 1 thời kỳ tự do hóa cho ngành bảo hiểm Việt Nam, dần xoá đi tình trạng độc quyền trong ngành.
d. Những tồn tại trong thị trường bảo hiểm Việt Nam
Đánh giá chung về thị trường bảo hiểm Việt Nam đang có bước phát triển , tuy nhiên vẫn còn nhiều mặt tồn tạicần được khắc phục.
Năng lực tài chính và khả năng đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế. Cho đến nay, trừ Bảo Việt và Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential, các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại mới chỉ có đủ số vốn theo quy định của pháp luật. Và như vậy với tổng số vốn thực (khoảng 1.515 tỷ đồng) thì không đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam trên thương trường thế giới.
Bên cạnh đó trên thị trường còn diễn ra tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh.Tại nhiều công ty cổ phần bảo hiểm chuyên ngành như Công ty bảo hiểm Dầu khí (PVI), Công ty Cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) và Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu điện (PTI)... đang tạo ra tình trạng độc quyền bảo hiểm trong các ngành: dầu khí, xăng dầu và bưu chính viễn thông. Điều này làm hạn chế quyền tự do lựa chọn tham gia bảo hiểm của các doanh nghiệp, tổ chức trong ngành, không phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước.
Phạm vi và quy mô của thị trường nhỏ chưa tương xứng với tiềm năng và khả năng phát triển của nền kinh tế - xã hội khi tổng doanh thu phí bảo hiểm chỉ mới chiếm được 1,32 GDP. Mức độ đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế - xã hội với từng loại hình bảo hiểm còn hạn chế. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm còn quá thấp một số lĩnh vực tiềm năng của ngành bảo hiểm chưa được khai thác (bảo hiểm nông nghiệp mới chỉ đạt có 0,08% diện tích cây trồng và 0,1% vật nuôi. Bảo hiểm đánh bắt thủy sản từ 5 - 8% và nuôi trồng thủy sản chỉ có 1%. Bảo hiểm tai nạn con người, tai nạn học sinh sinh viên chỉ đạt khoảng 12 - 15 %. Bảo hiểm hành khách chỉ đạt có 39%. Bảo hiểm kỹ thuật đạt 6 - 7% nguồn đầu tư trong nước và hơn 70 % với khu vực đầu tư nước ngoài. Bảo hiểm hàng xuất khẩu đạt 3%-5% kim ngạch xuất khẩu và hàng nhập khẩu hơn 20% kim ngạch xuất khẩu. Bảo hiểm xe cơ giới chỉ đạt 30 - 40 % với xe ô tô và 10 % với xe gắn máy). Thực tế trên thị trường bảo hiểm Việt Nam còn tồn tại rất nhiều mặt, những mặt tồn tại này ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm, và phần nào kiềm hãm sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng như cơ hội hội nhập với thị trường bảo hiểm thế giới.
2. Dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam:
Thị trường bảo hiểm Việt Nam qua các năm đã có bước phát triển khá rõ rệt. Thị trường bảo hiểm Việt Nam thật sự là thị trường có nhiều tiềm năng để các nhà đầu tư khai thác. Tuy có những chính sách khá phức tạp, còn có những tồn tại trên thị trường bảo hiểm Việt Nam nhưng những tồn tại ấy đang dần khắc phục để mở cửa, theo xu hướng hội nhập quốc tế. Trong tương lai, các lĩnh vực hợp tác bảo hiểm sẽ được mở rộng ra. Hiện nay lĩnh vực xe cơ giới là bước đầu của sự hợp tác bảo hiểm trong ASEAN. Tức là bất cứ một chiếc xe cơ giới nào của ASEAN xảy ra tổn thất ở đâu thì nó đều được đền bù mà không kể nó được mua bảo hiểm ở nước nào.Hoạt động hợp tác bảo hiểm phát triển còn giúp giải quyết được nhiều việc làm hơn cho người dân, nhất là lực lượng tri thức trẻ.
Theo chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2010, các doanh nghiệp (DN) kinh doanh bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ sẽ được sắp xếp đổi mới theo hướng đa dạng các hình thức sở hữu (như DN nhà nước, công ty cổ phần, DN có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức bảo hiểm tương hỗ…). Theo đó, Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) sẽ được xây dựng thành tập đoàn tài chính đa năng (hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, nhân thọ và đầu tư chứng khoán…). Bảo Việt, DN 100% vốn nhà nước duy nhất tại Việt Nam được điều chỉnh vốn điều lệ từ 586 tỷ đồng (hiện nay) lên mức 3.000 tỷ đồng (năm 2005) và 5.000 tỷ đồng (năm 2010). Các công ty bảo hiểm nhà nước khác như Công ty Bảo hiểm TPHCM (Bảo Minh), Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia (Vinare) và Công ty bảo hiểm Dầu khí (PVI) cũng sẽ được tiến hành cổ phần hóa.Theo ông Phùng Ðắc Lộc, Hiệp hội bảo hiểm VN thì “bảo hiểm phi nhân thọ tại VN hứa hẹn nhiều triển vọng, vì mỗi năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, bình quân nước ngoài bình quân là 1,5 tỷ USD, chưa kể nguồn viện trợ ODA cũng như đầu tư trong nước với các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị ở các địa phương đang trải thảm mời gọi các nhà đầu tư tạo tiềm năng cho bảo hiểm kỹ thuật, xây dựng và lắp đặt. Mặt khác, đội tàu trên 2,5 triệu GRT và tài sản của ngành hàng không, điện lực, bưu chính viễn thông, dầu khí, xăng dầu nếu tham gia bảo hiểm, thì sẽ là thị trường đem lại doanh thu không nhỏ cho các doanh nghiệp bảo hiểm.”. Như vậy cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam quả thật là “vùng đất màu mỡ” đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tạo cơ hội cho ngành bảo hiểm nước ta hội nhập chung với ngành bảo hiểm thế giới. Đó là mục tiêu lầu dài của thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Sinh Viên: Lê Nguyễn Phương Thảo
Lớp: NH3-K27


,./;'[]
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  09:31:55  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ
* Về tình hình thị trường:
Năm 2003,thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, doanh thu phí bảo hiểm tòan thị trường ước đạt 10.400 tỷ đồng, tăng 48.5% so vớI năm 2002. Qua đó làm tăng tỷ trọng phí bảo hiểm so vớI GDP lên 1.739%. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 6.317 tỷ đồng,tốc độ tăng trưởng 53%, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 4.083 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng lên 30%.
Tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ mạnh hơn lĩnh vực bảo hiểm phí nhân thọ, cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm dịch chuyển theo hướng tăng dần tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ trên tổng doanh thu phí bảo hiểm của tòan thị trường .
“Từ ngày 1/10/2004, Bảo Việt nhân thọ dự diến sẽ đưa ra thị trường 2 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mớI: “Quyền lợI miễn nộp phí bảo hiểm” và “Quyền lợI miễn nộp phí bảo hiểm đặc biệt”. Các sản phẩm này có các điều khỏan riêng, tăng thêm cơ hộI lựa cọn cho khách hảng.
Nhìn vào kết quả của quá trình hệ thống đạI lý phi nhân thọ nói chung và độI ngũ đạI lý chuyên nghiệp nói riêng của Bảo Việt trong hơn 3 năm qua thấy rằng có một bứơc tiến đáng kể. ĐộI ngũ đạI lý chuyên nghiệp phi nhân thọ của Bảo Việt đã phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, tạo nên một mạng lướI đạI lý rộng khắp trên tòan quốc.
Nếu như năm 2001 mớI chỉ có 700 đạI lý, doanh thu phí bảo hiểm 20 tỷ đồng thì đến năm 2002 đã có 1.400 đạI lý họat động đem lạI 50 tỷ đồng doanh thu và năm 2003 đã có 2.400 đạI lý đem lạI 130 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm.

Doanh thu khai thác bình quân đạI lý cũng tăng lên đáng kể, tăng từ 28 triệu đ/1 đạI lý/1 năm (năm 2001) lên 55 triệu đ/1 đạI lý/ 1 năm (năm 2003). Riêng 8 tháng đầu năm 2004, lực lượng đạI lý chuyên nghiệp trong tòan hệ thống Bảo Việt Việt Nam đã trực tiếp khai thác 130 tỷ đồng phí bảo hiểm, riêng bảo hiểm xe máy đã cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho gần 1 triệu xe hơi vớI 70 tỷ đồng phí bảo hiểm chiếm gần 50% tổng ố xe máy tham gia bảo hiểm tạI Bảo Việt.

Bảo hiểm nhân thọ cũng giống như các lĩnh vực kinh doanh khác dường như đã trảI qua giai đọan phát triển nóng khi mà số hợp đồng bảo hiểm tăng liên tục và bây giờ là thờI kỳ trầm lắng, suy thóai. Nhưng ngay cả trong những ngày suy thóai, cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm cũng không vì thế mà bớt quyết liệt. Trong số các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, chỉ có công ty Bảo Hiểm Quốc Tế (AIA) có số hợp đồng khai thác mớI tăng trong nửa đầu năm nay (ước tính 36.400 hợp đồng so vớI 28.382 của sáu tháng đầu năm 2003. AIA Việt Nam, hiện có 200.000 khách hàng và 16.000 đạI lý tư vấn bảo hiểm chuyên nghiệp. Song, thị phần của tập đòan này ở thị trường Việt Nam còn khá bé nhỏ. AIA gần như chủ trương đi chậm mà chắc .

ở các công ty như Bảo Việt Nhân Thọ, Bảo Minh CMG, Prudential, Manulife số hợp đồng khai thác mớI 6 tháng đầu năm nay đã giảm từ 15-30%.mức giảm mạnh nhất thuộc về Prudential,từ 240812 hợp đồng xuống 15000-16000. bảo việt nhân tho và manulife có mức giảm ít hơn.Bảo Việt Nhânt Thọ vẫn đang dẫn đấu thị trường về doanh thu và số hợp đồng còn hiệu lực. Doanh thu nửa đầu năm 2004 của Bảo Việt Nhân Thọ ước đạt 1.465 tỉ đồng vớI gần 1,63 triệu hợp đồng còn hiệu lực. Thị phần của Bảo Việt Nhân Thọ tính theo doanh thu bằng 43,6% tòan thị trường, tăng 2,1% so vớI cuốI năm 2003. ĐạI gia này cũng chiếm khỏang 52% thị phần tính theo số lượng hợp đồng còn hiệu lực, tăng 0,6% so vớI mức 51,4% của năm ngóai. “Đây là lần đầu tiên trong vòng năm năm qua, thị phần của Bảo Việt trong lĩnh vực nhân thọ tăng lên”.

Để giành thêm thị phần các công ty bảo hiểm không ngừng đưa ra sản phẩm mớI và liên kết các ngân hàng rộng khắp tạo kênh phân phốI sản phẩm rộng như Manulife liên kết vớI Ngân hàng Đông Á, Prudential vớI Vietcombank, Á Châu, Bảo Việt nhân thọ vớI ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn. Bên cạnh việc tăng cường các hình thức và công cụ khai thác bảo hiểm, các dịch vụ chăm sóc khách hảng cũng cảng ngày cảng được hòan thiện. Các công ty đều có những dịch vụ đi kèm vớI việc bán sản phẩm bảo hiểm như phát hành thẻ khuyến mãi mua hàng, tặng quà, tài trợ, các họat động từ thiện. Các trung tâm tư vấn khách hàng của các công ty đã phát triển nhanh chóng trên phạm vi cả nước. Các đường dây nóng được thiết lập để trả lờI và tư vấn cho khách hàng.

Tuy nhiên thị trường bảo hiểm cũng chỉ đáp ứng một phần nhu cầu bảo hiểm và mớI khai thác được một phần thị trường,tiềm lực và vốn năng lực kinh doanh năng lực quản lý hiệu quả và sức cạnh tranh chưa mạnh còn hạn chế chỉ mớI khai thác ở mức độ thấp như bảo hểm nông nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm trong nghề nghiệp, trong lĩnh vực xây dựng, y tế,…


DỰ BÁO

1.Việc sút giảm hợp đồng mớI tuy chưa ảnh hưởng trực tiếp tớI doanh thu hiện tạI của các doanh nghiệp bảo hiểm nhờ số hợp đồng cỏn hiệu lực đã được ký kết từ những năm trứơc. Nhưng về lâu dài, nó sẽ tác động trực tiếp đến doanh thu của những năm sau, và qua đó đến lợI nhuận của các công ty và quyền lợI của khách hàng.

2. Tất cả những điều đó cho thấy cuộc cạnh tranh thực sự trên thị trường bảo hiểm nhân thọ mớI chỉ bắt đầu và sẽ ngày càng quyết liệt trong những năm tớI đây, cạnh tranh sẽ xuất hiện trên tất cả các mặt như sản phẩm bảo hiểm, chất lượng phục vụ, năng lực vốn, kinh nghiệm và giá cả sản phẩm. Để đạt được tốc độ phát triển trung bình hàng năm của bảo hiểm nhân thọ khỏang 28% như đã đề ra trong chiến lược phát triển thị trường từ năm 2003 đến năm 2010, các công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ nâng cao năng lực tài chính, năng lực họat động. Một số công ty sẽ phảI bổ sung vốn họat động hoặc sắp xếp lạI cơ cấu tổ chức họat động. Phù hợp vớI tiến trình hộI nhập và mở cửa của thị trường bảo hiểm theo lộ trình của Hiệp Định thương mạI Việt Mỹ, một số công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngỏai tớI đây sẽ được cấp giấy phép họat động tạI thị trường Việt Nam. Khi đó, cuộc cạnh tranh quyết liệt mớI thực sự diễn ra.

3. Trước hết phảI nói đến sức ép cạnh tranh trong bảo hiểm sẽ ngày càng lớn. Rõ ràng, thị trường bảo hiểm Việt Nam vớI tiềm năng và tốc độ tăng trưởng cao, sẽ là nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngòai – các DNBH nước ngòai hàng đầu, vớI kinh nghiệm kinh doanh lâu đờI, phạm vi họat động, khả năng tài chính lớn, trình độ công nghệ cũng như quản lý vượt trộI... thật sự là những thách thức lớn .
Theo dự báo của các chuyên gia trong ngành bảo hiểm thì từ nay cho đến 2010, số doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục tăng theo xu thế tăng trưởng của ngành.

4. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam hứa hẹn nhiều triển vọng, hàng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngòai bình quân 1,5 tỷ $, chưa kể đến các họat động đầu tư ồ ạt trong nước, vớI những đô thị mớI, khu chế xuất và khu công nghiệp không ngừng được hình thành, thì cơ hộI cho bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, hàng không, vận tảI xăng dầu ...phát triển. Mặt khác, sự phát triển các họat động kinh tế, xã hộI và quá trình hộI nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện phát sinh và phát triển các nhu cầu bảo hiểm. Các lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng, thương mạI, đầu tư quốc tế, viễn thông đều là những lĩnh vực rất tiềm năng cho dịch vụ bảo hiểm trong tương lai.

5.Xu hướng tòan cầu hóa trong mọI lĩnh vực của đờI sống kinh t ế ngày càng được khẳng định. Đặc biệt là từ khi các hiệp định về dịch vụ tài chính giữa nước ta vớI các nước , tổ chức, khu vực được thông qua việc mở cửa thị trường và tự do hóa trong lĩnh vực tài chính trong đó có đ ó hiểm ngày càng trở nên cấp thiết. việc từng bước hộI nhập trong lĩnh vực bảo hiểm là một điều tất yếu khách quan.

HỌ TÊN SV: NGUYỄN LƯU TƯỜNG THỤY
LỚP: NH3-K27



nt=Tahoma][/font=Tahoma][black][/black]
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  11:29:06  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
I/ Vài nét tổng quan về kinh tế Việt Nam :
Năm 2003, mặc dù chịu tác động tiêu cực từ các khó khăn về thiên tai, hạn hán, nhiều khó khăn mới xuất hiện trong cuộc chiến tranh I rắc và dịch bệnh SARS làm ảnh hưởng đến các hoạt động về kinh doanh du lịch, dịch vụ và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Song do có sự nỗ lực phấn đấu của các bộ, ngành, địa phương, các DN và sự chỉ đạo điều hành nhanh nhạy, kịp thời của Chính phủ, những khó khăn đã từng bước được khắc phục. Có thể thấy rõ điều này qua số liệu tổng hợp được từ Tổng cục thống kê, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2003 tăng 7.24% so với năm 2002, cao nhất khu vực Đông Nam Á và đứng thứ hai ở Châu Á. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3.2%; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10.34%; Khu vực dịch vụ tăng 6.57%.
Và trong 6 tháng đầu năm 2004, tuy có những khó khăn khách quan như hạn hán, rét đậm đầu vụ đông xuân ở các tỉnh phía Bắc, dịch cúm gia cầm hoành hành trong những tháng đầu năm, giá tiêu dùng tăng, giá một số vật tư trên thị trường thế giới, nhất là xăng dầu tăng mạnh, song hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế đều tăng so với cùng kỳ. Theo số liệu từ cục thống kê, Tổng sản phẩm trong nước GDP tăng 7%, giá trị sản xuất tăng công nghiệp tăng 15.4%, kim ngạch xuất khẩu tăng 19.8%, vốn đầu tư nước ngoài cấp mới và bổ sung tăng 14% so với cùng kỳ năm 2003. Nhìn chung, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, có một số mặt đạt kết quả vượt trội nhưng mục tiêu của cả năm vẫn còn phía trước và nhiệm vụ trong 6 tháng cuối năm vẫn còn rất nặng nề.
II/ Thị trường Bảo Hiểm Việt Nam :
Năm 2003, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam, ngành Bảo Hiểm Việt Nam tiếp tục có bước phát triển ổn định và vững chắc với tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt trên 10490 tỷ VND, tăng 35% so với năm trước. Trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 3990 tỷ VND, tăng 26% so với năm trước; và doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt trên 6500 tỷ VND, tăng gần 41% so với năm trước.
Và trong 6 tháng đầu năm 2004, tuy vẫn đạt được mức tăng trưởng tương đối tốt, song xét về tốc độ thì đã giảm hơn so với nửa đầu năm 2003. Tổng phí bảo hiểm toàn thị trường 6 tháng đầu năm đạt 6023 tỷ VND, tăng 23.96% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thị trường phi nhân thọ đạt 2286 tỷ VND, tăng 16.2% và thị trường nhân thọ đạt 3746 tỷ VND, tăng 29.2% ( Các chỉ tiêu tăng trưởng tương ứng của 6 tháng đầu năm 2003 là 40.72% - 36.55% - 43.73%).
Ø Về Bảo hiểm phi nhân thọ :
Tiềm năng phát triển Bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam rất mạnh.
Các khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh, xuất nhập khẩu tăng mạnh, việc triển khai các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng như : Cầu Cần Thơ, Cầu Phú Mỹ, hệ thống sân bay, cảng..., xây dựng đô thị hoá chung cư cao tầng cùng với công trình phúc lợi và việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam là một cơ hội rất tốt cho sự phát triển của Bảo hiểm phi nhân thọ.
Bên cạnh đó, Nông nghiệp là mảng hầu như chưa được khai thác. Theo Hội Nông dân Việt Nam, nhu cầu Bảo hiểm Nông nghiệp ở nước ta là rất lớn, kết quả khảo sát cho thấy có đến 87% nông dân có nhu cầu bảo hiểm cho tài sản của mình, nhất là cây lúa nhưng hiện nay tại Việt Nam chỉ có duy nhất 1 doanh nghiệp đang kinh doanh lĩnh vực này là Groupama – doanh nghiệp của Pháp có 100% vốn nước ngoài. Mặc dù vẫn thế nhưng mới đây, nhà đầu tư này đã quyết định ngừng tất cả các hoạt động khai thác mới và nộp đơn lên Bộ Tài chính đề nghị cho phép mở rộng các dịch vụ hoạt động, cả về phạm vi và nghiệp vụ, chứ không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực nông nghiệp và ở đồng bằng sông Cửu Long. Theo ông Lê Song Lai, Phó Vụ Trưởng Vụ Bảo hiểm Bộ Tài chính, ngoài việc thay đổi chiến lược kinh doanh, lý do để Groupama đưa ra quyết định trên là do loại hình Bảo hiểm Nông nghiệp vốn có nhiều rủi ro, nhất là ở Việt Nam, thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra, nên hiệu quả kinh doanh quá thấp, doanh thu của Groupama trong 6 tháng đầu năm 2004 chỉ vỏn vẹn 5 triệu đồng. Tương tự, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, sau hơn 5 năm tham gia lĩnh vực Bảo hiểm Nông nghiệp, mà chủ lực là cây lúa, cũng đã phải chịu lỗ hơn 2.5 tỷ đồng.
Nguyên nhân của việc chưa khai thác được tiềm năng này là do thứ nhất, sự hiểu biết của nông dân Việt Nam về Bảo hiểm Nông nghiệp còn rất hạn chế, thậm chí cả những Doanh nghiệp làm nông nghiệp; thứ hai, nông dân chưa có thói quen mua bẩo hiểm vì nông nghiệp Việt Nam còn đang phát triển ở trình độ thấp, canh tác, chăn nuôi phần lớn theo mô hình hộ gia đình với đặc điểm nhỏ, manh mún và phân tán nên năng suất thấp, khiến nhiều hộ nông dân ngại tham gia mua bảo hiểm mặc dù chi phí rất thấp; thứ ba, do phải thường xuyên đối diện với dịch bệnh thiên tai, nên rủi ro lớn, khiến nhiều DN kinh doanh bảo hiểm ngại tham gia vào lĩnh vực ít lợi nhuận này.
Do đó nhiều ý kiến cho rằng, Bảo hiểm Nông nghiệp không thể phát triển độc lập mà cần có sự hỗ trợ từ Nhà nước. Cụ thể là cho tính phí mua bảo hiểm vào giá thành sản xuất để khuyến khích các DN lĩnh vực nông nghiệp tham gia mua bảo hiểm cho tài sản của mình. Đồng thời lập quỹ bảo hiểm quốc gia có sự đóng góp từ nhiều nguồn, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo để hỗ trợ nông dân, những người thường gánh chịu rủi ro trong sản xuất do thiên tai, dịch bệnh. Và theo ông Hoàng Xuân Điều, chuyên gia bảo hiểm nông nghiệp Bảo Việt cho biết để tháo gỡ những khó khăn trong bảo hiểm nông nghiệp nói chung và cây lúa nói riêng thì có 2 vấn đề mấu chốt : Một là Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ hợp lý cho bảo hiểm nông nghiệp; Hai là cần có những biện pháp nhằm thay đổi thái độ và nhận thức của người dân về bảo hiểm nông nghiệp. Nói rõ hơn là Nhà nước cần có cơ chế nhằm phối hợp giữa bảo hiểm và ngân hàng, cụ thể là kết hợp việc cho nông dân vay vốn ngân hàng với bán bảo hiểm nông nghiệp; và cần hỗ trợ một phần phí bảo hiểm cho bà con nông dân. Mặt khác hạn chế, tiến tới bỏ dần cơ chế khoanh nợ, xoá nợ mỗi khi có thiên tai xảy ra để người dân tự giác hình thành ý thức tham gia bảo hiểm.
Bên cạnh nông nghiệp thì tiềm năng khai thác bảo hiểm hàng hoá tỏng thị trường còn rất lớn. Mặc dù kim ngạch XNK của cả nước hàng năm tăng đáng kể song bảo hiểm hàng hoá XNK chỉ đạt mức tăng trưởng khá khiêm tốn trong thời gian qua. Thực tế từ 1995 đến 2003 các doanh nghiệp bảo hiểm hàng năm chỉ bảo hiểm được khoảng từ 23% - 25% kim ngạch nhập khẩu và từ 5% - 6% kim ngạch xuất khẩu trong cả nước.
Ø Về Bảo hiểm nhân thọ :
Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) ở Việt Nam được biết đến từ tháng 8/1996 khi Bảo Việt triển khai thí điểm bán BHNT ra thị trường. Nhưng thị trường BHNT ở Việt Nam thật sự phát triển mạnh khi có các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vào cuối năm 1999 như Manulife, Prudential...Với sự phát triển vượt bậc của các công ty BHNT trong thời gian qua trên thị trường, nên dù sinh sau đẻ muộn nhưng BHNT ở Việt Nam đã ngày càng khẳng định vị trí trong ngành Bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Sự phát triển của BHNT được đánh dấu bởi những kết quả rất đáng tự hào trên nhiều mặt:
- Đạt tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu phí và số hợp đồng khai thác : Nếu như năm 1996 tổng số hợp đồng khai thác thử nghiệm đạt được là 1200 hợp đồng với doanh thu phí chưa đến 1 tỷ đồng thì cuối năm 2003 số hợp đồng đang có hiệu lực trên thị trường đã đạt khoảng 5.5 triệu hợp đồng với doanh thu phí đạt 6442 tỷ đồng. Dự kiến năm 2004 số phí BHNT sẽ lên tới 8200 tỷ đồng.
- Sản phẩm BH đa dạng, dịch vụ phong phú và ngày càng hoàn thiện đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng thuộc nhiều tầng lớp khác nhau : Năm 1996, khi Bảo Việt triển khai BHNT mới chỉ có 3 sản phẩm thì hiện nay trên thị trường có trên 50 loại sản phẩm khác nhau có thể lựa chọn tuỳ theo mục đích : tiết kiệm, phòng ngừa rủi ro hay cả hai mục đích đó cùng với các hình thức hỗ trợ sau cấp đơn BH như thẻ giảm giá, tư vấn du học...và việc thanh toán bằng thẻ hay qua ngân hàng.
- Thiết lập được mạng lưới kinh doanh phủ khắp cả nước : Các công ty BHNT đã có mặt tại hầu hết các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước. Chẳng hạn như Bảo Việt Nhân thọ có 64 công ty BHNT tại 64 tỉnh và thành phố. Bên cạnh đó, mô hình hoạt động, công tác quản lý của các công ty cũng ngày càng được hoàn thiện và điều chỉnh để hoạt động có hiệu quả.
- Xây dựng một đội ngũ đại lý BHNT hùng hậu, tạo được một khối lượng lớn công ăn việc làm cho xã hội : Lực lượng đại lý BHNT chuyên nghiệp đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Tính đến nay, số lượng đại lý (tư vấn viên) bảo hiểm chuyên nghiệp hay tư vấn tài chính đã lên đến 90000 người, góp phần tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động. Hiện nay các công ty đã tiến tới đa dạng hoá kênh phân phối, hầu hết các công ty đều có quan hệ hợp tác với ngân hàng trong khai thác và thu phí bảo hiểm. Sự hợp tác này là tín hiệu báo hiệu sự hình thành mô hình ngân hàng - bảo hiểm ở Việt Nam.
- BHNT tạo kênh huy động vốn và cung cấp vốn lớn cho nền kinh tế : Thông qua quá trình khai thác bảo hiểm, các nguồn vốn nhàn rỗi phân tán trong dân cư được các công ty bảo hiểm tập trung để hình thành một quỹ đầu tư lớn, cung cấp vốn trở lại cho nền kinh tế, đặc biệt là vốn trung, dài hạn, góp phần phát triển kinh tế. Các lĩnh vực đầu tư hiện nay đang rất được quan tâm là chứng khoán, ngân hàng, du lich - dịch vụ, khách sạn, xây dựng cơ sở hạ tầng, một số ngành sản xuất và giao thông vận tải,...Hoạt động đầu tư tài chính trở thành xương sống nâng đỡ cho hoạt động kinh doanh BHNT.
- Vể mặt xã hội : BHNT góp phần tạo lập cuộc sống ổn định, thịnh vượng, nâng cao nhận thức của người dân về BHNT.Về phía các công ty BHNT, tích cực quảng bá cho BHNT thông qua các hoạt động từ thiện, tài trợ các chương trình văn hoá thể thao, y tế và các hoạt động xã hội khác,...góp phấn xây dựng một xã hội an bình, thịnh vượng, nâng cao uy tín và hình ảnh của ngành BHNT.
Tuy BHNT ở Việt Nam đạt được kết quả rất đáng tự hào nhưng tổng số hợp đồng đang có hiệu lực trên thị trường hiện nay vào khoảng 6 triệu hợp đồng so với dân số trên 81 triệu người thì vẫn còn rất nhỏ. Chứng tỏ tiềm năng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Ø Tái bảo hiểm :
Hiện nay trên thị trường Việt Nam chỉ có 1 công ty tái bảo hiểm là công ty Vinare. Và trong thời gian 10 năm hoạt động từ 1/1/1995 công ty đã đạt được những thành tích đáng phấn khởi trên các mặt :
- Kinh doanh nhận và nhượng tái bảo hiểm trong nước và quốc tế : Tổng doanh thu phí nhận tái bảo hiểm từ năm 1995 đến tháng 6/2004 đạt 3189 tỷ VND, trong đó phí nhận tái bảo hiểm trên cơ sở tự nguyện và nhận tái bảo hiểm từ thị trường nước ngoài đạt 1635 tỷ VND, chiếm 51% tổng doanh thu.
- Là đầu mối điều tiết dịch vụ cho thị trường trong nước : Điều tiết dịch vụ nhằm nâng phần dịch vụ giữ lại cho thị trường trong nước, hạn chế phí tái bảo hiểm bằng ngoại tệ ra thị trường nước ngoài. Tổng phí giữ lại thông qua hoạt động của Vinare từ 1995 – 2003 đạt 1073 tỷ VND, chiếm trên 78% phí nhận tái bảo hiểm bắt buộc của công ty, đồng nghĩa với việc hạn chế được trên 1000 tỷ VND phí bảo hiểm phải chuyển ra nước ngoài.
- Tư vấn giúp đỡ các doanh nghiệp bảo hiểm về mặt khai thác bảo hiểm, tái bảo hiểm và giải quyết bồi thường.
- Là đầu mối cung cấp thông tin bảo hiểm – tái bảo hiểm cho thị trường trong nước và quốc tế.
- Là đầu mối tổng hợp tình hình thị trường giúp cho việc quản lý và hợp tác trong kinh doanh bảo hiểm.
- Đẩy mạnh công tác đầu tư vốn nhàn rỗi, mở rộng phạm vi và diện hoạt động đẩu tư, chú trọng lĩnh vực đầu tư trung và dài hạn, ưu tiên góp vốn vào các DN hoạt động có hiệu quả, và tham gia thị trường chứng khoán. Tổng thu nhập từ hoạt động đầu tư này trong giai đoạn từ 1995 – tháng 6/2004 đạt gần 88 tỷ VND.
III/ Chiến lược phát triển :
Để phát triển thị trường Bảo hiểm Việt Nam, thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “ Chiến lược phát triển thị trường Bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010” .
Mục tiêu của chiến lược : Phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư; bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đẩu tư phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Nhà nước quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế.
Một số chỉ tiêu chủ yếu :
a/ Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/ năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng 16.5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm. Tỷ trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2.5% năm 2005 và 4.2% năm 2010.
Đến năm 2010, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng khoảng 12 lần; tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế tăng khoảng 14 lần so với năm 2002.
b/ Tạo công ăn việc làm cho khoảng 150000 người vào năm 2010. Nộp ngân sách Nhà nước giai đoạn 2003 – 2010 tăng bình quân 20%/năm.
Và theo chiến lược phát triển thị trường Bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 – 2010, việc phát triển và sắp xếp các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục tiêu phát triển các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, theo hướng đa dạng hình thức sở hữu bao gồm doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức bảo hiểm tương hỗ...
Các DNNN không được dùng vốn Nhà nước để thành lập doanh nghiệp bảo hiểm mới hoặc công ty cổ phần bảo hiểm mới mang tính chuyên ngành, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước hiện nay để nâng cao năng lực tài chính và năng lực hoạt động, giữ được thị phần lớn trên thị trường trong nước và tham gia thị trường bảo hiểm quốc tế.
Tổng công ty bảo hiểm VN ( Bảo Việt ) sẽ được xây dựng thành một tập đoàn tài chính đa năng hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, nhân thọ, đầu tư, chứng khoán, trong đó hoạt động chủ yếu là kinh doanh bảo hiểm và là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước duy nhất. Bảo Việt sẽ tăng vốn điều lệ từ 586 tỷ đồng hiện nay lên mức 3000 tỷ đồng năm 2005 và 5000 tỷ đồng năm 2010. Hiện này Bảo Việt đã tách thành Bảo Việt nhân thọ và Bảo Việt phi nhân thọ.
Và trong xu thế hội nhập quốc tế, tiếp tục mở cửa thị trường, đã tiến hành cổ phần hoá các công ty bảo hiểm ở Viêt Nam. Hiện nay, Bảo Minh đã cổ phần hoá xong, là công ty bảo hiểm cổ phần có vốn nhà nước chi phối, chuyên kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và thực hiện các hoạt động khác như : đầu tư vốn, dịch vụ tài chính, trong đó bảo hiểm là hoạt động kinh doanh chủ yếu. Công ty Bảo hiểm dầu khí PVI 100% vốn nhà nước, trực thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam hiện đang hoạt động đơn ngành, không có khả năng cạnh tranh khi thị trường tiếp tục mở cửa, hội nhập quốc tế, hoạt động của PVI ảnh hưởng đến việc giảm giá thành, hiệu quả kinh doanh của ngành dầu khí, vì vậy PVI sẽ chuyển thành cổ đông của Bảo Minh. Phần vốn nhà nước của PVI sẽ là cổ phần của Tổng công ty dầu khí Việt Nam trong Bảo Minh.
Giống như Bảo Minh, Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam Vinare cũng đang trong quá trình cổ phần hoá, do vốn nhà nước chi phối, hoạt động chuyên lĩnh vực tái bảo hiểm duy nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Đến năm 2010 Vinare có đủ năng lực tài chính, năng lực kinh doanh để tham gia thị trường tái bảo hiểm quốc tế. Đến năm 2005, Vinare đủ sức giữ vai trò điều tiết thị trường tái bảo hiểm Việt Nam, không để phụ thuộc vào thị trường tái bảo hiểm quốc tế trong việc thu xếp các dịch vụ tái bảo hiểm lớn và phức tạp như tái bảo hiểm hàng không, dầu khí, năng lượng..., ngay cả khi thị trường tái bảo hiểm quốc tế có sự biến động, thu hẹp năng lực nhận tái bảo hiểm. Việc cổ phần hoá Vinare sẽ được tiến hành theo hướng : vốn của Vinare (vốn Nhà nước) giữ cổ phần chi phối với sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động trên thị trường nhằm nâng cao mức giữ lại để hạn chế việc chuyển phí tái bảo hiểm ra nước ngoài, duy trì sự an toàn và ổn định của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Với chiến lược mở rộng thị trường, sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm trong nước và nước ngoài ngày càng gay gắt hơn. Về thuận lợi, các công ty bảo hiểm trong nước hiểu rõ về người Việt Nam, do đó sẽ có các chiến lược cung cấp các sản phẩm phục vụ đúng nhu cầu của người Việt Nam, hệ thống mạng lưới phân phối, cơ sở vật chất phát triển khắp toàn quốc, đã tạo được danh tiếng, hình ảnh, uy tín trên thương trường. Về khó khăn, các công ty bảo hiểm trong nước còn non kém, năng lực tài chính thua kém các công ty bảo hiểm nước ngoài, các công ty bảo hiểm trong nước còn phải đối mặt với sự cạnh tranh về chất lượng phục vụ, sự đa dạng hoá của các dịch vụ bảo hiểm, khả năng về vốn, giá cả dịch vụ. Đặc biệt DN bảo hiểm Việt Nam cần khắc phục tình trạng cạnh tranh không lành mạnh bằng cách giảm phí thu bảo hiểm, tăng hoa hồng, không tương xứng với rủi ro được bảo hiểm.
Tóm lại, để phát huy được những lợi thế của mình, các DN bảo hiểm VN cần chủ động hơn nữa trong hội nhập, đổi mới nhanh hơn, tạo nguồn tài chính vững mạnh, tăng cường năng lực kinh doanh, ứng dụng công nghệ quản lý hiện đại, không ngừng xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, kỹ năng và phong cách làm việc chuyên nghiệp cùng với việc tích cực khai thác những tiềm năng của thị trường Việt Nam để phát triển lên những tầm cao mới.
Họ và tên : NGUYỄN CẨM MINH PHƯƠNG
Lớp : NH3 - K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  16:45:00  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Trong những năm gần đây tình hình an ninh chính trị thế giới có rất nhiều thay đổi , đặc biệt là khủng bố , đại dịch Sars , chiến tranh Irak đã ảnh hưởng đến mọi mặt của nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam và tất nhiên lãnh vực Bảo Hiểm cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó , mặt dù dưới tác động không tích cực lắm nhưng thị trường Bảo Hiểm Việt NAm vẫn có sự tăng trưởng cụ thể là năm 2003 doanh thu phí Bảo Hiểm chiếm 2.3% GDP tăng 4.4% so với năm 2002.
Thị trường Bảo Hiểm Việt NAm thực sự mở cửa vào năm 1994 mà cụ thể là sự kiện Công ty Bảo Hiểm TP Hồ Chí Minh ( Bảo Minh )được tách ra từ Tổng Công ty Bảo Hiểm Việt NAm , cho đến nay thì thị trường Bảo Hiểm Việt Nam có tới 23 Công ty Bảo Hiểm và các lãnh vực Bảo Hiểm , các Công ty Bảo Hiểm tham gia rất phong phú và đa dạng như : Bảo Hiểm gốc , tái Bảo hiểm và môi giới bảo hiểm ...
Trước đây Bảo Việt chiếm tòan bộ thị trường Bảo Hiểm Việt Nam và từ khi Bảo Minh và một số Công ty Bảo Hiểm khác thành lập thì thị trường Bảo Hiểm Việt NAm có sự phân chia lại thị phần từ chổ nắm giữ 100% thị phần thì đến năm 2000 Bảo Việt chỉ còn 50.9% thị phần , số thị phần còn lại thuộc về các công ty mới thành lập như : Bảo MInh , PJiCo , Bảo Long , PTI ....
Qua sự phân chi lại thị phần này chúng ta thấy được rõ thị trường Bảo Hiểm Việt NAm đang hình thành một xu hướng tự do hóa dịch vụ Bảo Hiểm .
Với sự xuất hiện ngày càng nhiều các lọai hình doanh nghiệp Bảo Hiểm và sự đa dạng hóa hình thức họat động sẽ tạo cho thị trường Bảo Hiểm Việt NAm một bộ mặt mới họat động có hiệu quả và vững mạnh , tạo thế đứng cho Bảo Hiểm Việt NAm trên thị trừơng Quốc Tế .
HỌ VÀ TÊN : NGUYỄN ANH SƠN
LỚP : NH3 - K27
Lên đầu trang

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  16:49:43  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[quote][i]Originally posted by tienhung[/i]
[br]Đề tài thảo luận dành cho sinh viên Lớp NH K27 đang học môn NL&TH BH, thời hạn đến 24 h ngày chủ nhật 10/10/2004, các bạn nhớ gởi bài có ghi rõ Họ tên thật và lớp)
[size=3][b]"Hãy đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam"[/b][/size=3]


[/quote]
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  17:00:39  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
tr

Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  17:28:28  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[font=Arial]Đánh giá và dự báo về thị trường Bảo hiểm Việt Nam

Vấn đề bảo hiểm đã xuất hiện ở Việt Nam từ thờI kì bao cấp. Khi đó nó là thị trường của các doanh nghiệp(DN) nước ngoài , DN trong nước chỉ có sự góp mặt cúa Bảo Việt, nhưng cũng chỉ dướI vai trò là đạI lý. Trước tình hình đó, ngày 18/12/1993, Chính phủ đã ban hành nghị định số 100/CP về kinh doanh BH nhằm thực hi ện chính sách phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Bắt đầu từ năm 1994, thị trường BH Việt Nam đã chính thức được mở cửa cho các doanh nghiệp BH khác trong nước tham gia vào thị trường. Tiếp đó, bắt đầu từ năm 1996, Việt Nam đã từng bước mở cửa thị trường BH cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trước năm 1993, ở Việt Nam chỉ có duy nhất một doanh nghiệp BH là Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam thì đến nay đã có 25 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh BH (bao gồm các DNNN, công ty cổ phần, DN có vốn đầu tư nước ngoài). Lĩnh vực hoạt động của các DNBH được mở rộng, không còn chỉ đơn thuần BH gốc mà còn bao gồm hoạt động tái BH, BH nhân thọ, phi nhân thọ và môi giới BH.
Sau hơn 10 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh BH tại Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng, đóng góp đáng kể cho việc giảm thiểu các rủi ro trong sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hộI của ngườI dân; cải thiện môi trường đầu tư; giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nuớc. Thị trường bảo hiểm cũng đã góp phần làm tăng trưởng và phát triển KT - XH. Về kinh tế: doanh thu từ phí bảo hiểm đạt 10.500 tỷ đồng năm 2003 đã tạo lập được nguồn vốn lớn để đầu tư trung và dài hạn cho nền kinh tế. Về xã hộI, việc gia tăng nhanh chóng số lượng đạI lý trong thờI gian qua đã gia tăng số lao động trong ngành BH lên hơn 70- 80 lần, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Không chỉ gia tăng về số lượng các công ty BH mà về chất lượng và hoạt động cũng được nâng cao rõ rệt. Điều này thể hiện qua việc đa dạng hóa các sản phẩm BH( Bảo Việt tung thêm 2 sản phẩm mới bổ trợ cho sản phẩm chính là: "Quyền lợi miễn nộp phí bảo hiểm", "Quyền lợi miễn nộp phí bảo hiểm đặc biệt" và 3 sản phẩm chính là: "An gia lập nghiệp", "An gia thịnh vượng có thời hạn trung bình", "Tử kỳ hoàn phí"; AIA thì có “Thành tài khởi nghiệp”, “An nghiệp tích luỹ” và “Bảo gia hưu trí”,…. ) nhằm đáp ứng được các nhu cầu của ngườI dân.
Lĩnh vực BH vì thế đang được các nhà quản lý quan t âm. Gần đây là cuộ c trao đổI giữa Bộ Tài chính và các DNBH về việc xây dựng 1 cơ chế mở theo hướng mở cửa th ị trường BH trong bốI cảnh hiện nay. Cụ thể là việc tham gia xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung 11 vấn đề trong Thông tư 71, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Luật kinh doanh bảo hiểm. Đó là vấn đề thủ tục thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, môi giới bảo hiểm; hoạt động của đại lý và văn phòng đại diện, đăng ký và phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm; quy định về khai thác bảo hiểm nhân thọ; công khai hóa thông tin doanh nghiệp; tái bảo hiểm, hoa hồng bảo hiểm và chi phí đề phòng hạn chế tổn thất. Đó là một trong những vấn đề gây băn khoăn cho các DN khi muốn tham gia vào ngành BH. Khắc phục được những vấn đề này thì số lượng các DN tham gia vào lĩnh vực này còn nhiều hơn nữa. Qua đó sự canh tranh của các DNBH tăng lên sẽ làm giảm mức phí, càng có lợI cho những ngườI muốn mua BH nhưng còn e ngạI về mức phí đóng hàng tháng hiện nay còn rất cao
Nhìn vào quá trình phát triển của thị trường BH, tư tưởng không bằng lòng vớI những gì mình đang có, phương châm “phục vụ khách hàng tốt nhất để phát triển” cùng vớI sự quan t âm của các cơ quan chức năng, ngành bảo hiểm sẽ có một tương lai tươi sáng.

Hoàng Thị Thu Giang
NH1- K27 [/font=Arial]


Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  17:38:20  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển của ngành bảo hiểm TP HCM
+1975 ở Sài Gòn có 54 công ty quốc hữu hoá và tất cả công ty đó sau khi quốc hữu hoá thì đước tập trung vào BAVINA
+1976: BAVINA trở thành Bảo Việt của TPHCM
+1988: Bảo Việt nâng cấp lên thành tổng công ty, đây là bước phát triển của Bảo Việt
+12/1992, Bộ tài chính giao vốn cho Bảo Việt. Nghị định ĐQNN ra đời, Bảo hiềm là công cụ nằm trong tay chính phủ để diều khiển nến kinh tế
-1994 đến nay
+18/12/1993: nghị định 100CP ra đời xoá bỏ độc quyền nhà nước, mở ra 1 giai đoạn mới
+11/1994 công ty Bảo Minh ra đời , sau đó PJICO ra đờI
+12/2000 luật kinh doanh bảo hiểm được quốc hội thông qua, bắt đầu hiệu lực 1/4/2001
+8/2003 chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2010 được Chính Phủ thông qua
Doanh nghiệp Bảo hiểm có 25 công ty, số lượng công ty tăng nhanh
-lĩnh vực kinh doanh: gồm Bảo hiểm gốc, tái Bảo hiểm, môi giớI bảo hiểm, đại lý Bảo hiềm
-Thành phần kinh tế: Nhà nước từ độc quyền nhà nước, sau khi xoá bỏ độc quyền nhà nước thì nhiều doanh nghiệp nhà nước, sau đó có sự tham gia các công ty cổ phần, rồI đến liên doanh và cuối cùng là 100% vốn nước ngoài, tư nhân
Thị phần Bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam năm 2001,2002,2003
Công ty 2001(%) 2002(%) 2003(%)
Bảo Việt 45.975 40.39 41.68
Bảo Minh_CMG 23.774 28.08 23.52
PJICO 5.759 5.65 9.27
PVIC 12.888 14.50 13.82
PTI 3.808 3.70 4.01
VIA 1.505 1.41 1.58
ALLIANZ 2.212 2.62 1.66
VIET_UC 0.533 0.56 0.43
Bảo Long 1.063 1.09 1.49
UIC 2.483 2.00 2.23
Nông nghiệp 0.05
Bảo Ngân (IAI) 0.06
SAMSUNGVINA 0.2

Thị phần bảo hiểm của các công ty Bảo hiểm nhân thọ
Công ty 2002(%) 2003(%) 2004(Hợp đồng đang có hiệu lực)(%)
AIA 5 5.92 4.21
Bảo Minh 2 2.34 1.81
Bảo Việt 46 38.09 34.09
Manulfe 12 8.13 6.36
Prudential 35 45.52 33.53
Bảo hiểm nhân thọ Bảo Việt triển khai năm 1997, 1999 manulfe xuất hiện,Prudential xuất hiện
Số đại lý mới năm 2002
Công ty Đại lý mới Tổng đại lý
AIA 6,569.00 4,600.00
Bảo Minh 5,372.00 4,565.00
Bảo Việt 7,789.00 17,860.00
Manulfe 7,938.00 6,347.00
Prudential 18,569.00 36,398.00
Tổng 46,187.00 69,850.00
Tốc độ phát triển đại lý năm 2002
Công ty 2001 2002 Tốc độ tăng trưởng(%)
AIA 6,158.00 4,680.00 -24
Bảo Minh 1,502.00 4,565.00 203.93
Bảo Việt 12,800.00 17,860.00 39.53
Manulfe 4,630.00 6,347.00 37.08
Prudential 17,210.00 36,398.00 111.49
Tổng 42,300.00 69,480.00 64.25

Qua quá trình hình thành và phát triển của các loạI hình bảo hiểm ở TP HCM cho ta thấy một triển vọng khá lớn của ngành bảo hiểm,thể hiện qua những vấn đề sau

1) Thị phần bị chia xẻ từ Bảo Việt cho các công ty khác là minh chứng cụ thể cho xu hướng tự do hoá dịch vụ BH. Ngoài ra, nếu như trước đây chỉ có loạI hình BH Nhà nước độc quyền thì qua thờI gian đã xuất hiện thêm nhiều loại hình doanh nghiệp BH khác như cổ phần, liên doanh hay 100% vốn nước ngoài…Các doanh nghiệp này ngày càng lớn mạnh và đủ tiềm lực tài chính để cạnh tranh cùng các doanh nghiệp Nhà nước.
2) Sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại hình doanh nghiệp BH làm cho hoạt động của thị trường BH Việt Nam trở nên nhộn nhịp và đa dạng. Tuy nhiên câu hỏI đặt ra là liệu thị trường BH dần thoát ra khỏi thế độc quyền Nhà nước có phảI là dấu hiệu đáng mừng. Liệu các công ty cổ phần, liên doanh hay 100% vốn nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều có làm cho thị trường BH rốI ren, liệu khi Nhà nước không còn độc quyền quản lý, thị trường BH có đi chệch hướng, không phù hợp định hướng XHCN mà chúng ta đang theo đuổi…
3) Trong thời gian gần đây, nhiều Dn Nhà nước đã bắt đầu bước vào giai đoạn cổ phần hoá ,các ngân hàng thương mạI cũng cổ phần hoá và đã đạt được nhiều thành công. Vậy tạI sao không thể cổ phần hoá các doanh nghiệp BH. Một khi hoạt động bằng chính đồng vốn do mình bỏ ra họ sẽ không thể bỏ qua hiệu quả và sự đi lên vững mạnh của chính bản thân doanh nghiệp nói riêng và BH Việt Nam nói chung.
Hơn nữa sự xuất hiện nhiều công ty BH sẽ tạo ra sự cạnh tranh, nhờ đó chất lượng dịch vụ sẽ không ngừng nâng cao cũng như phí BH sẽ phù hợp hơn với thu nhập còn thấp của ngườI dân Việt Nam.
4) +hiện nay thị trường đã có hơn 20 DN tham gia hoạt động thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó có 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài giúp cải thiện môi trường đầu tư, củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài.
+năng lực kinh doanh và trình độ của cán bộ bảo hiểm ngày càng được nâng cao cùng với năng lực tài chính của các DN cũng liên tục được mở rộng.
-Ngày càng nâng cao chât lượng và hiệu quả hoạt động bảo hiểm
+Số lượng các sản phẩm bảo hiểm phong phú bao gồm cả loại hình BH nhân thọ, phi nhân thọ gồm cả 3 lĩnh vực BH con người, tài sản và trách nhiệm.
+chất lượng sản phẩm bảo hiểm, chất lượng phục vụ cũng được nâng cao do tình trạng độc quyền không còn đòi hỏi các DN phải tập trung đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ nhằm thu hút khách hàng.
-Ngành BH cũng từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm trong khu vực và quốc tế.
+Tham gia vào Diễn đàn các cơ quan BH của ASEAN và Hiệp hội các cơ quan quản lý bảo hiểm quốc tế, ngành BH nước nhà đã tiếp cận vào các nguyên tắc và tiêu chuẩn chung của thị trường BH thế giới, tạo sức ép tự hoàn thiện đồng thời thu hút thông tin , công nghệ và kinh nghiệm.
+Mở cửa thị trường BH: cùng với việc mở cửa thị trường cho phép các DN nước ngoài tham gia, ngành BH ViệtNam đã từng bước hoàn thiện, kiện toàn thị trường trong nước, đóng góp tích cực cho các mục tiêu kinh tế- xã hội.
-Cuối cùng và không kém phần quan trọng,công tác quản lý của Nhà nước đối với thị trường này càng được hoàn thiện hơn, thật sự đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường cũng như định hướng cho thị trường phát triển.Cùng với Luật Kinh doanh bảo hiểm ra đời năm 2000, các Nghị định Thông tư ra đời sau đó đã tạo khung pháp lý vững chắc, giúp các DNBH yên tâm phát triển hoạt động. Bên cạnh đó,phương thức quản lý bỏ dần những can thiệp hành chính và tăng cường năng lực quản lý, trình độ của cán bộ cũng tạo nên những biến chuyển tích cực trên thị trường.Hiệp hội bảo hiểm VN ra đời đã từng bước trở thành cầu nối giữa DN và cơ quan quản lý, giữa DN với nhau thúc đẩy sự hợp tác, phát triển của ngành BH

Một số dự báo cho ngành bảo hiểm VN

1.Cơ hội nhiều và tiềm năng phát triển lớn.
Trong báo cáo phát triển thế giớI 2005 do WB công bố ngày 28/9 dựa trên các cuộc khảo sát tạI 30000 công ty ở 53 nước đang phát triển, Việt Nam được đề cập đến về nổ lực đưa ra các qui định thông thoáng nhằm tạo điều kiện cho sự ra đờI của hàng loạt doanh nghiệp.
Thu nhập, mức sống và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của dân cư ngày càng được cảI thiện, làm tăng thêm nhu cầu về bảo hiểm y tế và sức khỏe. Mặt khác, trình độ dân trí cũng như nhận thức của đạI đa số các tầng lớp dân cư về BH được nâng cao, điều đó tạo ra những tiền đề thuận lợI để phát triển các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.Có thể nói thị trường BH ở VN đầy tiềm năng. Thị trường BH phi nhân thọ hứa hẹn nhiều triển vọng, hàng năm ngân sách đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1.5 tỷ $, vớI những đô thị mớI, khu chế xuất và khu công nghiệp không ngừng được hình thành, thì cơ hộI cho BH kỹ thuật, BH xây dựng và lắp đặt, hàng không, vận tảI xăng dầu…phát triển.Mặt khác, sự phát triển các hoạt động kinh tế, xã hộI và quá trình hộI nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện phát sinh và phát triển nhu cầu BH. Các lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng, thương mạI, đầu tư quốc tế, viễn thông đều là những lĩnh vực rất tiềm năng cho dịch vụ BH trong tương lai.
Theo phân tích của các chuyên gia, tăng trưởng GDP trong quí cuốI năm hoàn toàn có thể tiếp tục đạt mức 8%, thậm chí cao hơn. Như vậy, tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2004 hoàn toàn có thể vượt mức 7,5% đã đề ra. Điều kiện này cũng góp phần tăng doanh thu phí BH ở nước ta.
2.Ngành BH VN phát triển theo hướng hộI nhập quốc tế :
Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu thế tất yếu của các quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại.
Trong điều kiện thị trường BH mở cửa và hộI nhập, bên cạnh những điều kiện thuận lợI, các doanh nghiệp BH Nhà nước phảI đốI mặt vớI những thách thức như cạnh tranh trên thị trường BH ngày càng gay gắt, do có sự gia nhập ngày càng nhiều của các doanh nghiệp BH nước ngoài, vớI tiềm lực tài chính vững mạnh, kinh nghiệm hoạt động lâu đờI trên phạm vi toàn cầu và trình độ chuyên môn… vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp BH Nhà nước hiện tạI và trong tương lai phảI tìm giảI pháp để khắc phục những yếu kém còn tồn tạI, nhằm củng cố và giữ vững vị thế của mình.
Các doanh nghiệp BH Nhà nước cần chủ động tìm các biện pháp để tăng vốn điều lệ như bổ sung từ nguồn vốn tự có, từ lợI nhuận, sáp nhập vớI DNBH khác…Bên cạnh đó, cần khẩn trương thực hiện chủ trương của Chinh Phủ, tiến hành cổ phần hóa, cảI tiến chế độ quản lý…sẽ giúp các công ty xác định đúng năng lực cạnh tranh và tăng cường kinh nghiệm hoạt động trên thị trường.
Điều đáng lưu ý nhất trong hoạt động bảo hiểm hiện nay là tình trạng độc quyền trong kinh doanh vẫn còn. Việc tồn tạI nhiều công ty cổ phần chuyên ngành như công ty BH Dầu khí(PVIC), cty CPBH Petrolimex (PIJICO) và Cty CPBH Bưu điện (PTI)… đang tạo ra tình trạng độc quyền BH trong các ngành: dầu khí, xăng dầu và bưu chính viễn thông. Điều này làm hạn chế quyền tự do lựa chọn tham gia BH của các doanh nghiệp, tổ chức trong ngành, không phù hợp vớI chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Nhà Nước. Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp BH và cty CPBH chuyên ngành chỉ quan tâm đến lợI ích cục bộ của ngành mình, hơn nữa do có sẵn dịch vụ, sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính của ngành, cho nên không quan tâm đến việc nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh để nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và mở rộng phục vụ đến đông đảo khách hàng.
Việc cổ phần hóa DNNN và trao quyền quản lý cho các công ty chuyên ngành bằng cách bán cổ phần cho họ phảI chăng là điều nên làm? Nếu vậy, tình trạng độc quyền BH trong các ngành sẽ giảm đi, tránh được tình trạng xáo động thị trường không cần thiết khi hàng loạt doanh nghiệp xin phép thành lập công ty BH chuyên ngành, như ngành hàng không, ngành GTVT. Các ngành này sau khi trở thành cổ đông của công ty đương nhiên sẽ mua BH của công ty mình, giúp doanh nghiệp BH VN có được chỗ đứng vững chắc khi mở cửa hộI nhập.
Các doanh nghiệp BH Nhà nước (Bảo Việt, Bảo Minh, Vinare) có mốI quan hệ rộng khắp vớI các nhà BH hàng đầu thế giớI như Commercial Union (Anh), CIGNA (Mỹ)… Đặc biệt, Bảo Việt còn đặt một trụ sở ở Anh (BAVINA). MốI quan hệ này nhằm thực hiện nhiều hoạt động nghiệp vụ đa dạng như tái bảo hiểm, đạI lý giám định, bồI thường… góp phần đưa thị trường BH Việt Nam hộI nhập vớI thị trường BH khu vực và thế giới.

Với những tiềm năng thuận lợi sẵn có, xu hướng mở cửa hội nhập quốc tế, ngành bảo hiềm Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, cải thiện vị trí của mình về bảo hiểm trong khu vực và trên thế giới.
SV : NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
NGÀY SINH :26/09/1983
LỚP :NH2-K27
STT :38
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  17:45:51  Xem thông tin cá nhân
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Đánh giá :
Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển một cách nhanh chóng. Và việc tự do hoá dịch vụ bảo hiểm làm cho cạnh tranh ngày càng gay gắt dẫn đến thị trường bảo hiểm ngày càng hoàn thiện hơn :
 Số lượng công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm có mặt trên thị trường ngày càng tăng : năm 2000 là 15 công ty và đến nay là 25 công ty.
 18/12/93 nghị định 100 CP ra đời xoá bỏ độc quyền nhà nước, năm 95 có sự tham gia của công ty cổ phần . Đến nay loại hình doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng đa dạng với nhiều hình thức : doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài . Với xu hướng thị phần của công ty bảo hiểm dưới hình thức công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài ngày càng tăng và doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm : thị phần của Bảo Việt phi nhân thọ ( doanh nghiệp nhà nước) ngày càng giảm năm 95 là 83.07%, năm 96 là 69.06%, năm 2000 là 50.9%, năm 2003 là 41.68%.
 Năm 93 chỉ có lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ nhưng đến nay thì lĩnh vực hoạt động bảo hiểm ngày càng đa dạng : bảo hiểm gốc , tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm với xu hướng lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển. Số lượng đại lý bảo hiểm tăng lên. Phí bảo hiểm phi nhân thọ cũng tăng : năm 91 là 207 tỷ đồng, năm 2000 là 1798 tỷ, năm 2001 là 2150 tỷ và năm 2003 là 3070 tỷ ; phí bào hiểm nhân thọ tăng một cách đáng kể : năm 97 là 11 tỷ, năm 2000 là 2775 tỷ, năm 2003 là 4615 tỷ.
 Tổng doanh thu bảo hiểm ngày càng tăng : năm 91 là 207 tỷ, năm 2000 là 4933 tỷ , năm 2003 là 7685.


Dự báo :
• Do dân số Việt Nam đông khoảng 80 triệu người, tăng trưởng kinh tế khoảng 7.5% nên thị trường bảo hiểm Việt Nam trong tương lai sẽ là một thị trường tiềm năng.
• Kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển sẽ làm cho thu nhập bình quân của người dân ngày càng tăng.Lúc đó ý thức muốn phòng ngừa rủi ro sẽ ngày càng tăng và họ có thể thực hiện được ( khi thu nhập họ tăng lên), do đó sẽ làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển.
• Thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển và hoàn thiện sẽ thu hút vốn đầu tư của các ngành khác, khai thác triệt để tiềm năng của thị trường bảo hiểm.
• Ngành bảo hiểm Việt Nam có xu hướng toàn cầu hoá hội nhập với các nước trên thế giới, từ đó sẽ phát triển ra nước ngoài hoặc cho nước ngoài vào.

Dương Thuỳ Vân
lớp NH2-K27


Van
Lên đầu trang

n/a
deleted

1 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  17:54:46  Xem thông tin cá nhân
ĐÁNH GIÁ & DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
PHẠM THỊ YẾN TRANG NH2-K27
ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯƠNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
 Tính từ năm 1964 đến 1993 tren thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có một Tổng Công Ty Bảo Hiểm Việt Nam (Bảo Việt).Do cơ chế bao cấp và độc quyền nên quy mô bảo hiểm nhỏ,sản phẩm đơn điệu, phạm vi hạn chế… chỉ mới dừng lại ở chức năng bảo vệ tài sản chưa thực hiện dược chức năng thu hút tiết kiệm và đầu tư
 18/12/1993 chính phủ ban hành nghị định 100/CP nhằm tạo môi trường pháp lý thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển,thu hút đầu tư nước ngoài. Tính đến nay đã có sự tham gia của 25 doanh nghiêp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế gồm: 5doanh nghiệp nhà nước, 7 doang nghiệp cổ phần, 8 doanh nghiệp liên doanh, 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và hơn 70000 người làm đại lý bào hiểm. Có sự chuyển hướng trong cấu trúc vốn của ngành bảo hiểm,tỷ trọng vốn tư nhân và nước ngoài tăng, thế độc quyền bị phá đi, sự cạnh tranh ngày càng cao. Từ 1994 đến nay tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm đạt 23%/năm, doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 7685 tỷ, tăng gấp 10.3 lần so với doanh thu bảo hiểm 1994, các loại hình bảo hiểm ngày càng đa dạng chuẩn hoá, có sự tự do hoá dịch vụ bảo hiểm. Bảo hiểm Việt Nam phát triển và tăng trưởng mạnh.
 Trong bối cảnh cạnh tranh của cơ chế thị trường, các doanh bảo hiêm nhà nước vẩn duy trì được vai trò chủ đạo của mình,thể hiện thông qua thị phần doanh thu phí bảo hiểm và năng lực tài chính,số lượng khách hàng và chất lượng phục vụ ngày càng tăng
 bên cạnh kết quả đạt được ,thị trường bảo hiểm việt nam còn hạn chế: phạm vi v à quy mô còn nhỏ,chưa t ương xứng với tiềm năng, một số lĩnh vực tiềm năng chưa được khai thác như bảo hiểm nông nghiệp chỉ mới đạt 0.08%diện tích cây trồng và 0.1% vật nuôi…,còn độc quyền ngành khác tướng, môi trường cạnh tranh còn chưa lành mạnh (hạ phí ,tăng hoa hồng, lôi kéo đại lý…),và còn nhiều hạn chế khác…
DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM đến 2010
 Xu h ướng toàn cầu hoá và khu vục hoá trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế đang ngày càng được khẳng định.Viêc từng bước hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm là một tất yếu khách quan, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sư tăng trưởng vững chắc với dự báo khả năng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004 là 7.5% trong đó bảo hiểm chiếm 2.3%,tạo đà cho sự tiếp tục phát triển mạnh và bền vững trong những năm tới,qua đó tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho ngành bảo hiểm VN phát triển. Với sự kiện quan trọng năm 2003 đối với sự phát triển của ngành BHVN l à chính phủ phê duỵêt chiến l ược phát triển thị trường BHVN đến 2010,có ý ngh ĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển toàn ngành trong những năm tiếp theo an toàn, hiệu quả và sẳn sàng hội nhập thành công.Với lợi thế về dân số dông tao tiềm năng lớn.Tuy nhiên, việc mở cửa hơn nửa thị trường BHVN cũng đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào thị trường, điều đó có nghĩa là sự cạnh tranh s ẽ càng lớn hơn. Đây là một cơ hội nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn,nếu các doanh nghiệp BHVN không chuẩn bị kỹ càng sẽ mất đi khả năng cạnh tranh ngay trên sân nhà.


Trang
Lên đầu trang

n/a
deleted

4 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  18:01:42  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
mình rất vui mừng dược tham gia diễn đàn với đề tài đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam,hi vọng mình sẽ có được những kiến thức bổ ích từ diễn đàn này.
Lên đầu trang

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  18:08:52  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
[quote][i]Originally posted by tienhung[/i]
[br]Đề tài thảo luận dành cho sinh viên Lớp NH K27 đang học môn NL&TH BH, thời hạn đến 24 h ngày chủ nhật 10/10/2004, các bạn nhớ gởi bài có ghi rõ Họ tên thật và lớp)
[size=3][b]"Hãy đánh giá và dự báo thị trường bảo hiểm Việt Nam"[/b][/size=3]


[/quote] Nhìn chung thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua có sự tăng trưởng mạnh , từ 3 công ti BH nhà nước (1994) đến nay đã có 25 công ty và doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu nhà nước ,lien doanh , cổ phần ,100% vốn nước ngoài.
Lĩnh vực bảo hiểm cũng ngày càng đa dạng , trước năm 1994 chỉ có bảo hiểm phi nhân thọ , sau đó bảo hiểm nhân thọ xuất hiện và ngày càng phát triển manh. Từ chổ chỉ chiếm 11 tỉ đồng VN vào năm 1994 trong tổng số 1352 tỉ đồng VN tổng phí bảo hiểm thu được ở VN . Điến nam 2002 đã chiếm 4615tỉ VND trong tổng số 7685 tỉ tiền phí bảo hiểm thu dược ở VN
Nhìn chung tị trường bảo hiểm VN ngày càng tăng trưởng manh theo sự tăng trưởng của GDP và ngày càng tự do hoá theo sự mở cửa hội nhập quốc tế. Bảo hiểm không còn là độc quyền của nhà nước nữa.
DỰ ĐOÁN
Mặc dù hiện nay VN đang bị lạm phá ,chỉ số giá tăng mạnh nên mấy tháng cuối năm nay thị trường bảo hiểm VN hơi chụng lai .Tuy nhiên nhìn tổng quát về dài hạn thì thị trường bảo hiểm VN sẽ tăng trưởng mạnh vì 2 lí do :
Thứ nhất : VN là một thị trường tiềm năng với dân số tương đối đông và chưa đu9o95 khai thác hết vì dù sao đây vẫn còn là một thị trường tương đối mới nhất là ở khu vực nông thôn
Thứ hai : kinh tế VN ngày càng tăng trưởng mạnh . Do đò nhu cầu bảo của người dân đã cò khả năng thanh toán . Theo dự báo của ngân hang Thế Gíơi thì tốc độ tăng trưởng kinh tế VN vào năm 2004 là 7,5% . Đây là một viễn cảnh khá tốt dối với tình hình kinh tế nước ta và là một cơ hội phát triển đối với các nhà báo hiểm.
Một dự đoán nữa là sắp tới thị trường bảo hiểm VN sẽ phát triển theo hướng hội nhập quốc tế , mở của cho các nhà bảo hiểm nước ngàoi vào và mở ra các nước khác. Đây là một xu thế không thể tránh khỏi nhất là nước ta đang trong tiến trình gia nhập WTO . Thị trường bảo hiểm ngày càng tự do hoá , do vậy các nhà bảo hiểm VN càn trang bị cho mình dủ yhế và lực dể có thể cạnh tranh với các nhà bảo hiểm nước ngoài . Hiện nay VN đã có một số công ty bảo hiểm chuyên ngành như PTI của bưu điện hay PVIC của dầu khí . Việc hình thành các công ty bảo hiểm chuyên ngành có ưu điểm là ngành bảo hiểm đã thu hút vốn được các ngành khác và đã khai thác triệt để tiềm năng của thị trường bảo hiểm VN . Tuy nhiên việc xuất hiện các công ty bảo hiểm chuyên ngành lại vô hình chung tạo ra sự các cứ , độc quyền ngành . Vì vậy hiện nay nhà nước ta có su hướng không cho thành lập các công ty chuyên nhành nữa ( ngành hàng không dã nhiều lần xin thành lập cong ty bảo hiểm nhưng vẫn chưa được cho phép) Các ngành chủ chốt như hàng không ,GTVT, đường sắt vẫn chưa có công ty bảo hiểm chuyên ngành. Vậy thì khi các nhà bảo hiểm chuyên ngành nước ngoài vào thì liệu các ngành này có còn trung thành với các nhà bảo hiểm VN hay không trong khi sản phẩm của các nhà bảo hiểm nước ngoài phong phú , đa dạng, hợp với nhu cầu của mình hơn?

Lên đầu trang

n/a
deleted

4 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  18:11:40  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
chao mung cac ban da tham gia dien dan.
Lên đầu trang

n/a
deleted

3 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  18:12:13  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Nhìn chung thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua có sự tăng trưởng mạnh , từ 3 công ti BH nhà nước (1994) đến nay đã có 25 công ty và doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu nhà nước ,lien doanh , cổ phần ,100% vốn nước ngoài.
Lĩnh vực bảo hiểm cũng ngày càng đa dạng , trước năm 1994 chỉ có bảo hiểm phi nhân thọ , sau đó bảo hiểm nhân thọ xuất hiện và ngày càng phát triển manh. Từ chổ chỉ chiếm 11 tỉ đồng VN vào năm 1994 trong tổng số 1352 tỉ đồng VN tổng phí bảo hiểm thu được ở VN . Điến nam 2002 đã chiếm 4615tỉ VND trong tổng số 7685 tỉ tiền phí bảo hiểm thu dược ở VN
Nhìn chung tị trường bảo hiểm VN ngày càng tăng trưởng manh theo sự tăng trưởng của GDP và ngày càng tự do hoá theo sự mở cửa hội nhập quốc tế. Bảo hiểm không còn là độc quyền của nhà nước nữa.
DỰ ĐOÁN
Mặc dù hiện nay VN đang bị lạm phá ,chỉ số giá tăng mạnh nên mấy tháng cuối năm nay thị trường bảo hiểm VN hơi chụng lai .Tuy nhiên nhìn tổng quát về dài hạn thì thị trường bảo hiểm VN sẽ tăng trưởng mạnh vì 2 lí do :
Thứ nhất : VN là một thị trường tiềm năng với dân số tương đối đông và chưa đu9o95 khai thác hết vì dù sao đây vẫn còn là một thị trường tương đối mới nhất là ở khu vực nông thôn
Thứ hai : kinh tế VN ngày càng tăng trưởng mạnh . Do đò nhu cầu bảo của người dân đã cò khả năng thanh toán . Theo dự báo của ngân hang Thế Gíơi thì tốc độ tăng trưởng kinh tế VN vào năm 2004 là 7,5% . Đây là một viễn cảnh khá tốt dối với tình hình kinh tế nước ta và là một cơ hội phát triển đối với các nhà báo hiểm.
Một dự đoán nữa là sắp tới thị trường bảo hiểm VN sẽ phát triển theo hướng hội nhập quốc tế , mở của cho các nhà bảo hiểm nước ngàoi vào và mở ra các nước khác. Đây là một xu thế không thể tránh khỏi nhất là nước ta đang trong tiến trình gia nhập WTO . Thị trường bảo hiểm ngày càng tự do hoá , do vậy các nhà bảo hiểm VN càn trang bị cho mình dủ yhế và lực dể có thể cạnh tranh với các nhà bảo hiểm nước ngoài . Hiện nay VN đã có một số công ty bảo hiểm chuyên ngành như PTI của bưu điện hay PVIC của dầu khí . Việc hình thành các công ty bảo hiểm chuyên ngành có ưu điểm là ngành bảo hiểm đã thu hút vốn được các ngành khác và đã khai thác triệt để tiềm năng của thị trường bảo hiểm VN . Tuy nhiên việc xuất hiện các công ty bảo hiểm chuyên ngành lại vô hình chung tạo ra sự các cứ , độc quyền ngành . Vì vậy hiện nay nhà nước ta có su hướng không cho thành lập các công ty chuyên nhành nữa ( ngành hàng không dã nhiều lần xin thành lập cong ty bảo hiểm nhưng vẫn chưa được cho phép) Các ngành chủ chốt như hàng không ,GTVT, đường sắt vẫn chưa có công ty bảo hiểm chuyên ngành. Vậy thì khi các nhà bảo hiểm chuyên ngành nước ngoài vào thì liệu các ngành này có còn trung thành với các nhà bảo hiểm VN hay không trong khi sản phẩm của các nhà bảo hiểm nước ngoài phong phú , đa dạng, hợp với nhu cầu của mình hơn?
Trần Thị Minh Phương lớp NH3
Lên đầu trang

n/a
deleted

4 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  18:14:10  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
dien dan
Lên đầu trang

n/a
deleted

4 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  18:22:42  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
Họ và tên sv thực hiện: HOÀNG THỊ THANH THẢO
Lớp : NH2 - K27
Khoa : Ngân hàng
Giáo viên hướng dẫn :Nguyễn Tiến Hùng


Đề tài: đánh giá và dự báo về tình hình thị trường Bảo Hiểm Việt Nam


Tinh đến thờI điểm này thị trường bảo hiểm việt nam đã có tớI 25 công ty bảo hiểm vớI các lĩnh vực hoạt động đa dạng như:bảo hiểm gốc,tái bảo hiểm ,môi giới bảo hiểm và hơn 76000 đạI lý bảo hiểm. 11/94 ngay từ khi Bảo Minh mới ra đờI đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về thị phần, sau một năm kể từ ngày tách riêng từ Bảo Việt, Bảo Minh đã chiếm đươc 15.4% thị phần(Bảo Việt chiếm 83.07% phần còn lạI là của PJICO và Bảo Long)
thị trường bảo hiểm VN trong 10 năm qua đã có những bước phát triển vượt bậc nhảy vọt cả về lượng và chất
từ 3 công ty bảo hiểm nhà nước (năm 94) đã lên đến 25 công ty và doanh nghiệp môi giớI BH thuộc các hình thức sở hữu nhà nước ,liên doanh ,cổ phần ,100%vốn nước ngoài
chất lượng cũng như sản phẩm dịch vụ của các công ty BH ngày càng cao đáp ứng hầu hết nhu cầu của khách hàng
Qua 10 năm phát triển thị trườnng BHVN đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đang từng bước chuyển biến từ độc quyền nhà nước sang tự do hóa doanh nghiệp bảo hiểm,công ty liên doanh ,công ty 100% vốn nước ngoài cũng như chi nhánh bảo hiểm của nước ngoài được thành lập ở VN ngày càng nhiều ngoài ra còn có sự tham gia của các tổ chức tài chính, đặc biệt là ngân hàng vào lĩnh vục bảo hiểm. Điều này làm cho loạI hình doanh nghiệp bao hiểm ngày càng đa dạng ,sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Năm 2003,hầu hết các DN đã đăng ký tăng thêm sản phẩm bảo hiểm mới. Trong số hơn 500 sản phẩm bảo hiểm hiện nay thì có khoãng 200 sản phẩm bảo hiểm con ngườI,trên 250 sản phẩm bảo hiểm tài sản, gần 100 sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm,vớI tổng số hợp đồng trên 2 triệu hợp đồng và tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến cuối 2003 là khoảng 6 triệu hợp đồng( tăng khoảng 45% so vớI năm 2002) .Bên cạnh sự phát triển ngày càng lón mạnh của các sản phẩm nhân thọ , phi nhân tho thì còn nhiều lĩnh vực mà các doanh nghiệp bảo hiểm còn đứng ngoài cuộc như: bảo hiểm nông nghiệp ,bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp… điều này cho thấy các doanh nghiệp bảo hiểm chưa biết tận dụng hết tiềm năng nguồn lực trong nước .Nhiều doanh nghiệp phát triển mạnh song có những doanh nghiệp có dấu hiệu chững lạI.
Theo số liệu thống kê , năm 2003 là năm đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của BHVN,doanh thu phí bảo hiểm đạt được khoảng 10327 tỷ đồng,trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 6443 tỷ đồng, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ là 3885 tỷ đồng, khoảng 1.8 %GDP , tăng 44% so vớI năm 2002. Đạt được tốc độ tăng trưởng cao như vậy là nhờ có sự tăng trưởng đồng đều ở cả hai lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Cụ thể tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ tính đến hết năm 2003 tăng 26.2% so vớI năm 2002, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ có mức tăng trưởng 38.7% so vớI năm 2002,trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt đạt 2652 tỷ đồng, Prudential đạt 2435 tỷ đồng, Manulife đạt 9975 tỷ, AIA đạt 368 tỷ, Bao Minh-CMG đạt 139 tỷ. Sự tăng trưởng này đã đóng góp đáng kể vào việc giảm thiểu rủI ro trong sản xuất, kinh doanh giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước , phát triển kinh tế xã hội.
Theo nhận định năm 2004 sẽ là năm mà BHVN phảI đốI đầu vớI những thách thức.Việc mở cửa thị trường BHVN là điều tất yếu trong bốI cảnh Việt Nam tham gia vào hộI nhập kinh tế quốc tế, việc mở cửa sẽ giúp cho VN có cơ hộI tận dụng được nguồn vốn, kinh nghiệm, công nghệ, kỹ năng quản lý của các nhà cung cấp dịch vụ BH nước ngoài, điều này sẽ thúc đẩy các hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh BH, buộc các doanh nghiệp bảo hiểm phảI tự đổI mớI,nâng cao chất lượng dịch , đa dạng hoá sản phẩm… để có thể phát triển và đúng vững trên thương trường.
Nhìn chung so vớI một số nước trong vực Việt Nam có tốc độ mở cửa thị trường khá nhanh, Trong chiến lược phát triển nghành BHVN đến năm 2010,chính phủ đã đặt mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế và dân cư, với chỉ tiêu : tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm,tỷ trọng doanh thu phí của toàn nghành bảo hiểm so vớI GDP là 2.5% năm 2005 và 4.2% năm 2010
vớI những nhận định và những mục tiêu đề ra trong năm 2010 có thể nói Việt Nam được đánh giá là một trong thị trường bảo hiểm giàu tiềm năng và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất và ổn định nhất trong khu vực Đông Nam Á
để đạt được mục tiêu đó, bên cạnh những thuận lợI là những thách thức to lớn , việc mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường, dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng lớn.Nếu không được chuẩn bị kỹ các doanh ngiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ mất dần năng lực cạnh tranh, do đó các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cần nhanh chóng sắp xếp lạI hoạt động kinh doanh theo hướng chuyên môn hoá,tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính, khuyến khích cổ phần hóa các công ty bảo hiểm và đặc biệt là nâng cao uy tín vớI khách hàng, đây là yếu tố quyết định.
tương lai nền kinh tế việt Nam sẽ phát triên vớI tốc độ ngày càng cao, mọI ngành nghề lĩnh vực sẽ cùng phát triển . Hiện nay kênh phân phốI qua ngân hàng cũng được các công ty bảo hiểm nhân thọ khai thác và đạt hiệu quả không nhỏ, điển hình là công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc giữa ngân hàng BIDV và tập đoàn QB của Úc, công ty bảo hiểm Bảo Ngân giữa ngân hàng Incombank và công ty bảo hiểm Á Châu của Singapore, ngân hàng VCB trở thành đạI lý phân phốI chính thức của Prudential và thực hiện thanh phí bảo hiểm thông qua hệ thống thẻ tự động ATM
Trong tương lai vớI xu hướng hộI nhập quốc tế , Bảo Hiểm Việt Nam sẽ có cơ hộI phát triển vượt bậc về cả quy mô lẫn chất lượng sản phẩm. Đây là một dấu hiệu rất đáng mừng cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam nói chung và bảo hiểm việt Nam nói riêng.
Lên đầu trang

n/a
deleted

2 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  18:45:02  Xem thông tin cá nhân  Gởi mail
-Bảo hiểm VN xuất hiện cuối thế kỷ 19 , đầu thế kỷ 20,nhưng chỉ dưới hình thức những đại lý cuả nước ngoài .
-từ năm 1975-1993 baỏ hiểm thuộc độc quyền cuả nhà nước .
-đến tận 1-4-2000 khi luật kinh doanh bảo hiểm có hiệu lực , nó tạo ra một hành lang pháp lý cho việc kinh doanh bảo hiểm tại vn , thị trường bảo hiểm vn thật sự đổi mơí , cho thấy rõ sự năng động , mạnh mẽ cuả mình .
+trước 1994 : Bảo Việt chiếm toàn bộ thị phần bảo hiểm vn
+1995 :Baỏ việt chiếm 83,07%
Bảo Minh chiếm 15,4%
PJICO, Bảo Long chiếm 1.53%
+2000 :với sự xuất hiện cuả hàng loạt công ty bảo hiểm khác .thị phần cuả Bảo Việt giảm rõ rệt chỉ còn 50,9%
thị phần còn laị thuộc sự chiếm giữ cuả các công ty như baỏ minh , bảo long và các công ty mới thành lập khác
-2002 có khoảng 24 công ty baỏ hiểm . đến 2005 đã có 25 công ty , trong đó có 19 công ty bảo hiểm gốc , 5 công ty môi giới và 1 công ty tái bảo hiểm . và sự có mặt cuả các công ty liên doanh , các công ty 100% vốn nước ngoài .
các công ty bảo hiểm tạo ra nguồn doanh thu ước tính đạt 10090 tỷ đồng vn , tăng 44% so với năm 2002 , doanh thu phí baỏ hiểm chiếm 2,3 % GDP .
-đặc biệt trong các năm gần đây , các đại lý bảo hiểm tăng lên đáng kể , xấp xỉ 100,000 đại lý . đại diện có Bảo Việt : 25461, PRU :38000,AIA : 15502....
-Như ta đã thấy , thị trường bảo hiểm vn trong vòng 10 năm qua đã phát triển rõ rệt , có những bước nhảy vọt cả về chất lượng lẫn số lượng . do tính cạnh tranh ngày càng cao , các dịch vụ mà các công ty đưa ra ngày càng tốt hơn , đáp ứng được nhu cầu của phần lớn khách hàng hơn và càng phù hợp hơn với vn
- tuy nhiên , trong thị trường bảo hiểm vẫn còn gặp 1 số vấn đề chưa được thật sự giải quyết tốt
+phát triển không đồng đều trong các lĩnh vực, ngành nghề: bảo hiểm hàng không , bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu , bảo hiểm xe cơ giới ...
+bảo hiểm nông nghiệp chưa thật sự được ưu ái phát triển.
tuy nông nghiệp hiện nay vẫn còn là 1 ngành chính ở vn nhưng chỉ có 1 dn tiến hành baỏ hiểm nông nghiệp : Groupama .
- tuy còn nhiều thiếu sót và chưa thật sự có nhiều kinh nghiệm như các nước trên thế giới , song thị trường bảo hiểm vn đã và đang tự hoàn thiện mình để ngày càng lớn mạnh , phát triển hơn . Và chắc chắn trong tương lai sẽ la 1 trong các ngành phát triển mạnh ở VN.

ten:
trương thị minh Hiếu
NH3

Edited by - n/a on 10/10/2004 18:53:08
Lên đầu trang

n/a
deleted

4 bài gởi

Posted - 10/10/2004 :  19:13:03  Xem thông tin cá nhân
[font=VNI-times]Nhaän xeùt veà tình hình baûo hieåm Vieät Nam trong nhöõng naêm qua, hieän nay vaø döï ñoaùn tình hình baûo hieåm Vieät Nam trong töông lai:
Theo em thì trong nhöõng naêm qua tình hình thò tröôøng baûo hieåm Vieät Nam ngaøy caøng phaùt trieån, ngaøy caøng trôû leân phong phuù vaø ña daïng hôn, caû ngöôøi baûo hieåm laãn ngöôøi tham gia baûo hieåm ñeå ñöôïc baûo hieåm ñeàu raát quan taâm ñeán thò tröôøng baûo hieåm cuûa Vieät Nam. Tuy nhieân cuøng vôùi söï phaùt trieån cuûa baûo hieåm thì cuõng coù raát nhieàu vaán ñeà khoù khaên vaø trôû neân caàn thieát ñaùng quan taâm ñoái vôùi caùc coâng ty baûo hieåm vaø caû ngöôøi tham gia baûo hieåm.
Noùi ñeán baûo hieåm Vieät Nam ta caàn quan taâm ñeán hai maûng baûo hieåm : baûo hieåm nhaân thoï vaø baûo hieåm phi nhaân thoï. So vôùi tröôùc ñaây caû Vieät Nam chæ coù vaøi coâng ty baûo hieåm thì ngaøy nay chuùng ta coù ñeán 25 coâng ty baûo hieåm caû cuûa nhaø nöôùc, lieân doanh, coå phaàn,, 100% voán lieân doanh nöôùc ngoaøi. Khoâng chæ vaäy maø caùc loaïi hình baûo hieåm nhaân thoï vaø phi nhaân thoï cuõng ngaøy caøng trôû leân phong phuù vaø ña daïng hôn: baûo hieåm thöông maïi, baûo hieåm xe gaén maùy, xe oâtoâ…, baûo hieåm tai naïn con ngöôøi, baûo hieåm haøng hoaù, baûo hieåm traùch nhieäm saûn phaåm vôùi caùc nhaø xuaát khaåu nhaäp khaåu Vieät Nam, baûo hieåm haøng haûi, haøng khoâng, ñöôøng saét, baûo hieåm an sinh giaùo duïc, baûo hieåm tích luyõ tieát kieäm, baûo hieåm y teá, baûo hieåm xaõ hoäi…………..vaø raát nhieàu raát nhieàu loaïi hình baûo hieåm khaùc.
Xeùt veà phaùi baûo hieåm nhaân thoï, khi tröôùc ñaây ña soá moïi ngöôøi daân ñeàu ít tham gia nhöng ngaøy nay khi ñöùng tröôùc tình hình kinh teá chính trò xaõ hoäi vaên hoùa ngaøy caøng hieän ñaïi hoùa coâng nghieäp hoaù, khi maø ñaát nöôùc ñang ngaøy caøng phaùt trieån, ñôøi soáng con ngöôøi ngaøy caøng naâng cao tieän nghi thì cuõng laø luùc con ngöôøi ñöùng tröôùc raát raát nhieàu ruûi ro maø chuùng ta khoâng theå naøo löôøng tröôùc ñöïôc: dòch beänh ngaøy caøng nhieàu, tai naïn lao ñoäng cuõng thöôøng xuyeân xaûy ra do tính chaát coâng vieäc ngaøy caøng cuoán theo xu theá hieän ñaïi hoaù coâng nghieäp hoaù, xuaát hieän ngaøy caøng nhieàu hôn nhöõng beänh maø khoâng coù thuoác chöõa, ñôøi soáng cao baât cöù ai cuõng coù theå coù trong tay moät loaïi hình phöông tieän ñi laïi naøo ñoù neân tai naïn giao thoâng ngaøy caøng xaûy ra nhieàu coù khi ngaøy naøo cuõng coù ít nhaát vaøi vuï, moät phaàn cuõng do daân cö ngaøy caøng ñoâng ñuùc, thieân tai luõ luït hoaû hoaïn………..ñöùng tröôùc nhöõng ruûi ro aáy con ngöôøi ngaøy caøng quan taâm ñeán baûo hieåm vì baûo hieåm moät phaàn naøo ñoù coù theå giaûm thieåu ñöôïc ruûi ro cho con ngöôøi. Tröôùc ñaây do ñôøi soáng coøn ngheøo khoù moïi ngöôøi chæ lo aên töøng böõa neân baûo hieåm khoâng phaùt trieån nhöng hieän nay thì khi ñaõ coù cuûa aên cuûa ñeå thì moïi ngöôøi laïi quan taâm ñeán baûo hieåm nhieàu hôn neân baûo hieåm môùi ngaøy caøng trôû leân quan troïng vôùi moïi ngöôøi. Baûo hieåm khoâng chæ caàn thieát cho ngöôøi ôû taàng lôùp giaøu coù, khaù giaû, maø vôùi taàng lôùp lao ñoäng ngöôøi ngheøo cuõng heát söùc caàn thieát vì tuyø vaøo khaû naêng taøi chính cuûa moãi ngöôøi hoï coù theå mua moät loaïi hình baûo hieåm naøo ñoù phuø hôïp vaø caàn thieát cho mình. Töø ñoù coù theå phaàn naøo ñoù giaûm thieåu ñöôïc toái ña ruûi ro cho chính mình. Noùi veà baûo hieåm nhaân thoï thì raát roäng vaø coù raát nhieàu loaïi hình neân em chæ xin noùi saâu veà moât khía caïnh naøo ñoù cuûa baûo hieåm nhaân thoï. Ñôn cöû nhö vieäc baûo hieåm moâtoâ – xe maùy vöøa cho ngöôøi chuû xe , ngöôøi thöù ba,ngöôøi ngoài treân xe, vaät chaát xe. Tröùôc ñaây moïi ngöôøi thöôøng khoâng ñeå yù ñeán vaø chæ vôùi moät soá ít chuû xe laø chòu mua loaïi hình baûo hieåm naøy coù leõ vì hoï chöa nhaän thöùc ñöôïc söï caàn thieát cuûa baûo hieåm naøy, vaø vì cuõng khoâng bò eùp phaûi mua. Nhöng hai naêm gaàn ñaây ñöùng tröôùc söï cöôõng cheá cuûa luaät phaùp do boä giao thoâng ñöa ra baét taát caû loaïi hình xe gaén maùy phaûi mua döôùi söï kieåm tra gay gaét cuûa caûnh saùt giao thoâng haàu heát moïi ngöôøi ñeàu mua, nhôø vaäy khi tai naïn giao thoâng xaûy ra baûo hieåm ñaõ giuùp khoâng ít ngöôøi coù theå giaûi quyeát ñöôïc vaán ñeà taøi chính, ñaëc bieät laø nhöõng vuï tai naïn lôn xaûy ra toàn thaát ca nhaân maïng laãn taøi saûn xe coä. Tuy nhieân moïi ngöôøi mua baûo hieåm khoâng haún vì söï eùp buoät maø vì hoï ñaõ nhaän thöùc ñöôïc ñaày ñuû yù nghóa vaø söï caàn thieát moät phaàn naøo ñoù cuûa baûo hieåm moâtoâ- xe maùy. Ngaøy nay khi taát caû moïi ngöôøi ñeàu laøm vieäc raát vaát vaû, haàu nhö khoâng coù thôøi gian ñeå lo cho coâng vieäc gia ñình nhöng khoâng haún laø hoï khoâng lo cho con caùi vaø töông lai cuûa con, coù leõ chính vì vaäy maø caøng ngaøy moïi ngöôøi tham gia mua baûo hieåm an sinh giaùo duïc cho con caùi nhaém ñeán töông lai cuûa con caùi coù moät khoaûn tieàn tieát kieäm khi 18 tuoåi, hay khi chuùng vaøo ñaïi hoïc maø cha meï ñaõ giaø veà höu khoâng coøn coù theå ñi laøm kieám tieàn ñöôïc nöõa thì cuõng ñaõ coù moät khoaûn baûo hieåm chi traû tieàn ñeå coù theå lo cho con caùi ñaày ñuû hoïc haønh, vaøo ñaïi hoïc, coâng aên vieäc laøm, laäp gia ñình, ngoaøi ra nhöõng ngöôøi coù nhu caàu döï ñònh seõ cho con caùi ñi du hoïc trong töông lai cuõng coù theå seõ mua loaïi hình baûo hieåm naøy nhaèm tích tröõ tieàn moät caùch an toaøn cho con caùi…………….vì vaäy hieän nay loaïi hình baûo hieåm naøy cuõng khaù phoå bieán vaø ñöôïc moïi ngöôøi quan taâm. Tuy nhieân vôùi em thì moät vaán ñeà maø em thaät söï quan taâm vaø böùc xuùc laïi laø baûo hieåm y teá cuûa Vieät Nam. Haàu heá nhöõng ngöôøi daân laøm trong nhaø nöôùc hay nhöõng toå chöùc cuûa nhaø nöôùc, hoïc sinh, sinh vieân ñeàu ñöôïc mua baûo hieåm y teá, vaø khi ñi khaùm beänh seõ ñöôïc höôûng nhöõng quyeàn lôïi ñaëc bieät …. Nhöng treân thöïc teá hieän nay nhöõng ngöôøi coù baûo hieåm laïi khoâng höôûng ñöôïc nhöõng caùi maø hoï troâng ñôïi maø caùi hoï nhaän ñöôïc chính laø söï thaát voïng ngaøy caøng lôùn veà baûo hieåm y teá. Tuy raéng hieän nay nöôùc ta ñaõ coù nhöõng thay ñoåi ñaùng keå nhöng moät soá ngöôøi daân vaãn phaøn naøn veà söï thieáu soùt khi söû duïng baûo hieåm y teá, caàm cuoán baûo hieåm y teá trong tay ñeán beänh vieän nheõ ra hoï vaãn phaûi nhaän ñöôïc söï aân caàn chu ñaùo taän tình cuûa beänh vieän nhö nhöõng ngöôøi khoâng söû duïng baûo hieåm nhöng ngöôïc laïi hoï laïi bò phaân bieät ñoái xöû, thua keùm hôn haún nhöõng ngöôøi ñeán khaùm beänh maø khoâng coù baûo hieåm. Vaäy thì thöû hoûi baûo hieåm y teá ñaõ ñem laïi gì cho nhöõng ngöôøi beänh aáy, ñaây phaûi chaêng chính laø moät ñieàu thieáu xoùt cuûa baûo hieåm Vieät Nam??? Vôùi nhöõng ngöôøi ngheøo thì vôùi hoï baûo hieåm y teá chính laø caùi heát söùc caàn thieát vì vôùi hoïneáu nhö beänh taät thì hoï coù theå an taâm chöõa beänh maø khoâng caàn lo nghó ñeán tieàn baïc nhöng caùi khoù khaên hoï gaëp phaûi chính laø söï phaân bieät ñoái xöû moät caùch roõ reät. Coù ai trong chuùng ta ñaõ töøng thaáy ñöôïc caùi caùch cö xöû aáy cuûa beânh vieän ñoái vôùi ngöôøi beänh caàm trong tay cuoán soå khaùm beänh baûo hieåm y teá ñeán beänh vòeân trong ñau ñôùn cuûa söï haønh haï caên beänh maø hoï ñang maéc phaûi theá nhöng hoï nhaän ñöôïc khoâng phaûi laø lôøi an uûi hoûi han, taän tình maø laø söï quaùt thao, lôùn tieáng, töø töø, khaùm qua loa, hay laø coù kyõ ñi nöõa thì cuõng maát thôøi gian khaù laâu ……… coù leõ moïi ngöøôi seõ noùi raèng tình hình aáy ñaõ qua roài , chæ coù theå xaûy ra ôû caùi thôøi kyø bao caáp hay nhöõng naêm veà tröôùc laâu laém roài, nhöng ñaáy laïi laø chuyeän môùi xaûy ra gaàn ñaây maø thoâi. Vì vaäy khoâng ít ngöôøi ngaàn ngaïi duø trong tay coù baûo hieåm y teá nhöng vaãn khaùm baèng moät soå khaùm khaùc ñeå ñöôïc khaùm nhanh hôn , kyõ hôn, chính xaùc, vaø nhaát laø söï aân caàn, vui veû cuûa caùc y, baùc só. Coøn coù ngöôøi laïi nghó raèng thoâi ñeå soá tieàn mua baûo hieåm y teá aên coøn toát hôn laø mua. Ngöôøi ngheøo thì mong raèng mình khoâng beänh ñeå khoâng phaûi caàm caùi soå y teâ ñeán beänh vieän vaø nhaän ñöôïc thaùi ñoä aáy, söï tuûi thaân vaø töï aùi. Coøn ngöøôi khaù giaû giaøu coù thì laïi nghó thoâi ta ñi beänh vieän tö coù phaûi hay hôn nhieàu khoâng? Cöù nhö vaäy caû coâng ty baûo hieåm laãn nhaø nöôùc ñeàu bò maát ñi moät khoaûn thu nhaäp ñaùng keå. Vaäy thì chuùng ta phaûi laøm gì ñeå moïi ngöôøi khoâng coøn caùi suy nghó aáy, tin vaøo baûo hieåm vaø tham gia vaøo baûo hieåm ngaøy caøng nhieàu hôn??? Coù leõ ñaáy chính la coâng vieäc cuûa nhaø nöôùc noùi chung vaø cuûa caùc oâng ty baûo hieåm noùi rieâng, nhung em nghó raèng ñaây coù leõ chæ laø söï vieäc xaûy ra vôùi moät soá ngöôøi, coøn thaät söï baûo hieåm y teá cua chuùng ta ngaøy nay toát hôn ngaøy xöa raát nhieàu roài, ñaáy cuõng chính laø söï noã löïc cuûa nhaø nöôùc ta vaø cuûa caùc coâng ty baûo hieåm.
Noùi veà baûo hieåm nhaân thoï thì coøn raát nhieàu ñieàu caàn phaûi vieát ñeán nhöng em xin döøng ôû ñaây ñeå vieát moät chuùt ít veà baûo hieåm phi nhaân thoï, maø caùi em ñeà caäp ôû ñaây laïi laø moät lónh vöïc baûo hieåm phi nhaân thoï raát hay vaø ñöôïc raát nhieàu doanh nghieäp quan taâm. Ñaáy chính laø baûo hieåm haøng hoaù vaø baûo hieåm traùch nhieäm saûn phaåm vôùi caùc nhaø xuaát ,nhaäp khaåu Vieät Nam.coù theå noùi raèng ñaây laø moät maûng loaïi hình baûo hieåm khoâng deã daøng gì khi khai thaùc, maø coøn coù theå goïi laø “mieáng xöông khoù gaëm” nhaát cuûa lónh vöïc baûo hieåm phi nhaân thoï. Theo nhö em ñöôïc bieát thì vieäc baùn saûn phaåm baûo hieåm haøng hoaù vaø baûo hieåm traùch nhieäm saûn phaåm vôùi caùc nhaø xuaát ,nhaäp khaåu Vieät Nam voán dó ñaõ raát khoù khaên thì hieän nay laïi caøng trôû leân khoù khaên hôn vaø vaãn chöa theå nhanh choùng chuyeån bieán toát hôn trong thôøi gian ngaén ñöôïc.coù leõ nguyeân nhaân chuû yeáu laø do caùc coâng ty Vieät Nam nhaäp haøng theo giaù CIF vaø baùn haøng theo giaù FOB neân vieäc mua baûo hieåm thöôøng thuoäc veá traùch nhieäm cuûa beân baùn( neáu phiaù Vieät Nam nhaäp) vaø beân mua (neáu phiaù Vieät Nam xuaát)(noåi leân nhaát laø giao dòch giöõa nöôùc ta vaø Myõ) ( thoâng tin naøy em ñöôïc hoïc ôû moân thanh toaùn quoác teá). Chính vì vaäy maø maëc duø kim ngaïch xuaát khaåu haøng hoaù cuûa Vieät Nam trong nhöõng naêm gaàn ñaây taêng nhieàu nhöng phí baûo hieåm haøng xuaát khaåu laïi khoâng taêng töông öùng. Ñaây chaúng phaûi laø ñieàu thieät thoøi cho Vieät Nam vaø ñaùng quan taâm cuûa baûo hieåm Vieät Nam sao??? Nhö vaäy caùc coâng ty baûo hieåm Vieät Nam chæ chen chaân vaøo ñöôïc nhöõng hôïp ñoàng xuaát khaåu soá löôïng nhoû.( daãn chöùng : quí 1 naêm 2004 coâng ty baûo hieåm Baûo Vieät phí baûo hieåm xuaát khaåu chæ taêng khoaûng 30% so vôùi cuøng kyø naêm ngoaùi, chuû yeáu laø taêng phí baûo hieåm caùc hôïp ñoàng xuaát gaïo sang Iraq. Khoâng chæ vaäy xeùt veà baûo hieåm hôïp ñoàng nhaäp khaåu coøn khoù khaên hôn, caùc doanh nghieäp Vieät Nam thöôøng nhaäp haøng theo phöông thöùc traû chaäm neân ñeå giaûm chi phí tôùi möùc toái thieåu cho beân mua, beân baùn thöôøng mau baûo hieåm troïn goùi töø a ñeán z. keát quaû laø caùc coâng ty baûo hieåm Vieät Nam ít khi giaønh ñöôïc nhöõng hôïp doàng nhaäp khaåu lôùn tröø vieäc nhaäp khaåu ñöôïc ngaân saùch nhaø nöôùc thanh toaùn tröïc tieáp. Coù leõ vì vaäy caùc coâng ty baûo hieåm muoán caûi thieän ñöôïc tình hình thì trong töông lai hoï phaûi noã löïc hôn nöõa , traùch nhieäm cuûa hoï khaù lôùn. Tuy noùi thì raát deã vì ñaây chæ laø suy nghó phieán dieän cuûa em coøn treân phöông dieân cuûa nhaø kinh doanh baûo hieåm coù leõ coøn nhieàu caùi ñaùng quan taâm ñaùng luö yù hôn nöõa maø em khoâng taøi naøo coù theå töôûng töôïng vaø hình dung ñöôïc vì ñôn giaûn em chæ laø moät sinh vieân khoa ngaân haøng tieáp caän veà thò tröôøng baûo hieåm khoâng laâu vaø coøn khaù ít tö lieäu.
Tuy vaäy em vaãn coù theå töôûng töôïng ra raèng trong moät töông lai khoâng xa baûo hieåm cuûa chuùng ta seõ vöõng maïnh hôn nöõa, giaûi quyeát ñöôïc nhöõng vaán deà toàn ñoïng, nhöõng khoù khaên thöû thaùch tröôùc maét vöôn tôùi moät töông lai roâng môû, phaùt trieån vöõng maïnh. Tuy nhieân ñeå laøm ñöôïc ñieàu ñoù thì coù leõ baûo hieåm Vieät Nam caàn coù moät böôùc chuyeån bieán khaù laø vaát vaû ñeå coù theå trôû thaønh choã ñaùng tin caäy trong nhaân daân, vaø vöôn kòp vôùi toác ñoä phaùt trieån baûo hieåm cuûa caùc nöôùc trong khu vöïc cuõng nhö caùc nöôùc treân theá giôùi.
Thieát nghó raèng caøng ngaøy ôû Vieät Nam caùc coâng ty baûo hieåm lieân doanh , coå phaàn, 100% lieân doanh nöôùc ngoaøi ngaøy caøng moïc theâm ra, vaø ñaëc bieät laø saûn sinh ra nhieàu loaïi hình baûo hieåm môùi ñöôïc ñöa ra phuïc vuï ngaøy caøng toát hôn cho moãi ngöôøi daân söû duïng dòch vuï baûo hieåm.

Traàn Thò Hoàng Haïnh
NH2, K27
Lên đầu trang
Page: of 2 Quay lại Đề Tài Tiếp tục  
Tiếp Tục
 Đề tài mới  Đề tài bị khóa
 In đề tài
INSURANCE INFORMATION CENTER 2004- SIC Copyright Go To Top Of Page
Thời gian thực hiện 1.62 giây.